Đề thi rèn kĩ năng Ngữ văn 12 (Lần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)

pdf 6 trang An Diệp 14/02/2026 350
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi rèn kĩ năng Ngữ văn 12 (Lần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_thi_ren_ki_nang_ngu_van_12_lan_2_nam_hoc_2024_2025_truong.pdf

Nội dung tài liệu: Đề thi rèn kĩ năng Ngữ văn 12 (Lần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Ngô Sĩ Liên (Có đáp án)

  1. SỞ GD & ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI THỬ RÈN KỸ NĂNG LẦN 2 TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN Năm học 2024 - 2025 Môn thi: NGỮ VĂN 12 (Đề có 02 trang) Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: (Lược trích: Khi đất nước có chiến tranh thì anh trai, chị gái và Tân đều lên đường đi du học nước ngoài. Chỉ có Nghĩa, cậu em út, xung phong đi bộ đội mặc cho người cha ngăn cản. Từ khi Nghĩa lên đường, bà mẹ thường xuyên viết thư gửi cho Nghĩa tuy nhiên thư viết đi bao nhiêu lại bị trả về nguyên vẹn bấy nhiêu. Mãi sau này khi người mẹ mất, Tân mang chiếc rương1 cũ về mở ra mới biết trong đó là những kỉ vật một thời, đặc biệt là những bức thư chưa bao giờ được mở mà người mẹ viết gửi cho Nghĩa - người con đi chiến đấu đã mãi mãi không trở về.) Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. Vậy mà bây giờ nhận lấy chiếc rương này thì câu chuyện dài triền miên đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác mẹ đã kể với người con út, Tân lại phải đón lấy. “Khổ thân các con sinh ra gặp thời loạn lạc ...”, lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít. “Đêm qua bom rơi quá gần, thế mà cô bé Loan tầng dưới lại chạy lên đây ngồi cùng với mẹ bên cửa sổ. Loan cùng lớp với con, còn nhớ không, Nghĩa? Loan sắp tốt nghiệp Đại học Quân y và cũng sẽ vào trong ấy. Nó nói vào đấy với con. Mẹ nhớ ngày con lên đường, cả con cả Loan còn nhỏ dại lắm, vậy mà nay Loan nó đã lớn phổng lên, một chiến sĩ xinh đẹp và can đảm biết nhường nào. Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi?” Nghĩa ơi! Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về. Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, lẽ ra mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới. Nông nỗi thương tâm bất động của một người già có cái đáng quý là không làm ai phải để ý, bởi để ý tới thì không khỏi đau thắt trong lòng và không sao mà có thể bình tâm để yên ổn sống một cách dễ chịu cho nổi. (Trích Gọi con - Bảo Ninh, Đọc hiểu mở rộng Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.43-46) Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện. Câu 2. Chỉ ra thời gian người mẹ viết lá thư cuối cùng gửi cho Nghĩa được nhắc tới trong đoạn trích. Câu 3. Phân tích hiệu quả của câu hỏi tu từ được sử dụng trong những câu văn sau: Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? Câu 4. Nhận xét tình cảm, thái độ của người kể chuyện với nhân vật người mẹ thể hiện qua đoạn văn: 1. Rương: hòm để đựng đồ dùng.
  2. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới. Nông nỗi thương tâm bất động của một người già có cái đáng quý là không làm ai phải để ý, bởi để ý tới thì không khỏi đau thắt trong lòng và không sao mà có thể bình tâm để yên ổn sống một cách dễ chịu cho nổi. Câu 5. Từ cách ứng xử của người mẹ trước những mất mát, đau buồn, bạn hãy bày tỏ quan điểm của mình về cách ứng xử với nỗi đau buồn trong cuộc sống. II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Bạn hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ cảm nhận của mình về nhân vật người mẹ trong đoạn trích Gọi con ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm) Mỗi khi gặp khó khăn, thử thách trong cuộc sống, một số người trẻ luôn tự lực, dựa vào chính mình để giải quyết vấn đề, nhưng không ít người lại nỗ lực tìm kiếm sự hỗ trợ từ người khác để vượt qua. Từ góc nhìn của người trẻ, bạn hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về ý kiến trên. ---------- Hết ---------- Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không giải thích gì thêm. Họ tên học sinh: ......................................................... Số báo danh:
  3. SỞ GD & ĐT BẮC GIANG HDC THI THỬ RÈN KỸ NĂNG LẦN 2 TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN Năm học 2024 - 2025 Môn thi: NGỮ VĂN 12 (Huớng dẫn chấm gồm 03 trang) Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 1 Ngôi kể của người kể chuyện: Ngôi thứ ba. 0,5 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm - Học sinh không làm hoặc trả lời sai: 0,0 điểm 2 Thời gian người mẹ viết lá thư cuối cùng gửi cho Nghĩa là vào ngày cuối tháng Chạp 0.5 năm 72. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm - Học sinh không làm hoặc trả lời sai: 0,0 điểm 3 - Câu hỏi tu từ: con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế 1.0 hở con?... sao thế hở con, Nghĩa ơi?” - Hiệu quả của câu hỏi tu từ: + Tạo giọng điệu khắc khoải, day dứt, buồn thương cho câu văn + Nhấn mạnh tâm trạng đau khổ, mong ngóng, chờ đợi con trong vô vọng; qua đó thấy được tình yêu thương con vô bờ của người mẹ. + Thể hiện sự xót xa, thương cảm và tấm lòng ngợi ca của tác giả. Hướng dẫn chấm: - Chỉ ra câu hỏi tu từ: 0,25 điểm - Nêu tác dụng: + Học sinh nêu được 01 tác dụng: 0,25 điểm. + Học sinh không nêu được tác dụng hoặc trả lời không thuyết phục: 0,0 điểm 4 Tình cảm, thái độ của người kể chuyện với nhân vật người mẹ: 1.0 - Xót xa, đồng cảm, thấu hiểu trước nỗi niềm của người mẹ có con hi sinh trong chiến tranh chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. - Trân trọng, cảm phục cách ứng xử trước những mất mát, đau buồn của người mẹ nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm. - Học sinh trả lời được 01 ý: 0,5 điểm. - Học sinh không làm hoặc trả lời sai: 0,0 điểm. 5 - Học sinh nêu được cách ứng xử của người mẹ trước những mất mát, đau buồn: nén 1.0 chặt nỗi đau, âm thầm chịu đựng một mình không than vãn với ai nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới vì không muốn làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những đứa con khác. - Học sinh bày tỏ được suy nghĩ của bản thân về cách ứng xử trước nỗi buồn trong cuộc sống. Có thể theo hướng: nỗi đau buồn là những tổn thương, mất mát, những vấp ngã, thất bại trong cuộc sống; cần ý thức được những buồn đau là một phần của cuộc
  4. sống, khó tránh khỏi; có thái độ đối mặt với nó để vượt qua, không nên lẩn tránh; biến nỗi đau thành động lực để trân trọng cuộc sống và sống tốt hơn Hướng dẫn chấm: - Học sinh nêu được cách ứng xử của người mẹ trước những mất mát, đau buồn: 0,5 điểm. - Học sinh bày tỏ quan điểm: + Học sinh bày tỏ được suy nghĩ, diễn đạt thuyết phục, mạch lạc, giàu cảm xúc: 0,5 điểm. + Học sinh bày tỏ được suy nghĩ nhưng diễn đạt còn chung chung, chưa mạch lạc: 0,25 điểm. + Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm. II VIẾT 6,0 1 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về nhân vật người mẹ trong 2,0 đoạn trích Gọi con của Bảo Ninh ở phần Đọc hiểu a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn 0,25 Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng -phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Nhân vật người mẹ trong đoạn trích Gọi con 0,25 của Bảo Ninh. c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu câu 1,0 Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau: - Hoàn cảnh, số phận: chịu nhiều mất mát, đau thương (đất nước chiến tranh, ba người con du học nước ngoài, chồng mất, đứa con út nhập ngũ rồi hi sinh) - Phẩm chất: + Yêu thương con: viết thư hỏi thăm con; đến lúc chết vẫn không thôi hi vọng, khắc khoải chờ đợi ngày con trở về; không muốn những đứa con khác lo lắng cho mình nên giữ kín những nỗi niềm trong lòng. + Mạnh mẽ, kiên cường: bom đạn giặc Mĩ tàn phá nhưng vẫn quyết tâm bám trụ không rời Hà Nội; lặng lẽ, âm thầm một mình chịu đựng nỗi đau mất con không than vãn với ai vì không muốn làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những đứa con khác. - Qua nhân vật người mẹ, nhà văn đã cho chúng ta thấy sự tàn khốc và những nỗi đau dai dẳng mà chiến tranh để lại; ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, sự hi sinh thầm lặng của những người mẹ. Hướng dẫn chấm: - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng (0,75 điểm - 1,0 điểm). - Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu (0,25 điểm - 0,5 điểm). d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong 0,25 đoạn văn. e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. 0,25 2 Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ về ý kiến: 4,0 Mỗi khi gặp khó khăn, thử thách trong cuộc sống, một số người trẻ luôn tự lực, dựa vào chính mình để giải quyết vấn đề, nhưng không ít người lại nỗ lực tìm kiếm sự hỗ trợ từ người khác để vượt qua. a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận 0,25
  5. Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cách để người trẻ vượt qua khó khăn, thử thách 0,5 trong cuộc sống. c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu 2,5 Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Thân bài: - Giải thích: + Tự lực, dựa vào chính mình để giải quyết vấn đề: là tự mình, không dựa dẫm nhờ vả người khác. + Tìm kiếm sự hỗ trợ từ người khác để vượt qua là không phải tự bản thân mình mà có sự giúp đỡ từ người khác. - Bàn luận: + Lựa chọn tự lực, dựa vào chính mình để giải quyết vấn đề vì: ++ Mỗi người đều có những vấn đề riêng đặt ra cho mình, tự mình chịu trách nhiệm với cuộc đời của mình ++ Chỉ bản thân mình hiểu được năng lực của mình và khả năng giải quyết vấn đề; ++ Phát huy, khám phá được những năng lực tiềm ẩn bên trong của bản thân - Lựa chọn nỗ lực tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài vì: ++ Có những vấn đề nằm ngoài năng lực, khả năng của bản thân mỗi người. Ai cũng có hạn chế cần được bổ sung bởi năng lực của người khác. ++ Người trong cuộc khi đối mặt vấn đề thường ít tỉnh táo, ít có kinh nghiệm ++ Tranh thủ học hỏi được kinh nghiệm của những người giỏi hơn mình, được dẫn dắt để giải quyết vấn đề mau chóng hơn, hiệu quả hơn. - Mở rộng: Tự lực có thể khó khăn dẫn đến không giải quyết được vấn đề; tìm kiếm sự hỗ trợ nhưng không dễ dàng, thậm chí hỗ trợ sai, không hiệu quả, hoặc gây phiền toái cho người khác - Bài học: + Nhận thức được cả hai phương án lựa chọn đều tồn tại mặt hạn chế + Cần linh hoạt để phối hợp hoặc lựa chọn một phương án phù hợp với từng hoàn cảnh thực tế. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Hướng dẫn chấm: - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng (2,0-2,5 điểm). - Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu (1,25 điểm - 1,75 điểm). - Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không phù hợp (0,25 điểm - 1,0 điểm). d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. 0,25 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. 0,5 Tổng điểm 10,0