Đề thi HSG cấp Cụm Ngữ văn 12 - Năm học 2022-2023 - Sở GD&ĐT Bắc Giang (Có đáp án)

docx 5 trang An Diệp 31/01/2026 80
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi HSG cấp Cụm Ngữ văn 12 - Năm học 2022-2023 - Sở GD&ĐT Bắc Giang (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxde_thi_hsg_cap_cum_ngu_van_12_nam_hoc_2022_2023_so_gddt_bac.docx

Nội dung tài liệu: Đề thi HSG cấp Cụm Ngữ văn 12 - Năm học 2022-2023 - Sở GD&ĐT Bắc Giang (Có đáp án)

  1. SỞ GD & ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP CỤM TP BẮC GIANG CỤM TRƯỜNG THPT TP BẮC GIANG Năm học: 2022 - 2023 Môn thi: NGỮ VĂN 12 (Đề thi có 01 trang) Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề) I. ĐỌC HIỂU (5.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới: Tuổi trẻ là đặc ân vô giá của tạo hóa ban cho bạn. Vô nghĩa của đời người là để tuổi xuân trôi qua trong vô vọng. (...) Người ta bảo, thời gian là vàng bạc, nhưng sử dụng đúng thời gian của tuổi trẻ là bảo bối của thành công. Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống. Nếu chỉ chăm chăm và tán dương tài năng thiên bẩm thì chẳng khác nào chim trời chỉ vỗ cánh mà chẳng bao giờ bay được lên cao. Mỗi ngày trôi qua rất nhanh. Bạn đã dành thời gian cho những việc gì ? Cho bạn bè, cho người yêu, cho đồng loại và cho công việc? Và có bao giờ bạn rùng mình vì đã để thời gian trôi qua không lưu lại dấu tích gì không ? Các bạn hãy xây dựng tầm nhìn rộng mở ( ) biến tri thức của loài người, của thời đại tri thức bản thân và cộng đồng, vận dụng vào hoạt động thực tiễn của mình. Trước mắt là tích lũy tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường để mai ngày khởi nghiệp; tự mình xây dựng các chuẩn mực cho bản thân; nhận diện cái đúng, cái sai, cái đáng làm và cái không nên làm. Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công bạn cần có nền tảng về mọi mặt, thiếu nó không chỉ chông chênh mà có khi vấp ngã. (Theo báo mới.com, trích bài phát biểu của PGS.TS Nguyễn Văn Minh, hiệu trưởng ĐHSP Hà Nội, 26/03/2016) 1. Theo văn bản, những điều cần làm trước mắt là gì? (1.0 điểm) 2. Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: “Mỗi ngày trôi qua rất nhanh. Bạn đã dành thời gian cho những việc gì ? Cho bạn bè, cho người yêu, cho đồng loại và cho công việc? Và có bao giờ bạn rùng mình vì đã để thời gian trôi qua không lưu lại dấu tích gì không ?” (1.5 điểm) 3. Anh (chị) hiểu như thế nào về ý kiến:“Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công bạn cần có nền tảng về mọi mặt?” (1.0 điểm) 4. Anh (chị) có đồng tình với quan điểm “Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống” không? Vì sao? (1.5 điểm) II. LÀM VĂN (15.0 điểm) Câu 1 (5.0 điểm) Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi “Hãy để con tự đi!” Độc mã Quyết làm những gì mình muốn (Trích Khát – Vi Thùy Linh, NXB Phụ nữ, 2007) Là một người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn để đối thoại với cha mẹ về vấn đề này. Câu 2 (10.0 điểm) Có ý kiến cho rằng: Nhìn thấy cái khác thường trong cái bình thường và trong cái khác thường nhìn thấy cái bình thường - đó là phẩm chất của những nhà nghệ sĩ đích thực. Anh/chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học của mình, hãy làm sáng tỏ. ------------- Hết ------------- Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm Họ và tên thí sinh: ..............Số báo danh:
  2. SỞ GD & ĐT BẮC GIANG HDC HỌC SINH GIỎI CẤP CỤM TP BẮC GIANG TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN Năm học: 2022 - 2023 Bài thi: NGỮ VĂN 12 (Hướng dẫn chấm có 04 trang) Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề) Phần Câu Nội dung Điểm 1 Những điều cần làm trước mắt: 1.0 I + Tích lũy tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường. + Tự mình xây dựng các chuẩn mực cho bản thân. + Nhận diện cái đúng, cái sai, cái đáng làm và cái không nên làm - HS trả lời đúng 1 ý : 0.5 điểm; 2 ý: 0.75 điểm, 3 ý: 1.0 điểm 2 - Biện pháp tu từ: 0.5 +Câu hỏi tu từ: “Bạn đã dành không?” + điệp từ “cho” +liệt kê: Cho bạn bè, cho người yêu, cho đồng loại và cho công việc -Học sinh trả lời được 2 trong 3 biện pháp trên được 0.5 điểm; 1 biện pháp đúng: 0.25 điểm. - Tác dụng: Thể hiện sự trăn trở về việc sử dụng quỹ thời gian: 1.0 + Cảnh báo về việc để thời gian trôi qua một cách vô nghĩa. + Nhắc nhở mọi người biết trân trọng quỹ thời gian và có ý thức sử dụng thời gian hiệu quả, ý nghĩa 3 Ý kiến “Trường đời là trường học vĩ đại nhất, nhưng để thành công 1.0 bạn cần có nền tảng về mọi mặt?” có thể hiểu: + Đời sống thực tiễn là một môi trường lý tưởng, tuyệt vời để chúng ta trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kinh nghiệm sống, bồi dưỡng nhân cách. + Song muốn thành công trước hết ta cần chuẩn bị hành trang xây dựng nền tảng vững chắc từ nhiều môi trường giáo dục khác nhau như gia đình nhà trường 4 - Học sinh lựa chọn đồng tình hoặc không đồng tình hoặc vừa đồng 0.5 tình vừa không đồng tình với ý kiến: Tài năng thiên bẩm chỉ là điểm khởi đầu, thành công của cuộc đời là mồ hôi, nước mắt và thậm chí là cuộc sống” -Đưa ra lý giải, bày tỏ quan điểm có tính thuyết phục 1.0 Bày tỏ quan điểm về ý kiến: 5.0 II 1 Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi “Hãy để con tự đi!” Độc mã Quyết làm những gì mình muốn a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận 0.5 Mở bài nêu được vấn đề cần nghị luận; Thân bài triển khai được các luận điểm của vấn đề; Kết bài kết luận được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: mối quan hệ giữa cha mẹ và con 0.5 cái c. Triển khai vấn đề: Thí sinh vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết 3.0 hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, có thể viết theo nhiều cách nhưng cần giải quyết được những ý cơ bản sau: 1. Giải thích ý nghĩa đoạn thơ: - Cha mẹ: là bậc sinh thành ra con cái, thuộc thế hệ người đi trước. - Quàng dây cương vào tôi: chỉ hành động ép buộc, kiểm soát mang
  3. tính áp đặt, định hướng của cha mẹ đối với con cái. - Hãy để con tự đi: lời đề nghị, nhắn nhắn nhủ tha thiết của người con mong muốn tự mình quyết định. - Độc mã: khát khao được tự lập làm chủ cuộc đời mình. - Những gì mình muốn: tôn trọng sở thích, mong ước, khát khao của chính mình. -> Bàn về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái: cha mẹ thường kiểm soát, áp đặt ý kiến chủ quan, thậm chí định hướng cả tương lai, cuộc đời thay cho con. Ngược lại thế hệ trẻ lại khát khao tự do, tự lập mong muốn tự làm chủ cuộc đời mình. 2. Bình luận * Cha mẹ thường kiểm soát, áp đặt, định hướng thay cho cuộc đời con cái. - Tại sao cha mẹ kiểm soát, áp đặt, định hướng cuộc đời cho con cái: do tư tưởng bao bọc, che chở của những người từng trải, có kinh nghiệm nên cha mẹ áp đặt suy nghĩ của mình lên người khác; cha mẹ lo lắng con cái còn non nớt, bồng bột nên thường kiểm soát, định sẵn bước đi cho con; do sự kì vọng thái quá của cha mẹ, luôn muốn con mau khôn lớn, thành đạt. - Biểu hiện của việc kiểm soát, áp đặt của cha mẹ với con cái: cha mẹ áp đặt thói quen, sở thích của mình lên các con; kiểm soát mọi hành vi, ngôn ngữ, mối quan hệ của con; định hướng tương lai, cuộc đời con. - Tác hại: làm mất sự tự do, khiến con cái trở nên thụ động; kìm hãm sự phát triển, khả năng sáng tạo, bứt phá và cơ hội được trải nghiệm bản thân của thế hệ trẻ; ảnh hưởng những suy nghĩ lạc hậu của lớp người đi trước; gây ức chế tâm lí, khiến cuộc sống của con cái trở nên ngột ngạt, bế tắc; thậm chí có thể xảy ra những hành vi tiêu cực. * Thế hệ trẻ luôn khao khát tự chinh phục, khám phá, tự do làm chủ cuộc đời mình. - Vì sao thế hệ trẻ khao khát chinh phục, muốn tự do làm chủ cuộc đời: thế hệ trẻ là những người tràn đầy năng lượng, nhiệt huyết, luôn muốn trải nghiệm, thử thách bản thân; do khác xa về tuổi tác nên sự áp đặt, định hướng của cha mẹ không còn phù hợp khiến họ khao khát tìm kiếm hướng đi mới; không phải lúc nào cha mẹ cũng ở bên để che chở, bao bọc cho con nên thế hệ trẻ cần phải học cách tự lập, vững vàng trên đôi chân của chính mình. - Biểu hiện của việc tự làm chủ bản thân của thế hệ trẻ: tự chịu trách nhiệm trước mọi hành vi, ngôn ngữ, quyết định, tự lựa chọn nghề nghiệp tương lai, tự do làm những điều mình mơ ước. - Tác dụng: giúp thế hệ trẻ được sống là chính mình; phát huy thế mạnh của bản thân; sống chủ động, mạnh mẽ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có nhiều trải nghiệm để trưởng thành; có khả năng đóng góp nhiều hơn cho xã hội. 3. Mở rộng-nâng cao: - Sự kiểm soát, áp đặt của cha mẹ không phải lúc nào cũng mang tính tiêu cực; những định hướng đúng đắn, kịp thời của cha mẹ không chỉ giúp con cái tránh những sai lầm, vấp ngã mà còn giúp họ đi nhanh, tiến xa hơn trong tương lai. - Khát vọng tự do, tự chủ của thế hệ trẻ không phải lúc nào cũng xuất phát từ những suy nghĩ chín chắn, đôi khi sự ngông cuồng, hiếu thắng khiến họ dễ mắc phải sai lầm. 4. Bài học nhận thức và hành động - Thế hệ trẻ cần học cách tự lập, sống chủ động không ỉ nại, dựa dẫm
  4. nhưng cũng cần lắng nghe, tiếp thu lời khuyên bảo, chỉ dẫn đúng đắn của người đi trước. - Phê phán một bộ phận cha mẹ kiểm soát con cái thái quá làm mất đi quyền tự do của con; phê phán một bộ phận giới trẻ quá đề cao cái tôi, bồng bột, thiếu chín chắn hoặc tự do thái quá dẫn đến lối sống buông thả, sa ngã. d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có quan điểm riêng, độc đáo với 0.5 vấn đề nghị luận. e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... 0.5 Nhìn thấy cái khác thường trong cái bình thường và trong cái khác 10.0 thường nhìn thấy cái bình thường - đó là phẩm chất của những nhà nghệ sĩ 2 đích thực. a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận 0.5 Mở bài giới vấn đề nghị luận; Thân bài triển khai được vấn đề cần nghị luận; Kết bài khái quát được nội dung cần nghị luận. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: vai trò của cái nhìn của người nghệ 0.5 sĩ. c. Yêu cầu cơ bản: C1.Giải thích: 1.0 - Người nghệ sĩ đích thực: là những người sáng tạo nghệ thuật chân chính, có tài năng, tâm huyết, khát vọng, nhân cách, là những người sáng tạo ra cái đẹp, ra những tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa. - Cái khác thường: là cái độc đáo, đặc sắc, mới lạ,... - Cái bình thường: là cái giản dị, gần gũi, quen thuộc, vốn có... => Ý kiến bàn về vai trò của cái nhìn của người nghệ sĩ. Người nghệ sĩ chân chính là những người có khả năng phát hiện ra những cái độc đáo, đặc sắc, mới lạ ở những mảng đề tài, hình tượng, chủ đề tưởng chừng như rất quen thuộc, bình thường. Đồng thời cũng là người phải có khả năng khiến cho những cái độc đáo, mới lạ trở nên gần gũi, chân thật với cuộc sống và người tiếp nhận. C2. Cơ sở lý luận: Khẳng định sự đúng đắn, tiến bộ của ý kiến: 2.0 *Phát hiện ra những cái mới mẻ, độc đáo từ những điều bình thường, những đề tài quen thuộc là yêu cầu bắt buộc của sáng tạo nghệ thuật nói riêng và văn học nói chung. Bởi sự lặp lại là cái chết của nghệ thuật. Người nghệ sĩ không thể lặp lại người khác và chính bản thân mình. Chính việc phát hiện ra những điều độc đáo, mới mẻ sẽ giúp cho nhà văn hình thành được phong cách riêng. Hơn nữa có độc đáo, mới mẻ mới cuốn hút được người tiếp nhận “Thế giới được tạo lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập”. (Macxen - Pruxt) *Người nghệ sĩ cũng cần làm cho những điều phi thường trở nên gần gũi chân thật. Bởi vì xét đến cùng nghệ thuật sinh ra là để phục vụ đời sống, người tiếp nhận tìm đến với tác phẩm nghệ thuật cũng vì tác phẩm mang bóng dáng của cuộc đời. Nếu chỉ mải mê khai thác những cái phi thường, mới lạ, nghệ thuật sẽ trở nên xa lạ với cuộc đời, sẽ không chinh phục được người tiếp nhận. Nghệ thuật là cái độc đáo, nhất là trong hình thức thể hiện nhưng nó vẫn phải hướng đến những cái quen thuộc, gần gũi và nhân văn trong đời sống con người. C3. Chứng minh qua một hoặc một vài tác phẩm văn học 4.0 HS có thể có nhiều cách làm khác nhau, và tuỳ chọn tác phẩm để chứng minh, làm rõ nhưng cần phải đảm bảo các ý chính sau: - Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm
  5. - Cái nhìn mới mẻ, độc đáo của người nghệ sĩ: nhìn thấy cái khác thường trong cái bình thường -- Cái nhìn bình dị, gần gũi, quen thuộc của tác giả: trong cái khác thường nhìn thấy cái bình thường -- Đặc sắc nghệ thuật góp phần thể hiện cái nhìn của nhà văn C4. Đánh giá, mở rộng 1.0 - Vấn đề cái nhìn trong văn học rất quan trọng, là vấn đề sống còn của người nghệ sĩ. Đối với nhà văn cũng như đối với nhà họa sĩ, phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn. Đó là một sự khám phá mà người ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp; bởi đó là một sự khám phá về chất, chỉ có được trong cách cảm nhận về thế giới , một cách cảm nhận không do nghệ thuật đem lại thì mãi mãi sẽ không ai biết đến (Macxen - Pruxt). - Để tạo được phong cách riêng, mỗi nhà văn còn cần tạo cho mình một giọng riêng và phải thực sự là người nghệ sĩ ngôn từ. Muốn vậy, người nghệ sĩ cần có trong mình: tài năng, phong cách, tâm huyết với nghề cũng như lòng tự trọng . - Bài học đặt ra với người cầm bút: cần không ngừng khám phá, sáng tạo để làm ra những sản phẩm độc đáo. - Với người tiếp nhận: Cần trân trọng những đóng góp, khám phá sáng tạo của mỗi nhà văn. d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, lí giải mới mẻ về vấn đề 0.5 nghị luận. e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... 0.5 Tổng điểm 20.0 Lưu ý chung: 1. Đây là hướng dẫn chấm mở, thang điểm không quy định chi tiết đối với từng ý nhỏ, chỉ nêu mức điểm của phần nội dung lớn nhất thiết phải có. 2. Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đã nêu mỗi câu, đồng thời phải được triển khai chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc. 3. Khuyến khích những bài viết có sáng tạo. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án nhưng phải có căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục. 4. Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng. 5. Cần trừ điểm đối với những lỗi về hành văn, ngữ pháp và chính tả.