Nâng cao năng lực phân tích và phán đoán cho học sinh THPT thông qua câu hỏi trắc nghiệm đúng sai chủ đề Phóng xạ Vật lí 12

pdf 38 trang An Diệp 10/01/2026 230
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Nâng cao năng lực phân tích và phán đoán cho học sinh THPT thông qua câu hỏi trắc nghiệm đúng sai chủ đề Phóng xạ Vật lí 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_nang_luc_phan_tich_va_phan_doan_cho_hoc_sinh_thpt_t.pdf

Nội dung tài liệu: Nâng cao năng lực phân tích và phán đoán cho học sinh THPT thông qua câu hỏi trắc nghiệm đúng sai chủ đề Phóng xạ Vật lí 12

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: NÂNG CAO NĂNG LỰC PHÂN TÍCH VÀ PHÁN ĐOÁN CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐÚNG SAI CHỦ ĐỀ “PHÓNG XẠ” – VẬT LÍ 12. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 12 tháng 03 năm 2025 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Trong quá trình dạy và học môn Vật lí tại trường trung học phổ thông Bố Hạ, đặc biệt là trong giảng dạy chủ đề phóng xạ, hiện trạng vấn đề đang tồn tại nhiều khó khăn và thách thức đáng lưu tâm. Dưới đây là một số phân tích chi tiết về thực trạng và các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này: - Khó khăn trong việc tiếp cận kiến thức phức tạp: Các khái niệm về phóng xạ thường khá trừu tượng và khó hiểu đối với học sinh. Hầu hết học sinh gặp khó khăn trong việc nhận diện và phân tích các thông tin liên quan đến loại bức xạ (alpha, beta, gamma), tính chất và ứng dụng của chúng. Chính điều này dẫn đến việc học sinh dễ dàng ghi nhớ lí thuyết mà không thực sự hiểu sâu, dẫn đến việc học sinh phản ứng mơ hồ hoặc đưa ra những câu trả lời không chính xác khi gặp phải câu hỏi liên quan. Ví dụ: Khi học sinh được hỏi "Phóng xạ alpha có khả năng xuyên qua vật chất tốt hơn hay kém hơn phóng xạ beta?" nhiều em có thể trả lời sai hoặc không biết lựa chọn, do thiếu kiến thức vững chắc và khả năng phân tích vấn đề. - Phương pháp giảng dạy chưa phù hợp: Phương pháp giảng dạy truyền thống đang được áp dụng phổ biến, chủ yếu tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều từ giáo viên sang học sinh. Điều này không khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh, dẫn đến việc các em không cảm thấy hứng thú và không có cơ hội thực hành vận dụng kiến thức của mình. Ví dụ: Nhiều giáo viên thường yêu cầu học sinh ghi nhớ công thức và định nghĩa về phóng xạ mà không cung cấp cho học sinh cơ hội để thảo luận hoặc suy nghĩ về cách thức mà các khái niệm này áp dụng trong thực tiễn. Kết quả là học sinh thường không nắm vững và thiếu tự tin trong việc sử dụng kiến thức. BM-SK02 Trang 1
  2. Thiếu sự liên kết giữa lí thuyết và thực tiễn: Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến học sinh không hiểu sâu về phóng xạ chính là thiếu sự kết nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Việc học sinh không thấy được sự ứng dụng của kiến thức tại các lĩnh vực như y học, bảo vệ môi trường hay năng lượng hạt nhân khiến việc học trở nên khô khan và kém sinh động. Ví dụ: Học sinh học về ứng dụng của phóng xạ trong y học nhưng lại không có được những dẫn chứng cụ thể hoặc trải nghiệm thực tế, khiến họ khó hình dung và áp dụng kiến thức vào những tình huống thực tế. - Thiếu kỹ năng tư duy phản biện và đánh giá thông tin: Đối với nhiều học sinh, việc đánh giá thông tin và quyết định đúng hay sai dựa trên lý thuyết chưa được rèn luyện đầy đủ. Kỹ năng tư duy phản biện còn yếu kém đã dẫn đến việc học sinh thường chấp nhận thông tin một cách thụ động mà không tiến hành kiểm tra, phân tích hay chất vấn về độ chính xác của thông tin. Ví dụ: Khi học sinh được yêu cầu phân tích một đoạn thông tin về các ảnh hưởng của phóng xạ đến sức khỏe, nhiều em chỉ có thể tóm tắt lại mà không thể đưa ra lập luận cho quan điểm của mình, khiến cho các buổi thảo luận học tập trở nên ít hiệu quả. Trên cơ sở phân tích các vấn đề trên, rõ ràng rằng có một khoảng trống lớn cần được giải quyết trong giáo dục vật lý, đặc biệt trong việc giảng dạy chủ đề phóng xạ. Sáng kiến này không chỉ tìm cách khắc phục những khó khăn mà còn tạo ra một phương pháp tiếp cận hiệu quả hơn, góp phần nâng cao năng lực học tập cho học sinh thông qua việc phát triển tư duy phản biện và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến - Xuất phát từ những hạn chế của giải pháp cũ như đã trình bày ở trên, tôi thấy được sự cần thiết phải nghiên cứu và tìm ra giải pháp mới để thay đổi tư duy mới của cả người dạy và người học. - Bồi dưỡng, phát triển năng lực vật lí cho học sinh phổ thông là một trong những mục tiêu chính của Chương trình vật lí, là nhiệm vụ của những người giáo viên dạy vật lí, là phương tiện để đánh giá hiệu quả quá trình dạy và học vật lí ở trường phổ thông. Tuy nhiên, nhiều giáo viên chưa thực sự chú trọng hoặc vẫn còn lúng túng trong việc bồi dưỡng năng lực này cho học sinh, chưa biết bồi dưỡng và phát triển năng lực này cho học sinh thông qua hình thức nào để đạt được hiệu quả. BM-SK02 Trang 2
  3. - Dạng thức câu hỏi trắc nghiệm đúng sai với mỗi câu hỏi sẽ có 4 ý (a), (b), (c), (d) và yêu cầu thí sinh trả lời đúng - sai cả 4 ý. Nếu thí sinh chỉ trả lời chính xác 1 ý sẽ được 0,1 điểm; trả lời chính xác 2 ý sẽ được 0,25 điểm; trả lời chính xác 3 ý sẽ được 0,5 điểm và trả lời chính xác 4 ý sẽ đạt 1 điểm. Đây là dạng câu hỏi hoàn toàn mới so với đề thi những năm trước, nó không chỉ kiểm tra kiến thức của người học mà còn đánh giá được khả năng áp dụng kiến thức đó vào việc giải quyết vấn đề cụ thể. Mặt khác, phương thức tính điểm ở dạng câu hỏi này lại càng làm tăng độ phân hóa về năng lực của học sinh. Đây là phương thức đánh giá được năng lực học sinh rất toàn diện về vấn đề hoặc nhóm vấn đề của nhận thức vật lí. - Thông qua các câu hỏi, bài tập trắc nghiệm đúng - sai chủ đề “Phóng xạ”, học sinh có thể huy động, sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học trong chủ đề hoặc qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết được những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó. - Việc áp dụng phương pháp giảng dạy qua câu hỏi đúng - sai về chủ đề "Phóng xạ" được xem là một giải pháp cần thiết. Phương pháp này không chỉ kích thích sự hứng thú và tò mò của học sinh mà còn giúp các em phát triển kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin, qua đó hình thành tư duy phản biện. Các câu hỏi Đúng - Sai sẽ tạo cơ hội cho học sinh thảo luận, tranh luận và xác nhận kiến thức, từ đó nâng cao khả năng nắm bắt và hiểu biết về các khái niệm phức tạp. - Mặt khác, giải pháp đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của việc đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay. Đặc biệt là việc cập nhật phương thức kiểm tra, đánh giá, thi mới góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của bộ môn, nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT, bồi dưỡng, phát triển năng lực vật lí, tư duy sáng tạo cho học sinh cũng như đào tạo nguồn học sinh giỏi văn hóa cấp trường, cấp tỉnh môn vật lí. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến (Nêu rõ mục đích khắc phục các nhược điểm của giải pháp cũ hoặc mục đích của giải pháp mới do mình tạo ra): Sáng kiến kinh nghiệm này mang đến một số điểm mới so với các giải pháp đã có trước đây trong việc giảng dạy môn Vật lí, đặc biệt là chủ đề phóng xạ. Cụ thể là: - Tạo ra phương pháp giảng dạy chủ động: Khác với các phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống, sáng kiến này áp dụng hình thức câu hỏi Đúng - Sai, khuyến khích học sinh tham gia một cách chủ động hơn vào quá trình học tập. Điều này tạo ra một môi trường BM-SK02 Trang 3
  4. học tập tích cực, nơi học sinh không chỉ nhận biết kiến thức mà còn tương tác, thảo luận và củng cố hiểu biết của mình. - Tích hợp tư duy phản biện: Sáng kiến chú trọng đến việc phát triển tư duy phản biện của học sinh thông qua việc đặt ra các câu hỏi Đúng - Sai. Học sinh không chỉ phải nhớ kiến thức mà còn phải phân tích, đánh giá và đưa ra quyết định đúng hay sai dựa trên lý thuyết đã học. Sự tương tác này giúp nâng cao khả năng phản biện, một kỹ năng quan trọng trong thế kỷ 21. - Đánh giá định kỳ và theo nhóm: Thay vì chỉ sử dụng bài kiểm tra cá nhân, sáng kiến khuyến khích việc đánh giá sự hiểu biết của học sinh thông qua hình thức thảo luận nhóm. Điều này không chỉ thúc đẩy sự hợp tác mà còn cho phép học sinh học hỏi lẫn nhau, cũng như phản ánh quan điểm cá nhân trong một môi trường thân thiện và hỗ trợ. - Kết nối lí thuyết với thực tiễn: Sáng kiến không chỉ dừng lại ở việc dạy lý thuyết về phóng xạ mà còn khuyến khích học sinh tìm hiểu về ứng dụng thực tế của phóng xạ trong các lĩnh vực như y học, công nghiệp, và bảo vệ môi trường. Điều này có thể giúp học sinh thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của những kiến thức họ đang học. - Sản phẩm minh chứng rõ ràng: Các sản phẩm từ sáng kiến như bộ câu hỏi Đúng - Sai và tài liệu hướng dẫn sẽ được phát triển và chia sẻ rộng rãi. Điều này tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh có thể áp dụng phương pháp này trong các lớp học khác, từ đó nhân rộng hiệu quả của sáng kiến đến nhiều vùng miền và trường học khác nhau. Xây dựng, biên soạn hệ thống câu hỏi và bài tập vật lí dạng trắc nghiệm đúng – sai gắn với thực tế cuộc sống, khoa học, kĩ thuật giúp học sinh ôn tập, củng cố kiến thức, kỹ năng đã của chủ đề, vận dụng để giải quyết các vấn đề mới trong thực tế. Đồng thời, giúp các em nhanh chóng thích ứng với định dạng mới của câu hỏi trắc nghiệm và đạt kết quả cao trong các kì thi, kiểm tra, đặc biệt vượt qua kì thi Tốt nghiệp THPT với hiệu quả cao nhất. - Với mong muốn giúp cho giáo viên Vật lí của trường Trung học phổ thông Bố Hạ có giải pháp bồi dưỡng, phát triển năng lực vật lí cho học sinh tốt hơn, hiệu quả hơn, đồng thời giúp cho học sinh của mình hiểu rõ bản chất vật lí của chủ đề, hiểu rõ được năng lực vật lí của bản thân, củng cố niềm tin khoa học và tăng cường hứng thú học tập vật lí cho các em. - Giúp học sinh tự giải quyết những vấn đề thực tiễn liên quan đến “phóng xạ” một cách nhanh chóng và hiệu quả thông qua việc vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và ứng phó với những thay đổi. Học sinh phân tích được tình huống liên quan đến vấn đề an toàn, sức khoẻ của bản thân, người khác và BM-SK02 Trang 4
  5. môi trường sống xung quanh từ đó đưa ra được cách ứng xử phù hợp trong các tình huống có liên quan. - Giải pháp bồi dưỡng, phát triển khả năng tư duy sáng tạo của người học, lôi cuốn được nhiều học sinh tham gia vào quá trình giải bài tập cũng như giúp một số học sinh không yêu thích hoặc không giỏi môn vật lí cảm thấy đơn giản hơn trong việc giải bài tập vật lí. Như vậy, sáng kiến này không chỉ giúp học sinh phát triển kiến thức về phóng xạ mà còn thúc đẩy khả năng tư duy độc lập và phản biện, góp phần hình thành thế hệ học sinh năng động, sáng tạo trong tương lai. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến - Nội dung: + Trình bày một số kiến thức phổ thông của chủ đề “Phóng xạ” và ứng dụng của các đồng vị phóng xạ trong thực tiễn cuộc sống, trong y học, trong khoa học kĩ thuật. + Thông qua một số câu hỏi trắc nghiệm Đúng – Sai chủ đề “Phóng xạ” làm ví dụ điển hình để rèn luyện, phát triển, nâng cao năng lực phân tích và phán đoán, phát triển năng lực nhận thức vật lí, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của chủ đề “phóng xạ” để giải quyết một số vấn đề của thực tiễn liên quan đến chủ đề. + Xây dựng, biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập trắc nghiệm đúng – sai chủ đề “Phóng xạ” cho học sinh vận dụng, luyện tập. - Các bước tiến hành thực hiện giải pháp (cần minh họa bằng các bản vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm, đĩa, bảng biểu, số liệu: .) Bước 1: Trình bày ý tưởng, trao đổi với đồng nghiệp về những thuận lợi, khó khăn khi giảng dạy, ôn luyện cho học sinh thi, kiểm tra chủ đề “phóng xạ” dưới dạng câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai. - Thăm dò, khảo sát hứng thú của học sinh khi giải các bài tập trắc nghiệm đúng – sai liên quan đến “phóng xạ” - Trao đổi với học sinh về những khó khăn khi vận dụng lí thuyết giải bài tập định dạng loại này. BM-SK02 Trang 5
  6. Bước 2: Nghiên cứu cơ sở lí thuyết của chủ đề “Phóng xạ” - Khái niệm về hiện tượng phóng xạ: Hiện tượng một hạt nhân không bền vững tự phát phát ra tia phóng xạ và biến đổi thành một hạt nhân khác. - Quá trình phóng xạ là một quá trình ngẫu nhiên (với một hạt nhân phóng xạ cho trước, thời điểm phân rã của nó không xác định), xảy ra bên trong hạt nhân, không chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài hạt nhân (áp suất, nhiệt độ, độ ẩm ). - Có 3 dạng phóng xạ: + Tia phóng xạ alpha (α) là hạt 4 7 nhân 2 He phóng ra từ hạt nhân mẹ với tốc độ khoảng 2.10 m/s. Hạt nhân mẹ thường là các hạt nhân nặng, có số khối A>190. Tia α làm ion hóa mạnh môi trường vật chất, khả năng đâm xuyên yếu. + Phóng xạ  gồm hai loại là phóng xạ - và phóng xạ +, có bản chất tương ứng là 0 0 hạt electron ( −1e ) và hạt positron ( +1e ) phóng ra từ hạt nhân mẹ với tốc độ xấp xỉ tốc độ ánh sáng trong chân không. Tia  làm ion hóa môi trường vật chất ở mức trung bình, có khả năng đâm xuyên mạnh hơn tia α, nó có thể xuyên qua tờ giấy dày 1 mm nhưng bị chặn bởi tấm nhôm dày khoảng 1 mm. Sản phẩm của phóng xạ , ngoài hạt nhân con, các hạt , còn có các hạt cơ bản khác là phản hạt neutrino (  ) và hạt neutrino (  ) không mang điện, có khối lượng nghỉ vô cùng nhỏ. + Phóng xạ gamma () là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn cỡ nhỏ hơn 10-11 m, có năng lượng cao nên khả năng đâm xuyên rất mạnh, dễ dàng xuyên qua các vật liệu thông thường, thậm chí xuyên qua được lớp bê tông dày hàng chục cm, có thể bị chặn lại bởi tấm chì dày khoảng 10 cm. Tia  có khả năng ion hóa mạnh, tác dụng sinh lí mạnh và rất nguy hiểm với các sinh vật sống. Trong quá trình phóng xạ α,  hoặc trong phản ứng phân hạch, BM-SK02 Trang 6
  7. phản ứng nhiệt hạch, một số hạt nhân được sinh ra ở trạng thái kích thích cao, khi chuyển về trạng thái cơ bản hoặc trạng thái có mức năng lượng thấp hơn chúng sẽ phát ra tia bức xạ điện từ là tia . Phóng xạ  là phóng xạ duy nhất không gây ra sự biến đổi hạt nhân. - Định luật phóng xạ: Trong quá trình phân rã phóng xạ, số hạt nhân chất phóng xạ còn lại giảm theo thời gian theo định luật hàm số mũ. t − T −t Nt== N 0 2 N 0 e trong đó: N0, là số hạt nhân chất phóng xạ ban đầu (t = 0), Nt và số hạt nhân chất phóng xạ còn lại tại thời điểm t. T là chu kì bán rã của chất phóng xạ,  là ln2 hằng số phóng xạ ( = ) T - Chu kì bán rã của chất phóng xạ là khoảng thời gian ngắn nhất sau đó một nửa số hạt nhân chất phóng xạ hiện có bị phân rã, biến đổi thành hạt nhân khác. - Khối lượng chất phóng xạ tỉ lệ thuận với số hạt nhân chất phóng xạ nên khối lượng chất phóng xạ cũng giảm theo thời gian theo định luật hàm số mũ. t − T −t mt== m 0 2 m 0 e trong đó: m0, là khối lượng chất phóng xạ ban đầu (t = 0), mt và khối lượng chất phóng xạ còn lại tại thời điểm t. - Độ phóng xạ: Đặc trưng cho tính phóng xạ mạnh hay yếu của một lượng chất phóng xạ, được đo bằng số phân rã trong một đơn vị thời gian. (Tốc độ phóng xạ, phân rã của một lượng chất phóng xạ). t N dN ln2 − H= − = − = − N' = N .2T =  .N t dt T 0t t − −tt − T H=  .N000 .e = H .e = H .2 trong đó: H00= .N là độ phóng xạ ban đầu. - Độ phóng xạ của chất phóng xạ cũng giảm theo thời gian theo định luật hàm số mũ. - Đơn vị đo độ phóng xạ trong hệ SI là Becơren (Bq): 1 Bq= 1 phân rã/giây. Trong thực tế, độ phóng xạ còn có đơn vị khác là curi (Ci). 1 Ci = 3,7.1010 Bq. BM-SK02 Trang 7
  8. Bước 3: Tìm hiểu ảnh hưởng của tia phóng xạ đối với sức khỏe con người và ứng dụng của các đồng vị phóng xạ trong đời sống và khoa học - Các tia phóng xạ có thể gây tác động mạnh tới tế bào của con người cũng như sinh vật. Vì vậy, khi bị phơi nhiễm phóng xạ với liều lượng lớn trong thời gian dài có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và di truyền. Ảnh hưởng của tia phóng xạ lên cơ thể người phụ thuộc vào cường độ, khả năng ion hóa, khả năng đâm xuyên, thời gian chiếu, của tia phóng xạ. + Với phóng xạ alpha: khả năng đâm xuyên của tia α kém nên khi nguồn phóng xạ bên ngoài cơ thể thì có thể không gây hậu quả đáng kể nhưng do khả năng iôn hóa mạnh nên nếu nguồn phóng xạ đi vào cơ thể thì sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng. + Với phóng xạ : khả năng ion hóa và khả năng đâm xuyên ở mức trung bình, khi nguồn phóng xạ ở trong hay ngoài cơ thể đều có thể gây ra các hậu quả đáng kể. + Với phóng xạ : khả năng ion hóa kém hơn tia α, tia  nhưng khả năng đâm xuyên rất mạnh, khi nguồn phóng xạ ở trong hay ngoài cơ thể đều có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng. - Nguyên tắc an toàn phóng xạ + Giữ khoảng cách đủ xa với các nguồn phóng xạ. + Sử dụng các tấm chắn nguồn phóng xạ đủ tốt. + Giảm thiểu tối đa thời gian phơi nhiễm phóng xạ. + Sử dụng các biển cảnh báo nguy hiểm phóng xạ. - Ứng dụng của các đồng vị phóng xạ trong các lĩnh vực khác nhau của kĩ thuật và đời sống chủ yếu dựa trên hai yếu tố: Tương tác mạnh của tia phóng xạ với môi trường vật chất mà nó đi qua. Do sự phát tia phóng xạ, các đồng vị phóng xạ dễ được phát hiện bằng các máy đo phóng xạ, nên có thể đóng vai trò của các nguyên tử đánh dấu. * Trong lĩnh vực y học + Ứng dụng kĩ thuật y học hạt nhân trong chuẩn đoán và điều trị bệnh: Kĩ thuật chụp hình phát hiện ung thư bằng máy SPECT (Single Emission Computed Tomography – Kĩ thuật chụp cắt lớp đơn photon), PET (Positron BM-SK02 Trang 8
  9. Emisssion Tomography - Kĩ thuật chụp cắt lớp phát xạ positron) kết hợp với CT như SPECT/CT, PET/CT, giúp chuẩn đoán ung thư, kiểm tra và đánh giá mức độ hiệu quả của các phương pháp điều trị. 131 + Sử dụng dược chất phóng xạ vào cơ thể người bệnh: Dùng đồng vị 53 I dưới dạng sodium iodide trong điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp, sẽ truy tìm và lưu lại ở những nơi còn tế bào ung thư hoặc các tổ chức di căn, phát ra bức xạ β tiêu diệt tế bào ung 131 131 0 − thư tuyến giáp: 53I→ 54 Xe +− 1 e (  ) - Xạ trị: ứng dụng điều trị ung thư. Sử dụng các hạt và sóng có năng lượng cao như: tia X, tia gamma, chùm tia điện tử, proton, ... để tiêu diệt hoặc phá hủy tế bào ung thư. * Trong công nghiệp, nông nghiệp, nghiên cứu khoa học - Đồng vị phóng xạ được dùng trong chụp X-quang công nghiệp, tìm kiếm các khuyết tật trong vật liệu, đo mực chất lỏng trong bồn chứa, đo độ dày của các vật liệu, kiểm tra tính toàn vẹn của mối hàn hay cấu trúc turbine của máy bay phản lực, - Sử dụng đồng vị phóng xạ trong theo dõi quá trình hấp thụ các nguyên tố trong phân bón hoặc làm thay đổi cấu trúc gên để tạo giống mới, năng suất và kinh tế hơn. - Sử dụng đồng vị phóng xạ tron lĩnh vực xử lí nước thải, thăm dò vật chất ô nhiễm từ dược phẩm phóng xạ. Ví dụ: 3 + Đồng vị tritium 1T để đánh dấu, nghiên cứu nước thải và chất thải lỏng. 54 + Đồng vị Manganese 25 Mn để đánh giá kim loại nặng trong nước thải, - Vai trò của các nguyên tử đánh dấu trong nghiên cứu di truyền học, giải mã gen, tìm hiểu sự vận chuyển của các axit amin trong cơ thể sinh vật, - Gây ra các đột biến gen tạo thành các giống mới với nhiều tính chất ưu việt. Cây trồng đột biến gen cho khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất cao 60 - Tia γ của đồng vị 27 Co là tác nhân tiệt trùng, chống nấm mốc trong bảo quản lương thực, thực phẩm và các loại hạt giống. BM-SK02 Trang 9
  10. - Phương pháp nguyên tử đánh dấu dùng để theo dõi sự di chuyển của nước mặt, nước ngầm, kiểm tra tốc độ thấm qua đê, đập, thăm dò dầu khí, -Tia γ có khả năng đâm xuyên mạnh dùng kiểm tra độ đặc khít của bê tông và các vật liệu kết khối, phát hiện các khuyết tật, nứt, gẫy nằm sâu trong vật liệu. - Gây ra các biến đổi hoá học tạo ra các loại vật liệu mới. - Phát hiện các tạp chất hoá học ở nồng độ rất nhỏ. * Trong việc xác định niên đại cổ vật 14 Đồng vị carbon 6 C là đồng vị phóng xạ được dùng trong xác định niên đại cổ vật. Đồng vị được hình thành trong tự nhiên theo phản ứng 1 14 14 1 sau: 0n+ 7 N → 6 C + 1 p . Đồng vị trong tự nhiên phát 14 phóng xạ β tạo ra 7 N theo phương trình phản ứng 14 14 0 6C→+ 7 N− 1 e . Sau thời gian dài, quá trình tạo thành và phân rã cân bằng nhau, tỉ lệ trong tự nhiên là xác định. có mặt khắp nơi trong môi trường, chủ yếu ở dạng CO2, thực vật quang hợp, hấp thụ CO2, chuyển hóa thành chất hữu cơ, làm thức ăn cho động vật, nên trong cơ thể động, thực vật luôn có đồng vị . Khi sinh vật chết, chúng ngừng hấp thụ và bắt đầu quá trình phân rã phóng xạ . Các nhà khoa học đã tính toán được khoảng thời gian để một nửa lượng bị phân hủy, gọi là chu kì bán hủy. Chu kì bán hủy của là khoảng 5730 năm. Bằng cách đo tỉ lệ với tổng lượng carbon trong mẫu, so sánh với chu kì bán hủy để xác định niên đại cổ vật. Bước 4: Thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm Đúng – Sai chủ đề “Phóng xạ” * Xác định nội dung câu hỏi - Dựa trên chương trình học và tài liệu tham khảo, giáo viên sẽ xác định các khái niệm chính cần thiết về phóng xạ. Điều này có thể bao gồm: - Các loại phóng xạ (alpha, beta, gamma) BM-SK02 Trang 10
  11. - Các đặc điểm và tính chất của từng loại phóng xạ - Định luật về phóng xạ. - Ảnh hưởng của phóng xạ tới sức khỏe con người và môi trường - Ứng dụng của phóng xạ trong y học, công nghiệp, nông nghiệp, khảo cổ,... * Biên soạn câu hỏi - Mỗi câu hỏi được xây dựng dưới dạng Đúng - Sai. Câu hỏi cần rõ ràng, dễ hiểu và được phân loại theo độ khó tăng dần để phù hợp với năng lực của học sinh. Bước 5: Thực hiện giải pháp thông qua các ví dụ điển hình Ví dụ 1. Phóng xạ là hiện tượng một hạt nhân nguyên tử không bền vững tự biến đổi, giải phóng năng lượng dư thừa, phát ra các bức xạ hạt nhân được gọi là các tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác bền vững hơn. Tia phóng xạ có thể là chùm các hạt mang điện dương như hạt alpha và positron hoặc mang điện âm như chùm electron phóng xạ beta, không mang điện như tia gamma. a) Tia beta có thể làm ion hóa vật chất. b) Khi chuyển động trong điện trường giữa hai bản kim loại phẳng tích điện trái dấu, tia phóng xạ alpha bị lệch về phía bản tích điện dương. c) Tia phóng xạ + là dòng các hạt proton. d) Tia  có thể bị chặn lại bởi một là nhôm dày 1 cm. Đáp án: a) Đ, b) Sai, c) Sai, d) Sai. Hướng dẫn giải a) Một trong những tính chất của tia phóng xạ beta là có khả năng gây ion hóa vật chất mà nó va chạm trên đường đi. 4 b) Hạt alpha có bản chất là hạt nhân 2 He mang điện tích +2e nên khi chuyển động trong điện trường giữa hai bản kim loại phẳng tích điện trái dấu thì dưới tác dụng của lực điện trường hạt alpha có xu hướng bị lệch về phía bản tích điện âm. + 0 c) Bản chất của tia phóng xạ  là dòng các hạt positron +1e chứ không phải hạt proton. d) Tia  có khả năng đâm xuyên mạnh, nó có thể truyền xuyên qua vật chất thông thường, nhưng có thể bị chặn lại bởi một lá chì dày 1 cm chứ không phải lá nhôm dày 1 cm. BM-SK02 Trang 11
  12. 60 - Ví dụ 2. Máy chiếu xạ dùng nguồn phóng xạ Cobalt 27 Co, phóng xạ  với chu kì bán rã 5,27 năm để điều trị ung thư. Nguồn phóng xạ trong máy sẽ được thay mới nếu như độ phóng xạ của nó giảm còn 50% độ phóng xạ ban đầu. 60 61 a) Sản phẩm phân rã của Cobatl 27 Co là Nickel 28 Ni. b) Hằng số phóng xạ của Cobatl là 0,132 s-1. c) Nguồn phóng xạ trong máy cần được thay thế sau mỗi 5,27 năm. d) Tại thời điểm thay nguồn phóng xạ, số hạt nhân còn lại trong nguồn bằng 50% số hạt nhân ban đầu. Đáp án: a) Sai, b) Sai, c) Đúng, d) Đúng. Hướng dẫn giải a) Theo định luật bảo toàn số nucleon và định luật bảo toàn điện tích, phương trình phóng xạ - 60 60 0 60  của Cobalt 27 Co là: 27Co→+− 1 e 28 X 60 Do đó, sản phẩm phân rã của Cobatl là Nickel 28 Ni. ln2 ln2 b) Hằng số phóng xạ của Cobatl là  = = 4,17.10−−91 s . T 5,27.365.86400 c) d) Vì chu kì bán rã của Cobatl là 5,27 năm nên cứ sau mỗi thời gian là 5,27 năm thì 50% số hạt nhân Cobatl bị phân rã, còn lại 50% số hạt Cobatl trong nguồn ban đầu. Ví dụ 3. Người ta tiêm dược chất phóng xạ FDG vào người bệnh để chụp ảnh PET bên trong cơ thể bệnh 18 + nhân. FDG chứa đồng vị 9 F phóng xạ  với chu kỳ 11 bán rã khoảng giờ. 6 a) Mỗi hạt nhân thuộc đồng vị có 9 nucleon. 18 b) Hạt nhân con sinh ra trong quá trình phóng xạ là 8 O . c) Trong quá trình phân rã của một hạt nhân đã có sự biến đổi một proton thành neutron. d) Trước khi chụp ảnh PET, bệnh nhân được tiêm liều lượng FDG thích hợp, tùy theo cân nặng của mỗi người. Giả sử bệnh nhân được tiêm một liều lượng FDG xác định, sau thời gian 150 phút liều lượng giảm, còn lại 35% so với lúc đầu. BM-SK02 Trang 12
  13. Đáp án: a) Sai, b) Đúng, c) Sai, d) Sai. Hướng dẫn giải a) Số nucleon của đồng vị là 18. 18 0 18 b) Phương trình phóng xạ: 9F→++ 1 e 8 O . 18 c) Hạt biến đổi thành hạt 8 O. d) Phần trăm liều lượng phóng xạ còn lại so với lúc đầu là: 150 − t 11 − .60 N T 6 =2 = 2 0,3886 = 38,86% N0 Ví dụ 4. Hình bên biểu diễn sự thay đổi độ phóng xạ của một mẫu chất phóng xạ - theo thời gian. a) Chu kì bán rã của chất phóng xạ là 1,5 giờ. b) Kể từ thời điểm ban đầu, số hạt nhân chất phóng xạ còn lại trong N mẫu sau 9 giờ bằng 0 số hạt 32 nhân chất phóng xạ ban đầu. c) Sau 4,5 giờ từ thời điểm ban đầu, độ phóng xạ của mẫu là 10 kBq. d) Trong 3 giờ đầu, mẫu chất phát ra 20000 hạt electron. Đáp án: a) Đúng, b) Sai, 18 c) Đúng, d) Sai. 9 F Hướng dẫn giải a) Từ đồ thị ta thấy: Độ phóng xạ ban đầu của chất phóng xạ trên là H0 = 80 kBq và độ phóng H xạ còn lại sau 1,5 giờ là H = 40 kBq = 0 nên chu kì bán rã của chất phóng xạ trên là 1,5 giờ. 2 b) Số hạt phóng nhân chất phóng xạ còn lại trong mẫu sau 9 giờ bằng t 9 − − N N= N .2T = N .21,5 = 0 . 0064 t 4,5 − − T 1,5 c) Sau 4,5 giờ từ thời điểm ban đầu, độ phóng xạ của mẫu là: H= H0 .2 = 80.2 = 10 kBq. d) Trong 3 giờ đầu, mẫu chất phát ra 20000 hạt electron BM-SK02 Trang 13
  14. Số hạt electron phát ra trong 3 giờ đầu là: t t t 3 3 −HH − − 80.10 − N = N (1 − 2TTT ) =00 (1 − 2 ) = (1 − 2 ).T = (1 − 21,5 ).1,5.3600 4,67.108 hạt 0  ln 2 ln 2 131 Ví dụ 5. Iodine 53 I là một hạt nhân phóng xạ phổ biến được tìm thấy trong chất thải phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân. Nó trải qua quá trình phân rã − và trở thành một hạt nhân ổn định xenon-131 với chu kỳ bán rã là 8,02 ngày. Cho khối lượng mol iodine-131 là 131g. Trong các phát biểu sau đây, phát biểu nào đúng, phát biểu nào sai. a) Hạt nhân con xenon có số neutron là 77. b) Độ phóng xạ của 1 kg iodine -131 nguyên chất ban đầu là 4,6.10¹⁸ Bq. c) Một phản ứng phân rã iodine-131 tỏa năng lượng 0,466 MeV, giả sử toàn bộ năng lượng phân rã của iodine-131 trở thành nhiệt, công suất tỏa nhiệt ban đầu của 1 kg iodine-131 là 3,43.10⁴ W. d) Ngay cả sau khi lò phản ứng đã ngừng hoạt động và phản ứng phân hạch hạt nhân đã dừng hoàn toàn thì các sản phẩm phân hạch có tính phóng xạ như iodine-131 vẫn tiếp tục tạo ra nhiệt. Đáp án: a) Đúng, b) Đúng, c) Sai, d) Đúng. Hướng dẫn giải 131 0− 131 a) Phương trình phóng xạ: 53I→− 1  + 54 Xe, ta thấy hạt nhân con xenon có số neutron là 131 – 54 = 77 neutron. b) Độ phóng xạ của 1 kg iodine-131 nguyên chất ban đầu là 1000 ln(2) H==.6,02.1023 . 4,6.10 18 ( Bq ). 131 8,02.24.3600 c) Công suất tỏa nhiệt ban đầu của 1 kg iodine-131 trong 1s là 1000 ln(2) PW==.6,02.1023 . .0,466.1,6.10− 13 3,43.10 5 ( ). 131 8,02.24.3600 d) Ngay cả sau khi lò phản ứng đã ngừng hoạt động và phản ứng phân hạch hạt nhân đã dừng hoàn toàn thì các sản phẩm phân hạch có tính phóng xạ như iodine-131 vẫn tiếp tục tạo ra nhiệt do phóng xạ này là phóng xạ tự nhiên. Ví dụ 6. Để xác định máu trong cơ thể một bệnh nhân, bác sĩ tiêm vào máu người đó 10 cm3 24 -3 một dung dịch chứa 11 Na có chu kì bán rã 15 giờ với nồng độ 10 mol/lít. 24 -5 a) Số mol 11Na đã đưa vào trong máu bệnh nhân là 10 mol. b) Khối lượng đã đưa vào trong máu bệnh nhân là 2,4.10-4 g. c) Sau 6 giờ lượng chất phóng xạ còn lại trong máu bệnh nhân là 1,8.10-4 g. BM-SK02 Trang 14
  15. d) Sau 6 giờ người ta lấy ra 10 cm3 máu bệnh nhân và đã tìm thấy 1,5.10-8 mol của chất . Giả thiết rằng chất phóng xạ được phân bố trong toàn bộ thể tích máu bệnh nhân. Thể tích máu trong cơ thể bệnh nhân là 5 lít. Đáp án: a) Đúng, b) Đúng, c) Sai, d) Đúng. Hướng dẫn giải −3 − 3 − 5 a) Số mol đã đưa vào trong máu bệnh nhân là: n= CM .V = 10 .10.10 = 10 mol -4 b) Khối lượng đã đưa vào trong máu bệnh nhân là : m0 = n.M= 2,4.10 g. c) Sau 6 giờ lượng chất phóng xạ còn lại trong máu bệnh nhân là −6 15 −4 m = m0 .2 1,819.10 g . d) Sau 6 giờ người ta lấy ra 10 cm3 máu bệnh nhân và đã tìm thấy 1,5.10-8 mol của chất . Thể tích máu trong cơ thể bệnh nhân là 5 lít. Ví dụ 7. Hình bên biểu diễn sơ đồ hoạt động của cảm biến báo khói ion hóa. Nguồn phóng 241 xạ α Americium 95 Am được đặt giữa hai bản kim loại nối với một pin. Các hạt α được phóng ra làm ion hóa không khí giữa hai bản kim loại đặt song song và nối vào hai cực của nguồn điện, cho phép một dòng điện nhỏ chạy giữa hai bản kim loại đó và chuông báo không kêu. Nếu có khói bay vào giữa hai bản kim loại, các ion trong này sẽ kết hợp với các phân tử khói và dịch chuyển chậm hơn làm cường độ dòng điện giữa hai bản kim loại giảm đi. Khi dòng điện giảm tới mức nhất định thì cảm biến báo khói sẽ gửi tín hiệu kích hoạt đến chuông báo cháy. Nguồn phóng xạ α Americium chứa trong cảm biến báo khói ion hóa có khối lượng ban đầu là 0,2025 g. Biết hằng số phóng xạ của bằng 5,086.10-11 s-1. Lấy khối lượng nguyên tử xấp xỉ bằng số khối của nguyên tử tính theo đơn vị 23 -1 amu, 1 năm = 365 ngày và số Avogadro NA= 6,02.10 mol . 24Na a) Chu kì bán11 rã của Americium xấp xỉ bằng 432,2 năm. b) Số lượng hạt nhân Americium ban đầu xấp xỉ bằng 5,06.1017 hạt. BM-SK02 Trang 15
  16. c) Độ phóng xạ của nguồn phóng xạ α Americium ở thời điểm ban đầu xấp xỉ bằng 25,7.103 Bq. d) Sau khi sử dụng 15 năm, độ phóng xạ của nguồn phóng xạ α Americium trong cảm biến báo khói đã giảm xấp xỉ 0,0238 % so với độ phóng xạ của nguồn ở thời điểm ban đầu. Đáp án: a) Đúng, b) Sai, c) Đúng, d) Sai. Hướng dẫn giải ln 2 ln 2 a) Chu kì bán rã của Americium là: T== 342,2 năm.  5,086.10−11 b) Số lượng hạt nhân Americium ban đầu là: m 0,2025.10−6 N=0 N = .6,02.1023 = 5,06.10 14 hạt. 0AA 241 c) Độ phóng xạ của nguồn phóng xạ α của Americium ở thời điểm ban đầu −11 14 3 là: H00=  .N = 5,086.10 .5,06.10 25,7.10 Bq. d) Tỉ lệ phần trăm241 giữa độ phóng xạ của nguồn phóng xạ α của Americium đã giảm 95 Am so với độ phóng xạ ban đầu là: H −t − 5,086.10−11 .15.365.86400 =(1 − e ) = (1 − e ) 0,0238 2,38% H0 90 Ví dụ 8. Strontium 38Sr là một trong số các bụi phóng xạ nguy hiểm từ các vụ nổ hạt nhân. Chu kì bán rã của là 28,8 năm. Strontium khi bị bò ăn phải, sẽ tập trung trong sữa của bò và sẽ được lưu lại trong xương của những người uống sữa bò đó. Strontium khi nằm trong xương sẽ phát ra các tia phóng xạ có năng lượng lớn, phá hủy tủy xương và do đó làm suy yếu sự sản xuất tế bào hồng cầu. Strontium có khối lượng mol là 90 g/mol. Lấy 23 -1 một năm có 365 ngày. Số Avogadro là NA = 6,02.10 mol . a) Hằng số phóng xạ của xấp xỉ là 7,63.10-10 s-1. b) Khi một hạt nhân phóng xạ -, sản phẩm phân rã là một hạt nhân có 37 proton và 53 neutron. c) Khối lượng tích tụ trong xương sẽ giảm bớt 20% so với ban đầu sau thời gian 15 năm. d) Độ phóng xạ của lượng có khối lượng 0,0145 g có giá trị xấp xỉ 74,0 kBq. Đáp án: a) Đúng, b) Sai, c) Sai, d) Đúng. Hướng dẫn giải BM-SK02 Trang 16
  17. ln 2 ln 2 a) Hằng số phân ra của là  = = 7,63.10−−10 s 1 T 28,8.365.86400 - 90 0 A b) Phương trình phân rã  của là : 38Sr→+− 1 e Z X Dùng định luật bảo toàn số nuclon và định luật bảo toàn điện tích ta được 90= 0 + A A = 90 A 90 →→Z X là 39Y (Yttrium) 38= − 1 + Z Z = 39 Yttrium có 39 proton và 90 -39 = 51 neutron c) Độ giảm tỉ đối của có trong xương người sau thời gian t =15 năm là t − t 15 T − − mmm− m00 m .2 T 28,8 = = −1 = − 1 = 2 − 1 = 2 − 1 − 30,3% mo m 0 m 0 m 0 d) Độ phóng xạ của lượng có khối lượng m= 0,0145 g là ln 2 m ln 2 0,0145.10−6 H=  N = . .N = . .6,02.1023 74020 Bq = 74,0 kBq T MA 28,8.365.86400 90 Ví dụ 9. Các tính chất bán rã của phóng xạ được ứng dụng để chế tạo Pin nguyên tử. Pin nguyên tử có độ tin cậy cao, có thể duy trì ở mức cao trong thời gian dài khi sử dụng nguồn phóng xạ có chu kì bán rã lớn. Pin thường được sử dụng cho các nhiệm vụ đòi hỏi yêu cầu cao như thiết bị y tế đặc biệt 90 hoặc các chuyến du 38hànhSr vũ trụ dài ngày,... Suất điện động của pin tỉ lệ thuận với độ phóng xạ. Người ta sẽ thay pin khi công suất pin giảm 50% so với giá trị công suất ban đầu. Trên pin có ghi dòng chữ Pu-238-2,5Ci-1974. Biết rằng đồng vị Pu này có chu kì bán rã là 87,7 năm. Biết công suất pin tỉ lệ với bình phương suất điện động. a) Trong dòng chữ Pu-238-2,5Ci-1974 nghĩa là độ phóng xạ của mẫu chất là 2,5Ci. b) Khối lượng tối thiểu của đồng vị phóng xạ được cho vào pin nguyên tử là 0,15g. c) Công suất pin giảm đi 50% thì suất điện động giảm đi 0,71 lần. d) Sau 10 năm, người bệnh cần thay pin nguyên tử cho thiết bị điều hòa tim. Đáp án: a) Đúng, b) Đúng, c) Đúng, d) Sai. Hướng dẫn giải a) Từ nguồn có ghi 2,5 Ci. Như vậy độ phóng xạ ban đầu là H0 = 2,5 Ci. .m A.H A.0,5H0 b) Ta có: HNH=  = .NmA → = = = 0,15g A .NAA .N c) Vì công suất tỉ lệ với bình phương suất điện động. BM-SK02 Trang 17
  18. Khi công suất giảm 0,5 lần thì suất điện động giảm 0,15= 0,71 lần. tt −− TT d) Áp dụng công thức H= H0 .2 0,5H 0 = H 0 .2 → t = 87,7 năm. Ví dụ 10. Giải thưởng Nobel Hóa học năm 1960 thuộc về Willard F.Libby (1908-1980) cho 14 công trình nghiên cứu chất phóng xạ 6 C , dùng để định tuổi trong khảo cổ, địa chất, địa vật lý học... Công trình nghiên cứu này bắt đầu từ 1950 khi Willard F.Libby làm việc tại Đại học Chicago, chính thức được công nhận năm 1955 và đến 1960 thì nó mang lại cho ông giải thưởng Nobel danh giá. Khi còn sống, động thực vật tồn tại trong trạng thái cân bằng với môi trường xung quanh thông qua quá trình trao đổi carbon với khí quyển hoặc thông qua chế độ hấp thụ 14 14 dinh dưỡng của chúng. Do vậy, lượng 6 C trong chúng có tương quan với lượng 6 C khí quyển. Để xác định tuổi của một mẫu gỗ cổ, các nhà nghiên cứu nhận thấy khi cây gỗ chết, 14 lượng 6 C trong thân cây bị phân rã với chu kỳ khoảng 5730 năm. Tại thời điểm khảo sát 14 mẫu gỗ cổ, các nhà nghiên cứu nhận thấy lượng 6 C chỉ bằng một phần ba lượng trong mẫu gỗ tương đương đang còn sống. a) Khi lượng chất trong mẫu gỗ cổ càng bé so với mẫu gỗ tương đương đang còn sống thì tuổi cổ vật càng nhỏ. b) Để xác định tuổi cổ vật các nhà nghiên cứu sử dụng định luật phân rã phóng xạ t - T N= N0 .2 . Trong công thức này T là tuổi của cổ vật. c) Hằng số phân rã phóng xạ của đồng vị gần đúng là  = 3,8.10−12 s-1. d) Tuổi của cổ vật vào khoảng 9082 năm. Đáp án: a) Sai, b) Sai, c) Đúng, d) Đúng. Hướng dẫn giải 14 a) 6 C phân rã càng nhiều thì khối lượng còn lại càng nhỏ. Tuổi cổ vật càng lớn. b) T là chu kỳ bán rã, t là tuổi của cổ vật. ln 2 ln 2 c) λ== 3,8.10−−12( s 1 ) . T 5730.365.24.3600 t t - N − d) N=N .2T 0 = N .25730 = t 9082 (năm). 003 BM-SK02 Trang 18
  19. Bước 6: Tổ chức luyện tập, vận dụng giải pháp Chuyển giao nhiệm vụ học tập: Trên cơ sở đã hướng dẫn trực tiếp thông qua các ví dụ, tôi đã yêu cầu các nhóm học sinh trong lớp thảo luận, nghiên cứu giải pháp giáo viên đã thực hiện và vận dụng giải pháp đó để giải một số bài tập tương tự. Thực hiện nhiệm vụ học tập: khuyến khích học sinh hợp tác với nhau khi thực hiện nhiệm vụ học tập; phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ quên". Báo cáo kết quả và thảo luận: Học sinh đại diện các nhóm thực hiện trình bày và báo cáo nội dung áp dụng giải pháp đề giải bài tập nhóm mình được phân công. Giáo viên kịp thời xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: Giáo viên nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của học sinh; chính xác hóa các kiến thức mà học sinh đã học được thông qua giải pháp. Bước 7: Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện giải pháp * Kết quả khi thực hiện giải pháp: Phiếu điều tra mức độ hứng thú của học sinh trước khi áp dụng giải pháp Họ và tên học sinh: Lớp: ... Trường: ............................................... Em hãy đánh dấu X vào những ô tương ứng thể hiện mức độ hứng thú của mình đối với dạng bài tập về “ Phóng xạ” mà các em đã được học. Mức độ Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú Phiếu điều tra mức độ hứng thú của học sinh sau khi áp dụng giải pháp Họ và tên học sinh: Lớp: ... Trường: .............................................. Mức độ BM-SK02 Trang 19
  20. Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú Em hãy đánh dấu X vào những ô tương ứng thể hiện mức độ hứng thú của mình đối với câu hỏi trắc nghiệm Đúng – Sai chủ đề “Phóng xạ” đã được trình bày. Sau khi tiến hành lấy phiếu điều tra đối với 80 em học sinh ở hai lớp 12A1 và 12A2 trường THPT Bố Hạ năm học 2024 - 2025, tôi thu được kết quả như sau: Các bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp. Mức độ hứng thú của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú 2 (2,27%) 14 (17,5%) 25 (31,25%) 39 (48,75%) Mức độ hứng thú của học sinh sau khi áp dụng sáng kiến Rất hứng thú Hứng thú Bình thường Không hứng thú 9 (11,25%) 48 (60%) 21 (26,25%) 2 (2,5%) Rất hứng thú Rất hứng thú Hứng thú Hứng thú Bình thường Bình thường Không hứng thú Không hứng thú Trước khi áp dụng sáng kiến Sau khi áp dụng sáng kiến Từ kết quả thống kê cho thấy, trước khi áp dụng sáng kiến, tỉ lệ học sinh cảm thấy bình thường và không hứng thú với dạng các câu hỏi và bài tập về phóng xạ khá cao. Các em cho rằng, đây là dạng bài tập khó, biểu thức toán học phức tạp, cồng kềnh, biến đổi toán học khó khăn nên đọc đến dạng bài tập này các em mặc định là bài tập ở mức độ vận dụng cao nên không mấy hứng thú. Cũng bởi vì các câu hỏi, bài tập chủ đề này chưa gắn với thực tiễn cuộc sống, chưa kích thích được sự sáng tạo, say mê tìm hiểu các ứng dụng thực thế của chủ đề đã học. Tuy nhiên sau khi áp dụng sáng kiến này, tỉ lệ học sinh hứng thú với dạng bài tập này tăng lên đáng kể, học sinh tập trung, say sưa áp dụng và tìm ra câu trả lời là đúng hay sai khá nhanh chóng và chính xác, học sinh có những lí lẽ, căn cứ rõ ràng khi áp dụng các kiến thức đã học về phóng xạ vào các tình huống thực tiễn. Điều đó chứng tỏ rằng, năng lực của BM-SK02 Trang 20