Đề cương ôn tập Lịch sử 12 - Chủ đề 3: Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc trong lịch sử Việt Nam (8/1945 - Nay)

pdf 49 trang An Diệp 29/05/2026 340
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập Lịch sử 12 - Chủ đề 3: Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc trong lịch sử Việt Nam (8/1945 - Nay)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_lich_su_12_chu_de_3_cach_mang_thang_tam_nam.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập Lịch sử 12 - Chủ đề 3: Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc trong lịch sử Việt Nam (8/1945 - Nay)

  1. CHỦ ĐỀ 3: CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945, CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM (8/1945 – NAY) A. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM Câu 1. Trình bày hoàn cảnh, diễn biến, kết quả và ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng 8 năm 1945? Hướng dẫn trả lời a) Điều kiện bùng nổ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 * Điều kiện chủ quan: - Đảng đã có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng: Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5 – 1941) đã chuẩn bị về chủ trương khởi nghĩa vũ trang. Đảng đã giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc riêng, đồng thời để ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang. Nhờ có đường lối đúng đắn đó nên các lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. - Lực lượng cách mạng, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang được chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, được rèn luyện qua nhiều cao trào cách mạng những năm 1930-1931, 1936-1939 và nhất là cuộc tập dượt vĩ đại trong cao trào kháng Nhật cứu nước (từ ngày 9- 3 đến giữa tháng 8-1945). - Ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ban bố “Quân lệnh số 1”, phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Từ ngày 14 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa và quyết định chính sách đối ngoại, đối nội sau khi giành được chính quyền. Từ ngày 16 đến ngày 17-8-1945, Đại hội Quốc dân được triệu tập ở Tân Trào; tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. - Quần chúng nhân dân mâu thuẫn sâu sắc với phát xít Nhật và tay sai, đã sẵn sàng đứng lên giành chính quyền khi có lệnh khởi nghĩa. - Tầng lớp trung gian, khi Nhật đảo chính Pháp (3/1945) mới chỉ hoang mang, dao động, nhưng đến khi Nhật sắp đầu hàng Đông minh (8/1945), họ đã thấy rõ bản chất xâm lược của Nhật, chán ngán những chính sách của Nhật, nên đã ngả hẳn về phía cách mạng. - Đến tháng 8 – 1945, toàn Đảng, toàn dân đã sẵn sàng, chủ động, kiến quyết hi sinh phấn đấu giành độc lập tự do. Những điều kiện chủ quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa đã được chuẩn bị đầy đủ. * Điều kiện khách quan - Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Chỉ trong một tuần, Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. Ngày 6/8 và 9/8/1945, Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống các thành phố Hirôsima và Nagaxaki của Nhật Bản, giết hại hàng vạn người dân Nhật. Ngày 9 – 8 – 1945, Hội đồng tối cao chiến tranh của Nhật họp bàn về các điều kiện đầu hàng theo Tuyên bố Pốtxđam.
  2. - Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Thời cơ cách mạng xuất hiện. - Tuy nhiên, một nguy cơ mới đang đến. Quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Đế quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương. Những thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách thay thầy đổi chủ. Chính vì thế, vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh mà nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ. - Thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân Nhật (cuối tháng 8, đầu tháng đầu tháng 9/ 1945), đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến. b) Diễn biến - Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. 23 giờ cùng ngày, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. - Từ ngày 14 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa. - Từngày 16 đến 17/8/1945, Đại hội quốc dân ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt minh, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. - Chiều 16/8/1945, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, một đơn vị của Đội Việt Nam Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến về thị xã Thái Nguyên. - Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân cả nước nhất tề nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Ngày 18/8/1945, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền ở tỉnh lỵ sớm nhất trong cả nước. - Tại Hà Nội, ngày 19/8/1945, cuộc mít tinh của hàng vạn quần chúng biến thành cuộc biểu tình tuần hành, quần chúng chia thành nhiều đoàn, chiếm cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn như : Phủ Khâm sai, trại Bảo an binh, Tòa Thị chính. Tối 19/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi. Thắng lợi ở Thủ đô Hà Nội cổ vũ các tỉnh và thành phố khác, làm tăng thêm cuộc khủng hoảng trong hàng ngũ kẻ thù, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tổng khởi nghĩa. - Ngày 23/8, Đảng bộ và Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên – Huế huy động hàng vạn nhân dân biểu tình thị uy, chiếm công sở. Bộ máy chính quyền của địch hoàn toàn tê liệt. Chính quyền về tay nhân dân. - Ở Sài Gòn, hơn 1 triệu quần chúng nhân dân biểu tình, tuần hành thị uy vào sáng 25/8/1945. Cuộc khởi nghĩa mau chóng giành thắng lợi. Thắng lợi ở Sài Gòn có ý nghĩa quyết định đến cuộc khởi nghĩa của các tỉnh còn lại ở miền Nam. - Thị xã Hà Tiên và Đồng Nai Thượng là những địa phương giành thắng lợi muộn nhất vào 28/8/1945 - Chiều 30/8 vua Bảo Địa thoái vị, triều đình phong kiến nhà Nguyễn hoàn toàn sup đổ. c) Nguyên nhân thắng lợi - Nguyên nhân khách quan: + Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu. Cuộc chiến đấu của nhân dân Liên Xô và lực lượng dân chủ đã từng bước làm thất bại lực lượng phát xít, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa đứng lên giải phóng.
  3. + Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống các thành phố Hirôsima và Nagaxaki của Nhật Bản, giết hại hàng vạn người dân vô tội. Ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Đó là thời cơ “ngàn năm có một” cho nhân dân Việt Nam đứng lên Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng, ít đổ máu. - Nguyên nhân chủ quan: + Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do. Vì vậy, khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh phất cao cờ cứu nước thì toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà. + Có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo. Đảng đã có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, đặc biệt là lãnh đạo chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945. Các cấp bộ Đảng và Việt Minh từ Trung ương đến địa phương linh hoạt, sáng tạo chỉ đạo khởi nghĩa, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền. + Sự chủ động linh hoạt của các cấp bộ Đảng và Mặt trận Việt Minh trong quá trình chỉ đạo, tổ chức khởi nghĩa. + Quá trình chuẩn bị và xây dựng lực lượng cho cách mạng giải phóng dân tộc trong suốt 15 năm (từ năm 1930), gắn liền với những bài học kinh nghiệm quý báo. d) Ý nghĩa lịch sử - Đối với Việt Nam: + Mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, phá tan xiềng xích nô lệ của Pháp hơn 80 năm và phát xít Nhật gần 5 năm, chấm dứt chế độ phong kiến, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. + Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do, kỷ nguyên nhân dân nắm chính quyền, làm chủ đất nước, kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng nhân dân lao động. + Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật, trở thành một Đảng cầm quyền và hoạt động công khai, từ hoạt động bất hợp pháp, trở thành đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước. - Đối với thế giới: + Thắng lợi Cách mạng tháng Tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới một dân tộc nhỏ yếu tự giải phóng khỏi ách thực dân đế quốc và là thắng lợi đầu tiên của Đảng vô sản ở nước thuộc địa, giành được chính quyền cách mang trong cả nước. Do đó, Cách mạng tháng Tám góp phần cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh tự giải phóng; có ảnh hưởng trực tiếp đến cách Lào và Campuchia. mang + Góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát-xít; chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm suy yếu chúng, tạo điều kiện để các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng. e) Bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945
  4. - Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, nắm bắt diễn biến tình hình thế giới và cách mạng trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp; giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. + Dưới thời thuộc địa, xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản (màu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp), trong đó mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn lớn nhất. Vì vậy, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. + Giai cấp nông dân Việt Nam chiếm hơn 90% dân số, là lực lượng chủ lực của cách mạng. Giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng nông dân. Yêu cầu được độc lập, thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp là yêu cầu hàng đầu của nông dân. Yêu cầu ruộng đất cho nông dân chỉ là thứ yếu so với yêu cầu độc lập. + Xuất phát từ đặc điểm trên, trong giai đoạn vận động Cách mạng tháng Tám (1939-1945), Đảng đã thay đổi chủ trương chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”. Nhờ đó đã phân hóa hàng ngũ kẻ thù và huy động được sức mạnh của cả dân tộc, làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám. - Đảng tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dần tộc thống nhất rộng rãi– Mặt trận Việt Minh - tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng. + Dưới ách thống trị của Pháp – Nhật, mọi tầng lớp nhân dân (trừ bọn tay sai cho đế quốc) đều chung số phận mất nước và đều có mâu thuẫn với đế quốc và tay sai nên đều có thể tham gia cách mạng giải phóng dân tộc. + Để tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh cách mạng, Đảng đã lãnh đạo xây dựng Mặt trận Việt minh với các tổ chức quần chúng mang tên “cứu quốc”. Nhờ đó, Đảng đã tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng. - Trong chỉ đạo khởi nghĩa, Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị tiến tới Tổng khởi nghĩa. + Bạo lực cách mạng là công cụ dùng để đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nên bạo lực cách mạng cũng là bạo lực của quần chúng. Từ nhận thức trên, Đảng chỉ đạo xây dựng chỗ dựa của bạo lực bao gồm cả dân tộc, được tổ chức thành hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. + Bằng sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Đảng ta đã tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng. + Nhận thức đúng vai trò của nông thôn và thành thị, Đảng coi trọng nông thôn là trận địa vững chắc, dựa vào nông thôn để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, tiếp tục xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó là điều kiện để phát động toàn dân nổi dậy ở cả nông thôn và thành thị, trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi của tổng khởi nghĩa. - Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng để vững mạnh về tổ chức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công. + Trong 15 năm lãnh đạo cách mạng (từ năm 1930), Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng. Qua đó, Đảng đã rèn luyện được đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng ngày càng phát triển và trưởng thành.
  5. + Nhờ quan hệ gắn bó với nhân dân, từng bước đấu tranh cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, Đảng đã vững mạnh về tổ chức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công. f) Vận dụng để giải quyết vấn đề biển đảo hiện nay (Học sinh có thể căn cứ vào tình hình thực tiễn, vận dụng các bài học của Cách mạng tháng Tám để giải quyết vấn đề. Yêu cầu lập luận chặt chẽ, mạch lạc và rõ rang.). Dưới đây là một gợi ý: Từ năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và sau đó chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ngày 1/5/2014, Trung Quốc cho giàn khoan HD- 981 và các tàu bảo vệ hoạt động hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hoạt động của giàn khoan và các tàu bảo vệ của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC). Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý, chứng cử lịch sử để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa; quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình ở biển Đông. - Vận dụng bài học: + Tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hoá và cô lập cao độ kẻ thù rồi tiến lên đánh bại chúng. - Căn cứ vào các nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc; các nguyên tắc trong Hiệp ước Baly (1976): Tôn trọng quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước. - Căn cứ vào Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc (quy định chủ quyền về vùng Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp Lãnh hải, Vùng đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa của một quốc gia); - Căn cứ vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) (được ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4/11/2002 tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 ở Phnom - Penh (Campuchia). + Kiên trì đấu tranh ngoại giao, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Trên cơ sở Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC), Việt Nam đoàn kết với các nước trong khu vực Đông Nam Á và quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, làm sáng tỏ tính chính nghĩa của nhân dân ta, vạch trần hành động vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc, qua đó cô lập và làm thất bại hành động của chúng. - Các nước Đông Nam Á dựa vào các nguyên tắc có tính chất pháp lý nói trên để đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Kiên trì đấu tranh ngoại giao và pháp lí, lên án mạnh mẽ mọi hành động xâm phạm chủ quyền, đặc biệt là chủ quyền biển đảo, qua đó đấu tranh đòi được tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước, phù hợp pháp lí quốc tế. - Việt Nam đoàn kết với các quốc gia Đông Nam Á, cùng các nước trong khu vực Đông Nam Á thể hiện trách nhiệm chung để bảo đảm hòa bình và an ninh ở biển Đông. Phát biểu tại lễ bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 9 (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Câu 2. Bằng những sự kiện lịch sử chọn lọc, hãy làm sáng tỏ vai trò của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam. Hướng dẫn trả lời
  6. * Xác định đường lối giải phóng dân tộc và chủ trương khởi nghĩa vũ trang - Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc. Người đã xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc và truyền bá về Việt Nam. Những tư tưởng này là ngọn cờ hướng đạo cho phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kì vận động thành lập Đảng, là ánh sáng soi đường cho lớp thanh niên yêu nước Việt Nam đang đi tìm chân lý đầu thế kỉ XX. Là sự chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản ở Việt Nam. - Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, xác định đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn. Cương lĩnh nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. - Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã xác định đường lối và phương pháp cách mạng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hội nghị dương cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong điều kiện mỗi nước Đông Dương. Nhờ sự chỉ đạo đó, toàn Đảng toàn dân đã tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. * Sáng lập Mặt trận Việt minh, chuẩn bị lực lượng chính trị - Người rất quan tâm đến lực lượng chính trị, đã chủ trương thành lập Mặt trận Việt minh (19-5-1941). Việt minh là khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, các đảng phái chính trị và các tôn giáo yêu nước, có tác dụng cô lập cao độ kẻ thù đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng. - Sự phát triển của Mặt trận Việt minh không chỉ tập hợp được đông đảo quần chúng tham gia cứu nước mà còn góp phần xây dựng tổ chức, giác ngộ và chuẩn bị lực lượng chính trị cho cách mạng. Mặt trận Việt minh là một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. * Chuẩn bị lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng - Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đào tạo cán bộ quân sự, nghiên cứu lý luận quân sự, đặt nền móng cho sự ra đời lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Từ năm 1925 đến năm 1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc) người mở các lớp đào tạo cán bộ quân sự, chính trị cho cách mạng Việt Nam. Một số cán bộ được Nguyễn Ái Quốc cử đi học tại các trường quân sự của Trung Quốc và Liên Xô nhằm chuẩn bị lực lượng vũ trang cho cách mạng. - Những năm 1941-1944, Người viết Kinh nghiệm du kích tàu, Kinh nghiệm du kích Nga. Đặc biệt, Người biên soạn nhiều tài liệu huấn luyện cán bộ quân sự, tiêu biểu là Chiến thuật du kích. - Trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh ở Cao Bằng, các đội tự vệ cứu quốc ra đời. Cuối năm 1941, Người chỉ thị thành lập một đội vũ trang gồm 12 chiến sĩ, làm các nhiệm vụ: bảo vệ cơ quan đầu não, giao thông liên lạc và huấn luyện tự vệ cứu quốc. - Cuối năm 1944, Người ra Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động và phương châm tác chiến của lực lượng vũ trang. Đó là Cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng. Chấp hành chỉ thị này, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Tuyên Quang), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến sĩ, do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. - Thực hiện tư tưởng vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân của Hồ Chí Minh, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân (5- 1945); đồng thời lực lượng bán vũ trang gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu được xây dựng ngày
  7. càng rộng khắp. Cả hai lực lượng chính trị và vũ trang đều là chỗ dựa của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. - Đầu năm 1941, khi mới về nước Người chọn Cao Bằng làm nơi đứng chân đầu tiên. Trong thời kỳ kháng Nhật cứu nước, khi vùng giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng, bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc và củng cố thành căn cứ địa cách mạng cho cả nước. - Tháng 5-1945, Người cùng Trung ương Đảng chuyển về Tân Trào (Tuyên Quang), sử dụng Tân Trào thành nơi chỉ đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc. * Xác định đúng thời cơ, kiên quyết phát động tổng khởi nghĩa - Cùng với Trung ương Đảng, Người đã dự đoán chính xác thời cơ và kịp thời phát động tổng khởi nghĩa. Ngay từ đầu tháng 8-1945, nhận được những thông tin về chiến thắng của quân đội Đồng minh đối với phát xít Nhật, Người đã cảm nhận thời cơ thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền toàn quốc đã tới, nên đã khẳng định: “Lúc này thời cơ đã tới, dù có hi sinh, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết tâm giành cho được độc lập”. Sự chỉ đạo của Người đã giúp cho Trung ương Đảng có chủ trương kịp thời và phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền cả nước trước khi quân đội Đồng minh kéo vào nước ta. - Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đông minh không điều kiện (15/8), hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ. “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi”. “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Ngày 16-8-1945 Hồ Chí Minh kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta ... Chúng ta không thể chậm trễ". - Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam nhất tề nổi dậy giành chính quyền trong tháng 8/1945. Cách mạng Việt Nam tiến đến bước nhảy vọt vĩ đại, nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần trong cao trào kháng Nhật cứu nước lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. - Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, cách mạng tháng Tám 1945 đã giành được thắng lợi “nhanh, gọn, đổ máu”. Đó là một điển hình thành công về nghệ thuật tạo thời cơ, dự đoán thời cơ, nhận định chính xác thời cơ, đồng thời kiên quyết chớp thời cơ phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. * Sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Quốc dân đại hội họp tại Tân trào (16 và 17-8-1945) đã cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. - Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Ngày 2-9-1945, lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình. Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Câu 3. Vì sao nói: Thời cơ trong Cách mạng tháng Tám là cơ hội “ngàn năm có một” để nhân dân Việt Nam giành chính quyền thắng lợi? Hướng dẫn trả lời - Ngày 15-8-1945, Nhật kí giấy đầu hàng Đồng minh không điều kiện, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Ở Đông Dương, phát xít Nhật và tay sai hoang mang, chia rẽ đến cực điểm. Quân đội Nhật ở Đông Dương
  8. và chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim mất hết tinh thần, không còn khả năng thống trị được nữa. Điều kiện khách quan thuận lợi cho tổng khởi nghĩa đã đến. - Giữa lúc quân Nhật ở Đông Dương hoàn toàn tê liệt, bọn tay sai hoang mang, rệu rã thì cả một tập đoàn đế quốc: Mĩ, Anh, Pháp, Tưởng Giới Thạch dưới danh nghĩa quân Đồng minh đang ráo riết tiến vào Đông Dương. Với bản chất đế quốc, họ có thể dựng ra một chính quyền tay sai trái với ý chí và nguyện vọng của dân tộc Việt Nam. Đế quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương. Các thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách thay thầy đổi chủ. - Cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế một mình phải đối phó với nhiều lực lượng quân sự được pháp lí quốc tế thừa nhận. Vận mệnh đân tộc đòi hỏi Đảng ta phải hành động kịp thời, khôn khéo và kiên quyết, phải huy động cao độ trí tuệ và sức mạnh của toàn dân, giành thắng lợi trong cuộc chạy đua lịch sử giữa nhân dân ta với các tập đoàn đế quốc phản động. - Trước thời cơ thuận lợi hiếm hoi và ngắn ngủi, nguy cơ lớn đang đến gần, Đảng ta phải hoàn thành sứ mệnh cả dân tộc giao phó là tổ chức lãnh đạo toàn dân vùng dậy giành chính quyền từ tay Phát xít Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai, đứng ở địa vị người chủ nước nhà mà đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật. Nếu hành động chậm trễ khi quân Đồng Minh đã vào thì thời cơ sẽ không còn nữa. - Như vậy, thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân Nhật (cuối tháng 8, đầu tháng 9/ 1945), đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến. Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám dưới sự lãnh đạo của Đảng đã diễn ra đúng trong khoảng thời gian đó và đã giành thắng lợi. Câu 4. Việc đánh giá và chớp thời cơ của Đảng trong Cách mạng tháng Tám năm 1945? Hướng dẫn trả lời - Tầm quan trọng của thời cơ cách mạng: + Cách mạng muốn thắng lợi, cần thiết phải nổ ra đúng thời cơ. Thời cơ không tồn tại vĩnh viễn, mà nó xuất hiện nhanh và cũng mất đi rất nhanh. Nếu bỏ lỡ thời cơ thì cách mạng sẽ thất bại. + Để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ. Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, Đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng (5/1941) khẳng định “luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù”. + Vận dụng luận điểm của Lênin về tình thế cách mạng Hồ Chí Minh nêu b, điều kiện của thời cơ khởi nghĩa: một là, chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bòi rồi đến cao độ.; hai là, quần chúng nhân dân đã căm thù thực dân đế quốc đến cao độ; ba là, đã có một chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức, lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa. - Đảng và Hồ Chí Minh luôn dự đoán thời cơ, đánh giá chính xác xu thế phát triển của thời cuộc. + Đầu năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và lên nắm quyền thống trị, đưa đến cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Dương. Việc Nhật đảo chính Pháp, kẻ thù của cách mạng vẫn còn đủ mạnh, thời cơ chưa chín muồi vì vậy trong chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. + Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Chỉ trong một tuần, Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. Ngày 6/8 và 9/8/1945, Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống các thành phố Hirôsima và Nagaxaki của Nhật Bản, giết hại hàng vạn người dân Nhật ngày 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ Trần
  9. Trọng Kim hoang mang, lo sợ đến cực điểm. Điều kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Thời cơ cách mạng xuất hiện. + Tuy nhiên thời cơ này không tồn tại vĩnh viễn. Một nguy cơ mới đang đến gần do quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa Đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương làm nhiệm vụ giải giáp phát xít Nhật. Với bản chất đế quốc, họ có thể dựng ra một chính quyền tay sai trái với ý chí và nguyện vọng của dân tộc Việt Nam. Đế quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương. Các thế lực phản động trong nước cũng đang tìm cách thay thầy đổi chủ. Vì thế vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chay đua nước rút với quân Đồng minh mà nhân dân Việt Nam không thể chậm trễ. + Thời cơ “ngàn năm có một” chỉ tồn tại trong thời gian từ sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng đồng minh (15-8-1945) đến trước khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân Nhật (đầu tháng 9/ 1945), đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến. - Đảng kịp thời phát động khởi nghĩa: + Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt minh thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc. 23 giờ cùng ngày, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. + Từngày 14 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa. + Tiếp đó, từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội quốc dân ở Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt minh, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. + Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 14 đến ngày 28-8-1945, nhân dân cả nước nhất tề nổi dậy giành chính quyền thắng lợi. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, Đảng ta kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh (Anh – Pháp – Trung Hoa Dân quốc) vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, khiến Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và ít đổ máu. Câu 10. Nêu hoàn cảnh lịch sử, diễn biến và ý nghĩa của khởi nghĩa từng phần từ tháng 3 đến giữa tháng 8 năm 1945 ? Hướng dẫn trả lời a. Hoàn cảnh lịch sử - Đầu năm 1945 chiến tranh thế giới hai bước vào giai đoạn kết thúc Hông quân Liên Xô giải phóng các nước Đông Âu và tiến vào Đức, quân Anh - Mỹ giải phóng nước Pháp rồi tiếp tục tiến công vào Đức từ phía tây, ở mặt trận Châu Á - Thái Bình Dương quân đồng minh phản công giáng cho phát xít Nhật những đoàn nặng nề. sau khi Mỹ chiếm lại Philippines đường biển của Nhật đi xuống các căn cứ ở phía Nam bị cắt đứt chỉ còn đường bộ duy nhất ở Đông Dương vì thế Nhật cần độc chiếm Đông Dương bằng mọi giá - Để trừ hậu hoạ bị đánh sau lưng và giữ Đông Dương làm cầu nối đi từ Trung Quốc xuống các căn cứ phía Nam, ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính lật đồ Pháp, độc chiếm Đông Dương. Sự kiện đó tạo nên một cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Dương. - Sau khi đảo chính thành công, Nhật thi hành một loạt biện pháp nhằm củng cố quyền thống trị của chúng ở Đông Dương. - Ngày 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Từ Sơn (Bắc Ninh) để đánh giá tình hình và đề ra chủ trương mới. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, xác định phát xít Nhật là kẻ thù chính; thay khẩu hiệu “Đánh đuổi Pháp – Nhật”
  10. bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”; chủ trương “phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”, đồng thời sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa khi có đủ điều kiện. b. Diễn biến - Ở vùng rừng núi và trung du Bắc Kì, chiến tranh du kích phát triển mạnh. Tại Cao-Bắc- Lạng, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân phối hợp với lực lượng chính trị giải phóng hàng loạt châu, huyện, xã. - Ở Bắc Kì, Trung Kì, trước thực tế nạn đói diễn ra trầm trọng do chính sách cướp bóc của Pháp – Nhật, Đảng đề ra khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”. Phong trào phá kho thóc của Nhật thu hút hàng triệu người tham gia. Có nơi quần chúng đã giành được chính quyền. - Làn sóng khởi nghĩa từng phần dâng lên ở nhiều nơi. Việt Minh lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở Tiên Du (Bắc Ninh), Bần Yên Nhân (Hưng Yên) (11/3/1945) - Ở các thành phố, nhất là Hà Nội, Huế, Sài Gòn, hoạt động vũ trang truyền truyền, diệt ác trừ gian được đẩy mạnh, tạo điều kiện phát triển các đoàn thể cứu quốc và xây dựng lực lượng tự vệ cứu quốc. - Ở Quảng Ngãi, tù chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa (3-1945), thành lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ và xây dựng căn cứ Ba Tơ. - Tù chính trị trong các nhà tù đế quốc đã đấu tranh đòi tự do hoặc nổi dậy phá trại giam, vượt ngục ra ngoài hoạt động. - Ở Nam Kì, phong trào Việt Minh hoạt động mạnh nhất ở Mĩ Tho và Hậu Giang. - Báo chí cách mạng đều ra công khai và gây ảnh hưởng chính trị vang dội. c. Ý nghĩa - Thực chất của Cao trào kháng Nhật cứu nước là một thời kì khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ, giành chính quyền bộ phận ở nhiều vùng nông thôn. Cao trào kháng Nhật cứu nước thể hiện tinh thần nỗ lực đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam; đồng thời góp sức cùng Đồng minh tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. - Làm cho kẻ thù ngày càng suy yếu, thúc đẩy thời cơ tổng khởi nghĩa mau đến. - Qua cao trào kháng Nhật, lực lượng cách mạng được tăng cường, trận địa cách mạng được mở rộng, giúp cho quần chúng ở tư thế sẵn sàng tiến lên tổng khởi nghĩa, tạo ra đầy đủ những điều kiện chủ quan cho một cuộc tổng khởi nghĩa. - Là một cuộc tập dượt vĩ đại, làm cho toàn đảng, toàn dân sẵn sàng, chủ động tiến lên chớp thời cơ tổng khởi nghĩa. Cao trào kháng Nhật cứu nước chính là quá trình đẩy nhanh sự tích lũy về lượng để dẫn tới bước nhảy vọt về chất khi thời cơ đến. Câu 11. Vì sao trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đảng đã phát động toàn dân nổi dậy khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị? Sự kết hợp khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị trong Cách mạng tháng Tám đã diễn ra như thế nào? Hướng dẫn trả lời - Nếu như cuộc Cách mạng tháng Mười Nga (1917) bùng nổ ở các trung tâm đô thị rồi tỏa về vùng nông thôn, cách mạng Trung Quốc từ nông thôn tiến vào thành thị, lấy nông thôn bao vây thành thị, thì Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam lại diễn ra với sự kết hợp hài hòa giữa nông thôn và thành thị. - Vai trò, vị trí của nông thôn và thành thị:
  11. + Nông thôn Việt Nam, nhất là nông thôn rừng núi, là nơi có địa hình thuận lợi cho việc tổ chức và che giấu lực lượng; là nơi tập trung đông đảo quần chúng nông dân đã được tổ chức và giác ngộ theo phương hướng cách mạng của Đảng; lại là nơi địch có nhiều sơ hở hơn so với ở thành thị. + Thành thị là nơi hiểm yếu vì có sự tập trung cao các cơ quan đầu não của địch; là nơi tập trung đông đảo giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác đã được giác ngộ theo đường lối cách mạng của Đảng. Thành thị còn là nơi tập trung thông tin, giúp cho việc nắm bắt tình hình và đề ra chủ trương kịp thời, chính xác. - Nhận rõ vai trò, vị trí của nông thôn và thành thị, Đảng ta đã xây dựng lực lượng cách mạng trên cả hai địa bàn này ở mức độ khác nhau. + Nông thôn được xem là trận địa vững chắc, là chỗ dựa để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng. Hầu hết các căn cứ cách mạng của Đảng đều được xây dựng ở vùng nông thôn và rừng núi như căn cứ Việt Bắc, căn cứ Đông Triều, căn cứ Hoà – Ninh – Thanh và các căn cứ du kích trên toàn quốc. Mặt khác, nông dân nước ta chiếm 90% dân số, nên lực lượng cách mạng của Đảng (lực lượng chính trị, vũ trang) chủ yếu là nông dân ở nông thôn. + Tuy nhiên, trong khi hết sức coi trọng địa bàn nông thôn, Đảng không xem nhẹ vai trò thành thị mà vẫn coi đó là địa bàn xung yếu, ra sức xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị, nhất là các đoàn thể cứu quốc trong công nhân, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ.. Năm 1943, Đảng đưa ra bản Đề cương văn hóa Việt Nam, xác định nhiệm vụ cho bộ phận văn nghệ sĩ nhằm phục vụ cho sự nghiệp cứu nước. Cuối năm 1944, Hội văn hóa Cứu quốc Việt Nam ra đời, thu hút trí thức đấu tranh vì một nền văn hóa mới, chống Pháp – Nhật, giành độc lập dân tộc. - Đảng lãnh đạo nhân dân cả nông thôn và thành thị khởi nghĩa giành chính quyền. + Trong cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào cách mạng diễn ra ở cả nông thôn và thành thị. Trong khi căn cứ địa Việt Bắc ra đời (6/1945), các chiến khu cách mạng được xây dựng và mở rộng. Hoạt động vũ trang tuyên truyền diệt ác trừ gian được đẩy mạnh ở cả nông thôn và thành thị, tạo điều kiện phát triển tổ chức cứu quốc và xây dựng lực lượng tự vệ cứu quốc. Nhiều an toàn khu (ATK) ở ven đô thị được xây dựng, tạo nơi đứng chân cho các cấp lãnh đạo để đẩy mạnh hoạt động trong các đô thị. + Tháng 8 - 1945, khi thời cơ cách mạng xuất hiện, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào chủ trương phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền và chỉ rõ phải chiếm ngay những căn cứ chính không kể thành phố hay vùng quê. Từ ngày 14-8 đến ngày 28-8-1945, Đảng và Mặt trận Việt minh đã tổ chức cho nhân dân cả nước, từ thành thị đến nông thôn tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Do sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, có chủ trương phát động tổng khởi nghĩa, không phân biệt thành thị, nông thôn, bão táp cách mạng đã dồn dập nổi lên ở cả nông thôn và thành thị, trong đó những cuộc khởi nghĩa ở thành thị, nhất là những thành thị lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, nhằm vào các cơ quan đầu não của kẻ thù, có tác dụng quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa. - Bài học rút ra từ Cách mạng tháng Tám là: Đảng coi trọng nông thôn là trận địa vững chắc, dựa vào nông thôn để phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng; đồng thời coi thành thị là địa bàn xung yếu, tiếp tục xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Đó là điều kiện để phát động toàn dân nổi dậy ở cả nông thôn và thành thị, trong đó những cuộc nổi dậy ở thành thị nhằm vào cơ quan đầu não của kẻ thù có tác động quyết định thắng lợi của tổng khởi nghĩa. Câu 12. Hồ Chí Minh viết: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính
  12. mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Hãy phát biểu ý kiến về những khẳng định của Hồ Chí Minh trong trích đoạn trên. Hướng dẫn trả lời - Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc “Tuyên ngôn Độc lập”, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và cả thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy,,. * Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập: - Quyền độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm mà mọi dân tộc phải được hưởng trong đó có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. - Quyền bình đẳng và quyền độc lập của mỗi quốc gia là những quyền tự nhiên mang tính bản năng của con người. Loài người từ khi sinh ra đã có những quyền tự nhiên theo nghĩa những “quyền trời cho”, những quyền của tạo hoá sinh ra, gắn với sự xuất hiện của con người. Những quyền đó là vốn có, chứ không phải là được thừa nhận và thụ hưởng do bất cứ một sự ban phát nào. Những quyền đó được nhân loại nhận thức ngày càng sâu sắc như một giá trị phổ quát, được khẳng định về mặt pháp lý trong các bản Tuyên ngôn độc lập (Hoa Kỳ) (1776), Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền (Pháp) (1791), Tuyên Ngôn Độc Lập (Việt Nam) (1945) và Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (Liên hợp quốc) (1948). Điểm chung của các bản tuyên ngôn đó là: “... Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng... tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. - Ở Hội nghị Vec xai 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới các cường quốc bản yêu sách đòi quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Người cho rằng đó là quyền vốn có của dân tộc nhưng bị các nước đế quốc thực dân tước đoạt cần phải đòi chúng trả lại, chứ không phải là cầu xin. - Trong phần đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới, những khẳng định về quyền con người (nhân quyền) là những quyền khi thượng để sinh ra đã có. Nhưng người không dừng lại ở đó mà đã khái quát và nâng cao thành quyền dân tộc, suy rộng ra điều đó có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dàn tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do. Như vậy quyền sống, quyền tự do là quyền bất khả xâm phạm. Độc lập là khát vọng của dân tộc Việt Nam, là khẩu hiệu chiến đấu của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Một cuộc đấu tranh chính đáng và chính nghĩa, mà dân tộc Việt Nam đã chiến đấu anh dũng trong 34 thế kỉ và kết quả đã giành lại được. * Việt Nam đã trở thành một nước tự do và độc lập. - Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập ngày 2/9/1945 là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài anh dũng của cả dân tộc kể từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. - Nhân dân Việt Nam đã đấu tranh anh dũng chống Pháp gần 34 thế kỉ, chống phát xít Nhật gần 5 năm và làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945. Hồ Chí Minh nói: “Pháp chạy, Nhật hàng vua Bảo đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà” - Hồ Chí Minh khẳng định dân tộc Việt Nam đã anh dũng đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mấy mươi năm, đứng về phe đồng minh chống phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai chính là vì quyền tự do đó. Người khẳng định đanh thép rằng, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập.
  13. - Sự ra đời của nước Việt Nam tự do độc lập là một thực thể chính trị không thể phủ nhận, tồn tại phù hợp với luật pháp quốc tế cần phải được thừa nhận, được tôn trọng. Nhằm đảm bảo quyền tự do độc lập của nước Việt Nam. Hồ Chí Minh kêu gọi các nước Đồng minh và các nước khác trên thế giới hãy công nhận nền độc lập tự do của nước Việt Nam. * Khẳng định “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. - Đây là ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam quyết giữ nền độc lập tự do vừa giành được - Ý chí đó được thể hiện ngay khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Cả dân tộc đã anh dũng đứng lên với tinh thần nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Nó càng được biểu hiện cao hơn trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Mĩ với khẩu hiệu không có gì quý hơn độc lập tự do. - Ý chí đó là khẩu hiệu chiến đấu và chiến thắng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân trước dây, đồng thời cũng vẫn là khẩu hiệu hành động của cả dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay nhất là bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. B. KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945-1954) Câu 1. Trình bày bối cảnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)? Hướng dẫn trả lời Chiến tranh thể giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ. Trật tự thế giới hai cực l-an-ta và Chiến tranh lạnh tác động mạnh đến tình hình Việt Nam. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Chính phủ Pháp đã cử Đác-giăng-li-ơ làm Cao uỷ và thành lập một đội quân viễn chinh do tướng Lơ cơ-lec chỉ huy nhằm chiếm lại Đông Dương. Ngày 23/9/1946, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp cho quân đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược trở lại nước ta lần thứ hai. Ngày 5/10/1945, lực lượng quân viễn chinh Pháp đến Sài Gòn. Với lực lượng được tăng cường, lại có sự hỗ trợ của quân Anh và Nhật, quân Pháp phá vòng vảy Sài Gòn, mở rộng đánh chiếm Nam Bộ. Với ý chỉ thực dân, cả trong tư duy và hành động, thực dân Pháp đã bộc lộ rõ dã tâm xâm lược Việt Nam. Phân tích âm mưu của các đế quốc đối với Đông Dương, Trung ương Đảng nêu rõ "kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng". Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời thực sự đã trở thành nước tự do và độc lập; toàn thể dân tộc Việt Nam “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải quyền tự do và độc lập ấy”. Chính quyền cách mạng non trẻ vừa ra đời bị các thế lực thực dân, đế quốc câu kết với nhau ra sức chống phá, trong đó, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược hòng lập lại chế độ thuộc địa. Câu 2. Các thắng lợi quân sự của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) Cuộc chiến ở các Chiến Cuộc Nội Chiến dịch Chiến dịch Biên Chiến dịc Điện đô thị phía Bắc vĩ Đông Xuân dung Việt Bắc 1947 Giới 1950 Biên Phủ 1954 tuyến 16 1953-1954
  14. - Mĩ bắt đầu can thiệp sâu và “dính liếu trực - Mĩ tiếp tục can tiếp” vào chiến thiệp sâu, ép tranh Đông Pháp kéo dài và - Thu hút lực Dương. mở rộng chiến lượng của ta, tranh, tích cực - Mĩ, Pháp đề ra biến Điện Biên - Tiến công chuẩn bị thay kế hoạch Rơ ve. Phủ thành trung căn cứ địa Việt thế Pháp tâm của kế hoạch Âm - Đánh úp cơ quan Bắc để nhanh + Tăng cường - Thực hiện kế Nava. mưu đầu não của ta ở các chóng kết thúc phòng ngự trên hoạch NaVa, của đô thị để đánh chiến tranh. đường số 4, tập trung 44 tiểu - Xây dựng Điện Pháp nhanh thắng nhanh - Tháng 10- + Thiết lập đoàn cơ động Biên Phủ thành 1947 Pháp tấn “Hành lang mạnh ở Bắc Bộ. cứ điểm mạnh để công Việt Bắc. Đông – Tây”, quyết chiến chiến khoá chặt biên lược với ta. giới Việt – Trung. - Bộ chính trị họp thông qua + Chuẩn bị tấn kế hoạch quân công Việt Bắc lần sự Đông Xuân 2 để kết thúc 1953-1954. chiến tranh. - Tháng 6-1950 Đảng ta CHỦ ĐỘNG MỞ - Tập trung lực chiến dịch Biên lượng đánh vào - Bảo vệ và đưa cơ giới nhằm: những hướng quan đầu não lên - Mở chiến dịch quan trọng mà Việt Bắc, giam chân - Đảng có chỉ + Tiêu diệt một ĐBP nhằm tiêu địch tương đối Chủ Pháp trong thành thị “phá tan bộ quan trọng diệt sinh lực địch, yếu để tiêu diệt trương phố cuộc tấn công sinh lực địch. giải phóng vùng sinh lực địch, của ta mùa đông của Tây Bắc, tạo điều + Khai thông giải phóng đất Pháp”. kiện giải phóng biên giới Việt- đai, buộc chúng - Làm tiêu hao lực Bắc Lào. Trung, mở đường phải phân tán lượng Pháp liên lạc quốc tế. lực lượng. + Mở rộng và củng cố căn cứ Việt Bắc.
  15. - Đợt 1: ta tấn công Him Lam - Ở Hà Nội, nhân dân và toàn bộ phân làm chướng ngại vật - Ta tấn công 4 khu Bắc. - Ta giành cản Pháp hướng với 4 - Đợt 2: ta tấn chiến thắng -Mở màn ta đánh chiến dịch. công các cứ điểm tiêu biểu ở Đông Khê, + Chiến dịch phía đông phân Đèo Bông Lau đường số 4 bị cắt Diễn - Trung Đoàn thủ đô Tây Bắc khu trung tâm, (trên đường số đôi, Thất Khê bị biến được thành lập đánh + Chiến dịch trận chiến ác liệt 4), Đoan uy hiếp, Cao trận tiêu biểu ở Bác Trung Lào diễn ra ở các đồi Hùng, Khe Bằng bị cô lập. Bộ Phủ, Chợ Đồng + Chiến dịch A1, C1,D1, E1 Lau, Chợ Mới, Xuân, Nhà Bưu Thượng Lào - Đợt 3: ta tấn Điện, . Chợ Đồn + Chiến dịch công khu trung Tây Nguyên tâm và phân khu Nam. Chiều 7-5 ta bắt tướng Đờ Caxtơri, chiến dịch kết thúc. - Giải phóng biên - Cơ quan đầu não - Ta loại khỏi giới Việt–Trung - Buộc Pháp được rút lên căn cứ vòng chiến hàng - Cơ quan đầu (từ Cao Bằng đến phân tán lực Việt Bắc an toàn. ngàn tên địch, não của ta Đình Lập) lượng. phá hoại nhiều Kết được bảo toàn, - Chọc thủng phương tiện quả bộ dội chủ lực - Làm tiêu hao một “Hành lang Đông chiến tranh, giải của ta ngày - Kế hoạch phần sinh lực địch – Tây”à làm phá phóng nhiều càng trưởng NaVa cơ bản bị sản kế hoach Rơ vùng đất đai. thành. phá sản. ve của Pháp.
  16. - Đập tan hoàn toàn kế hoạch -Cuộc kháng - Đường liên lạc Nava, giáng một chiến toàn của ta với các đòn vào ý chí quốc của ta nước XHCN xâm lược của TD chuyển sang được khai thông Pháp. giai đoạn mới. - Bộ đội ta trưởng - Thắng lợi này - Làm xoay thành. đã chuẩn bị về vật chất, tinh chuyển cục diện Ý - Ta giành thế - Tạo điều kiện cho -Buộc Pháp thần cho ta mở chiến tranh ở nghĩa chủ động trên cả nước kháng chiến phải thay đổi cuộc tiến công Đông Dương. lâu dài. chiến lược từ chiến trường vào Điện Biên - Tạo điều kiện “đánh nhanh chính. Phủ. đấu tranh ngoại thắng nhanh” - Mở ra bước phát giao giành thắng sang “đánh lâu triển của cuộc lợi, buộc Pháp ký dài” kháng chiến Hiệp định Giơ- ne-vơ 1954 kết thúc kháng chiến chống Pháp. Câu 3. Phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Hướng dẫn trả lời a. Nguyên nhân thắng lợi - Có sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo. - Toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù trong lao động sản xuất. - Có chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố và mở rộng, lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, hậu phương rộng lớn, vững chắc về mọi mặt. - Được tiến hành trong liên minh chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương, được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân, của nhân dân Pháp và loài người tiến bộ, tình đoàn kết chiến đấu của 3 nước Việt-Miên-Lào. b. Ý nghĩa lịch sử - Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã chấm dứt cuộc tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam, bảo vệ và phát triển thành quả của cách mạng tháng Tám. - Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần 1 thế kỉ trên đất nước Việt Nam. - Miền Bắc được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
  17. - Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc các nước chân Á, châu Phi và khu vực Mĩ Latinh. Câu 4. Phân tích nguyên nhân bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược (19-12-1946). Hướng dẫn trả lời - Trước những hành động chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực cứu vãn một nền hoà bình dù rất mong manh, nên đã chủ động đàm phán và kí với Pháp Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946), nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi để đổi lấy hoà bình. - Trái ngược với thiện chí của Việt Nam, thực dân Pháp ngoan cố bám giữ lập trường thực dân, nuôi hi vọng giành thắng lợi bằng quân sự. Việc đàm phán kí Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946) chỉ là thủ đoạn để lấn ta từng bước, song vẫn đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa. + Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp mở các cuộc tiến công ta và đã chiếm đóng nhiều nơi. + Ở Bắc Bộ, hạ tuần tháng 11 Phòng, Lạng Sơn, sau đó chúng chiếm 1946, quân Pháp tiến công ta ở Hải đóng Hải Phòng (27/11/1946). + Tháng 12 – 1946, Pháp gây hấn ở Hà Nội, chiếm trụ sở Bộ Tài chính, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh ... + Ngày 18/12/1946, quân Pháp gửi tối hậu thư dòi giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội, nếu không chúng sẽ giành toàn quyền hành động vào sáng ngày 20/12/1946. - Nội dung tối hậu thư và điều Pháp gia hạn nếu không chấp nhận chúng sẽ hành động vào ngày 20/12. Như vậy, khả năng hòa hoãn không còn nữa. Mọi nhàn nhượng của Việt Nam đã đến giới hạn cuối cùng; thời gian rất gấp chúng ta chỉ còn ngày 19/12 để xử lý, không thể để đến ngày 20 được. - Tình thể khẩn cấp đã buộc Đảng và Chính phủ phải có quyết định kịp thời. Ngày 18 12 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. - Tối ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, phát động nhân dân cả nước kháng chiến chống Pháp, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Câu 5. Vì sao nhân dân Việt Nam phải tiến hành kháng chiến lâu dài? Từ sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946) đến trước Chiến dịch Việt Bắc thu – đông năm 1947, quân và dân ta đã làm gì để tiếp tục chuẩn bị kháng chiến lâu dài? Hướng dẫn trả lời a. Nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài là vì: - Đánh lâu dài là một phương châm chiến lược của Đảng trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược. Tư tưởng đó được xác định trong đường lối kháng chiến của Đảng. Hồ Chí Minh nói “Trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi” - - So sánh lực lượng lúc đầu giữa Việt Nam và Pháp rất chênh lệch, chưa có lợi cho cuộc kháng chiến. Kinh tế và quân sự của Việt Nam còn yếu so với Pháp nên Việt Nam không thể giành thắng lợi một cách nhanh chóng. - Nhân dân Việt Nam cần có thời gian để vừa kháng chiến vừa kiến quốc; vừa kháng chiến vừa xây dựng hậu phương và vận động sự giúp đỡ của quốc tế. - “Đánh nhanh, thắng nhanh" là lối đánh sở trường của thực dân Pháp và chúng muốn phát huy ưu thế quân sự, khắc phục điểm yếu của chiến tranh xâm lược và phi nghĩa. Vì vậy, đánh lâu dài sẽ chống lại chiến lược
  18. "đánh nhanh, thắng nhanh" của địch, không cho Pháp phát huy lối đánh sở trường của chủng mà buộc phải đánh theo lối đánh của Việt Nam; từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành thắng lợi quyết định. Hồ Chí Minh nói “Địch dùng lối đánh nhanh thẳng nhanh, ta quyết kể trường kì kháng chiến". b. Chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài: - Công tác di chuyền, thực hiện "Tiêu thổ kháng chiến”: Sau khi rút khỏi Hà Nội, các cơ quan Đảng, Chính phủ, Mặt trận... chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc. Nhân dân đô thị tản cư ra vùng hậu phương và phá hoại nhà cửa, cầu công... không cho địch sử dụng thực hiện “Vườn không nhà trống”, “Tản cư cũng là kháng chiến”. - Xây dựng lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài + Về chính trị, Chính phủ chia cả nước thành 14 khu hành chính, các Ủy ban hành chính chuyển thành Ủy ban kháng chiến hành chính, thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc. Mở rộng Mặt trận, thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt). + Về kinh tế, Chính phủ đề ra các chính sách phát triển sản xuất nhất là lương thực. Sản lượng lúa năm 1947 đạt trên 2 triệu tấn. Nha tiếp tế được thành lập làm nhiệm vụ thu mua, phân phối, đảm bảo nhu cầu ăn, mặc cho nhân dân và quân đội. + Về quân sự, quy định mọi người dân từ 18 đến 45 tuổi được tuyển chọn tham gia các lực lượng chiến đấu. Lực lượng vũ trang các cấp không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị. + Về văn hóa, phong trào Bình dân học vụ tiếp tục được duy trì và phát triển. Trường phổ thông các cấp được xây dựng. Việc chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng. Câu 6. Hãy phân tích những kết quả đạt được của quân và dân ta trong việc thực hiện chủ trương kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng từ sau Chiến thắng Việt Bắc năm 1947 đến trước Chiến dịch Biên Giới năm 1950. Hướng dẫn trả lời - Trên mặt trận chính trị: + Từ giữa năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào thi đua yêu nước. Phong trào đã lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia. + Đầu năm 1949 ta tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban kháng chiến hành chính các cấp, Mặt trận Việt minh và Hội Liên Việt quyết định tiến tới thống nhất thành Mặt trận Liên Việt. - Về quân sự: + Bộ đội chủ lực phần tản, đi sâu vào vùng sau lưng dịch, phát triển chiến tranh du kích, tập dượt đánh vận động chiến. + Trong thu đông 1950, quân ta mở cuộc tiến công quân dịch ở Biên giới Lạng Sơn và Cao Bằng. Kết quả là: đường liên lạc của ta với các nước XHCN được khai thông, quân đội ta trưởng thành; ta đã giành được thể chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến. - Về kinh tế: + Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25%, xóa nợ, chia lại ruộng công, tạm cấp ruộng đất vắng chủ, ruộng đất lấy từ đế quốc và bọn phản động chia cho nông dân. + Ngành công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển theo quy mô nhỏ đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của đời sống và chiến đấu trong những năm 1948 – 1949, ta đã sản xuất được súng cối và súng SKZ. - Về văn hóa, giáo dục đề ra chủ trương cải cách giáo dục phổ thông hệ thống các trường đại học, trung học chuyên nghiệp bắt đầu xây dựng.
  19. Câu 7. Từ Sau Chiến dịch Biên giới (1950) đến trước Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954), hậu phương kháng chiến đã được xây dựng như thế nào? Nêu vai trò của hậu phương đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hướng dẫn trả lời a. Hậu phương kháng chiến * Về chính trị - Tháng 2-1951, Đại hội lần thứ hai của Đảng quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một Đảng riêng, đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình trưởng thành và lãnh đạo cách mạng của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến, là “Đại hội kháng chiến thắng lợi”. - Tháng 3-1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Mặt trận Việt minh và Hội Liên Việt thành một mặt trận duy nhất, lấy tên là Mặt trận Liên Việt, góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. - Tháng 3-1951, Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Khơ me Ítxarắc, Mặt trận Lào Ítxala thành lập Liên minh nhân dân Việt – Miên – Lào, qua đó củng cố và tăng cường khối đoàn kết ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung - Năm 1952, Đại hội chiến sĩ thi chia và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thủ 1 được tổ chức, chọn được 2 anh hùng và hàng chục chiến vị thi đua toàn quốc tiêu biểu cho các ngành công, nông, bình, trí thức, cố vũ mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước trong các ngành, các giới. *Về kinh tế - Đẩy mạnh xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Năm 1952, Chính phủ thể cuộc vận động lao động sản xuất và thực hành tiết kiệm, lôi cuốn mọi ngành, mọi giỏi tham gia. Sản xuất nông nghiệp phát triển. Năm 1953, vùng tự do và vùng căn cứ du kích từ Liên khu IV trở ra sản xuất được 2 757 000 tấn thầy và 650 000 tăn hóa màu - Công nghiệp và thủ công nghiệp đáp ứng yêu cầu về công cụ sản xuất và những mặt hàng thiết yếu của đời sống; sản xuất vũ khí, thuốc men, quần trang quân dụng phục vụ bội đội đánh giặc. - Năm 1951, Chính phủ đề ra những chính sách thuế nông nghiệp, xây dựng nên tài chính, ngân hàng, thương nghiệp phát triển độc lập. Năm 1953 lần đầu tiên đạt cản bằng về thu chi, - Về chính sách ruộng đất, Từ tháng 4/1953 đến 7/1954, thực hiện 5 dợt giảm tỏ và 1 đợt cải cách ruộng đất ở 53 xã thuộc vùng tự do Thái Nguyên, Thanh Hoá. Đến cuối năm 1953, từ Liên khu IV trở ra, chính quyền cách đã tạm cấp 184 000 hécta ruộng đất cho nông dân. mang * Về văn hóa, giáo dục, y tế - Tiếp tục thực hiện cải cách giáo dục lần thứ nhất đề ra từ tháng 7/1950. Kết quả, năm 1952 có 1 triệu học sinh phổ thông; khoảng 14 triệu người thoát nạn mù chữ. - Chú trọng xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng, hướng dẫn các văn nghệ sĩ hoạt động theo hướng phục vụ kháng chiến, kiến quốc. - Cuộc vận động thực hiện đời sống mới, bài trừ mê tín dị đoan ngày càng mang tính chất quần chúng rộng lớn. b. Vai trò của hậu phương - Củng cố và phát triển hậu phương kháng chiến vững mạnh, một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh.
  20. - Hậu phương đã cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến; nhờ có hậu phương quân ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi. - Hậu phương là nơi dừng chân cho các đơn vị quân đội trước và sau mỗi trận đánh. - Hậu phương còn là nơi động viên cho chiến sĩ ngoài mặt trận, tạo sức mạnh về tinh thần để quân ta chiến đấu và chiến thắng. - Hậu phương góp phần xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá cho chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta. C. KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975) Câu 1. Trình bày khái quát bối cảnh kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975) Hướng dẫn trả lời Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) diễn ra trong bối cảnh thế giới và trong nước có những biến đổi lớn. Trên thế giới, Chiến tranh lạnh và cục diện đối đầu Đông – Tây tiếp tục diễn ra ngày càng căng thẳng. Quan hệ giữa các nước lớn có nhiều diễn biến phức tạp. Phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ phát triển mạnh. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Ở trong nước, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, Việt Nam tạm thời bị phân chia thành hai miền: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tạo điều kiện cho việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng của cả nước; ở miền Nam, Mỹ thay thế Pháp dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, phá hoại Hiệp định Giơ- ne-vơ, thực hiện chia cắt Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á. Câu 2. Trình bày khái quát các giai đoạn đấu tranh chống Mĩ cứu nước (1954-1975) Hướng dẫn trả lời Giai Miền Bắc Miền Nam đoạn *1954-1957: Hoàn thành cải cách ruộng * 1954-1958: Đấu tranh chính trị chông chế độ Mĩ đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng. thương chiến tranh. (Chiến tranh đơn phương của Mĩ) - Sau khi hoàn toàn được giải phóng, miền - Mĩ - Diệm: Bắc tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất, + Phá hoại Hiệp định Giơ-nevơ thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” +Tăng cường Tố cộng – diệt cộng 1954- đã được Đảng đề ra trong tiến trình lãnh Luật 10/59 đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, 1960 đạo sự nghiệp cách mạng tháng Tám khủng bố, đàn áp (1945) và kháng chiến chống thực dân - Phía ta: Pháp (1945 – 1954). + Đấu tranh chính trị đòi Mĩ-Diệm thi hành Hiệp - Tiến hành cải cách ruộng đất nhằm xoá định Giơ-ne-vơ; đòi quyền tự do, dân chủ; chống bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, khủng bố, đàn áp. hoàn thành triệt để cuộc cách mạng dân + Từ năm 1957, phong trào bước đầu chuyển sang tộc, dân chủ nhân dân; miền Bắc có điều kết hợp đấu tranh vũ trang.