Sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn GDCD lớp 12

doc 66 trang An Diệp 02/03/2026 270
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn GDCD lớp 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsu_dung_phuong_phap_lien_he_thuc_tien_thong_qua_cau_chuyen_p.doc

Nội dung tài liệu: Sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn GDCD lớp 12

  1. SỞ GD&ĐT BẮC GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THPT YÊN THẾ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THUYẾT MINH Mô tả giải pháp và kết quả thực hiện sáng kiến 1. Tên sáng kiến: SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢNG DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 06/9/2019. 3. Các thông tin cần được bảo mật (Nếu có): Không. 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Hiện nay, ở trường Trung học phổ thông môn Giáo dục công dân lớp 12 do tính đặc thù của môn thuộc khoa học xã hội; bên cạnh đó, kiến thức môn học liên quan đến pháp luật cho nên rất "khô khan", do đó, học sinh không hứng thú học. Trong thời gian tôi giảng dạy, tôi thấy tình trạng học sinh không học bài cũ, không xem bài mới còn phổ biến, khi đưa ra một yêu cầu về nhà sưu tầm tranh ảnh hoặc viết cảm nghĩ thì học sinh không có hứng khởi làm, có làm cũng là miễn cưỡng, bắt buộc do đó hiệu quả mang lại không cao. Từ việc không thích học môn Giáo dục công dân lớp 12 cho nên học sinh có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, ý thức pháp luật kém, thiếu niềm tin trong cuộc sống, không có tính tự chủ, dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, như: - Đa số giáo viên chưa đầu tư xứng đáng cho môn học, vẫn còn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, giảng giải kiến thức, ít phát huy tính tích cực và phát triển tư duy; chỉ khai thác những câu chuyện, thông tin, sự kiện, tình huống có sẵn ở sách giáo khoa, chưa tự tìm tòi những điều mới để đưa vào bài giảng của mình sao cho phù hợp, sinh động. 1
  2. - Chính vì học tập một cách đơn điệu thụ động nên học sinh không hiểu sâu sắc vấn đề, không biết vận dụng để giải quyết các tình huống trong cuộc sống, không có kỹ năng làm bài thi THPT QG nên kết quả không cao. - Ngoài ra, trong thực tế dạy và học ở trường, phương tiện dạy học còn thiếu thốn. Tranh ảnh trực quan giúp học sinh tìm hiểu và liên hệ trực tiếp vào cuộc sống nhà trường chưa được trang bị. - Đặc biệt, do tâm lý chung của mọi người, trong đó cha mẹ học sinh cho rằng đây là môn học phụ, kết quả học tập thế nào không quan trọng lắm, vì vậy cũng không quan tâm nhiều và chưa chú ý động viên con em tích cực học tập. Từ những lí do trên mà trong giờ học Giáo dục công dân lớp 12 chưa gây hứng thú cho học sinh. Vì vậy, trong giảng dạy Giáo dục công dân lớp 12, tôi đã sử dụng các câu chuyện pháp luật để gây hứng thú cho học sinh. Đây là đề không mới mẻ, trong quá trình tìm hiểu, tham khảo tôi phát hiện những đề tài có nội dung liên quan: + Sáng kiến” Sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn GDCD lớp 12” - Nguyễn Thị Hồng (trường THPT Thanh Khê – Đà Nẵng). + “Tình huống GDCD 12” chủ biên Trần Văn Thắng, NXB Giáo dục, năm 2008. Nhìn chung, một số bài viết, sách tình huống GDCD 12 chưa đi sâu vào việc sử dụng các câu chuyện pháp luật trong dạy học. Sách giáo khoa GDCD 12 hiện nay chỉ có phần công dân với pháp luật, với nhiều kiến thức khó đối với học sinh. Để giúp HS hiểu và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, trước hết GV phải tạo sự đam mê cho HS đối với môn học. Với kinh nghiệm của mình qua nhiều năm giảng dạy tôi xin mạnh dạn đưa ra một biện pháp tạo sự hứng thú cho HS bằng cách sử dụng các câu chuyện pháp luật. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Bắt đầu từ năm học 2016- 2017, môn GDCD chính thức trở thành môn thi tốt nghiệp trong kì thi THPT Quốc gia. Vì thế, giảng dạy môn GDCD, để gây hứng 2
  3. thú cho HS, ngoài việc đổi mới và đa dạng hóa các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, tăng cường sử dụng tranh ảnh, mô hình, video minh hoạ, tổ chức nhiều trò chơi, thực hiện nhiều nội dung ngoại khoá phong phú, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HS và tình hình địa phương thì GV còn phải sử dụng các câu chuyện pháp luật để gây hứng thú cho học sinh. Chương trình Giáo dục công dân lớp 12 đã đề cập đến một chủ đề lớn: "Công dân với pháp luật", đó là bản chất và vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội. Mặt khác, qua môn Giáo dục công dân lớp 12 học sinh hiểu được quyền và nghĩa vụ cơ bản của một công dân, có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩn mực, có ý thức tuân thủ luật pháp và có khả năng thực hiện đúng những quy định của pháp luật. Thêm vào đó, sau khi học hết lớp 12, tốt nghiệp THPT, bước qua tuổi 18, đi ra ngoài xã hội, các em sẽ gặp phải rất nhiều tình huống, sự việc xã hội phức tạp, với sự hiểu biết còn hạn chế, nhất là về những hiểu biết pháp luật sẽ khiến cho các em dễ bị dụ dỗ, lôi kéo, sa ngã vào những con đường xấu. Chính vì vậy, việc trang bị cho các em những kiến thức pháp luật lại càng cần thiết hơn nữa. Môn GDCD là một trong những môn thi THPT Quốc gia nên việc tạo sự hứng thú cho HS đối với môn học này là rất cần thiết, góp phần đáng kể trong việc học và ôn thi hiệu quả. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến. Đánh giá được thực trạng việc học tập môn Giáo dục công dân 12 của học sinh ở trường Trung học phổ thông. Thông qua đó, nâng cao ý thức và sự thích thú học môn Giáo dục công dân lớp 12 bằng việc sưu tầm, chọn lọc các câu chuyện pháp luật phù hợp với nội dung từng bài. Sáng kiến có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề nâng cao hứng thú học môn Giáo dục công dân lớp 12. Việc sưu tầm, sử dụng các câu chuyện pháp luật vào giảng dạy môn GDCD 12 nhằm tạo nên sự hung thú của HS đối với môn học này, từ đó giúp các em có 3
  4. khẩ năng vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, khắc sâu hơn kiến thức pháp luật để giải quyết các bài tập tình huống trong đề thi THPT QG. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả ôn thi THPT QG và ôn thi HSG môn GDCD. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến * Giải pháp 1: QUY TRÌNH SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢNG DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12. - Tên giải pháp: QUY TRÌNH SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢNG DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12. - Nội dung: Sử dụng câu chuyện pháp luật để dạy học Giáo dục công dân lớp 12. - Các bước tiến hành thực hiện giải pháp : Bước 1: Giáo viên chuẩn bị các câu chuyện pháp luật có nội dung phù hợp với bài học. Sau đó, giáo viên tóm tắt ý chính của câu chuyện cho ngắn gọn, dễ hiểu, dễ đưa vào bài học. Đặt ra những tình huống cụ thể để cho học sinh theo dõi. Bước 2: Học sinh lắng nghe câu chuyện. Giáo viên yêu cầu học sinh phân tích và trả lời câu hỏi ở cuối câu chuyện. Bước 3: Giáo viên theo dõi, lắng nghe, phân tích và tổng hợp các ý kiến của học sinh trả lời; đồng thời nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận. Ví dụ 1: Khi truyền đạt kiến thức ở phần 1b: "Nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia đình" (Bình đẳng giữa cha mẹ và con cái) - Bài 4: "Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội", Giáo viên kể, trình chiếu hình ảnh và tóm tắt nội dung câu chuyện pháp luật cho học sinh nghe: “Con gái ngược đãi mẹ già”. 4
  5. Theo cáo trạng của Viện KSND huyện Cần Đước, ngày 7-9, trên mạng xã hội Facebook lan truyền đoạn clip quay lại hình bà Hoa có hành vi dùng bạo lực hành hung, ngược đãi mẹ già là bà N.T.Đ (79 tuổi), gây phẫn nộ và bức xúc trong cộng đồng. Người con gái bạo hành mẹ già 80 tuổi lãnh 4 năm tù giam (Báo Long An, ngày 17/11/2020) - Bước 1: Giáo viên tóm tắt ý chính và kể cho học sinh nghe về câu chuyện để củng cố phần 1b trong khoảng 2 phút. - Bước 2: Giáo viên đưa ra câu hỏi sau khi kết thúc: 1. Những hành vi của người con đã vi phạm tội gì? 2. Em có nhận xét gì hành vi đó? - Bước 3: Giáo viên theo dõi và phân tích, tổng hợp ý kiến của các nhóm, đồng thời bổ sung, kết luận: Hành vi của người con gái là vi phạm pháp luật (vi phạm quyền bình đẳng giữa cha mẹ và con cái). Con cái phải có trách nhiệm hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ khi về già, mọi hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm đều bị xã hội lên án, pháp luật trừng phạt nghiêm khắc. Qua đó, chúng ta cần lên án, tố cáo hành vi dã man, ngược đãi cha mẹ của bà Hoa nói riêng và những gia đình khác trong cuộc sống nói chung. Ví dụ 2: Sau khi truyền đạt kiến thức ở phần 2c: "Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý" (Vi phạm hành chính) - Bài 2: "Thực hiện pháp luật". Giáo viên kể cho học sinh nghe câu chuyện pháp luật: Ngày 3/4, TAND TP Đà Nẵng mở phiên xét xử lưu động và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tấn Tài (SN 1993, ngụ phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu) 10 năm 6 tháng tù về tội Giết người. Theo cáo trạng, chiều 10/7/2019, Nguyễn Tấn Tài, Nguyễn Văn Hiệp (SN 1990), Nguyễn Xuân Sơn (SN 1997), Trương Văn Lợi (SN 1991, cùng ngụ TP Đà Nẵng) và 5 người bạn khác ngồi nhậu tại một quán ở biển Xuân Thiều, quận 5
  6. Liên Chiểu (Đà Nẵng).Đến 16 giờ cùng ngày, giữa Sơn và Lợi xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau. Thấy vậy, Tài đứng dậy can ngăn thì bất ngờ bị Hiệp đấm vào mặt. Khi Tài hỏi "sao anh lại đánh em?", thì tiếp tục bị Hiệp đấm tiếp vào má. Lúc này, Tài bỏ chạy ra ngoài thì Sơn đuổi theo, Hiệp chạy theo can ngăn Sơn và đứng cách Tài khoảng 2 mét. Bực tức vì vừa bị đánh trong lúc can ngăn ẩu đả, Tài nhặt cục đá bê tông ném trúng vào đầu Hiệp, khiến nạn nhân ngã xuống đường bất tỉnh. Ngay sau đó, Hiệp được mọi người đưa đi cấp cứu, còn Tài bỏ về nhà. Kết quả giám định Hiệp bị thương tích 28%.Theo hồ sơ, Tài là đối tượng có 2 tiền án, từng bị 5 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.Trong vụ án này, dù đã có hành vi đánh nhau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Sơn, Lợi và Hiệp chỉ bị xử phạt hành chính. • Bị cáo Nguyễn Tấn Tài.(Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam). - Bước 1: Giáo viên tóm tắt ý chính và kể cho học sinh nghe về câu chuyện để củng cố phần 1b trong khoảng 2 phút. - Bước 2: Giáo viên đưa ra câu hỏi sau khi kết thúc: 1. Những hành vi của từng nhân vật trong câu chuyện? 2. Em có nhận xét gì hành vi đó? - Bước 3: Giáo viên theo dõi và phân tích, tổng hợp ý kiến của các nhóm, đồng thời bổ sung, kết luận: Tài là đối tượng có 2 tiền án, từng bị 5 năm tù về tội 6
  7. “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.Trong vụ án này, dù đã có hành vi đánh nhau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Sơn, Lợi và Hiệp chỉ bị xử phạt hành chính. Cứ mỗi tình huống nêu ra, sau khi phân tích, giáo viên có thể gợi ý cho học sinh phát biểu thêm những tình huống khác minh họa nội dung của bài học. - Kết quả khi thực hiện giải pháp: Học sinh được gắn kiến thức đã học vào thực tế, từ những hành vi cụ thể của nhân vật được đề cập trong tình huống để xác định loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý. + Sản phẩm được tạo ra từ giải pháp: Ngày soạn: /09/2020 TIẾT 5 - BÀI 2: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT I. MỤC TIÊU BÀI HỌC 1. Về kiến thức. - Hiểu các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí. 2. Về kỹ năng. - Biết cách thực hiện pháp luật đúng pháp luật phù hợp với lứa tuổi. 3. Về thái độ, phẩm chất - Thái độ: Có thái độ tôn trọng pháp luật; Ủng hộ những hành vi thực hiện đúng pháp luật và phê phán những hành vi làm trái quy định pháp luật. 4. Các năng lực và phẩm chất hướng tới hình thành và phát triển ở học sinh - Về phẩm chất: Thông qua việc giảng dạy sẽ góp phần hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất như: nhân ái, trung thực, trách nhiệm - Về năng lực: Năng lực chung: năng lực tự học và tự chủ, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề Năng lực đặc thù môn GDCD: thông qua bài học sẽ góp phần hình thành, phát triển cho học sinh như: năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân 7
  8. 5. Nội dung tích hợp trong môn và tích hợp liên môn * Môn GDCD: Giáo dục biên giới quốc gia, biển đảo, Giáo dục kĩ năng sống, Phòng chống tham nhũng * Liên môn: II. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC 1. Phương pháp dạy học: Tổ chức hoạt động thảo luận nhóm, xử lí tình huống, đóng vai, kể chuyện 2. Hình thức dạy học chính: làm việc theo nhóm, làm việc cá nhân học sinh nghiên cứu tự học, tự làm dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Dạy học trên lớp là chủ yếu, kết hợp làm việc tại nhà và tìm hiểu trên các kênh thông tin khác nhau III. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH 1. Chuẩn bị của giáo viên - Tài liệu chính thức: Sách giáo khoa, sách giáo viên Giáo dục công dân. - Tài liệu tham khảo khác: + Hồ Thanh Diện: Thiết kế bài giảng Giáo dục công dân, NXB. Hà Nội, 2007. + Vũ Hồng Tiến - Trần Văn Thắng - Nguyễn Thị Hoa: Tình huống Giáo dục công dân, NXB. Giáo dục, TP. Hồ Chí Minh, 2008. - Dùng các dụng cụ dạy học trực quan như sơ đồ tư duy, máy chiếu, bảng phụ, bút dạ . 2. Chuẩn bị của học sinh - Dùng các dụng cụ học tập, bảng phụ, bút dạ, vở ghi . III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 1. Ổn định tổ chức lớp: Kiểm tra sĩ số lớp, kiểm tra việc chuẩn bị bài, chuẩn bị đồ dung học tập của học sinh, các nhóm học sinh 2. Kiểm tra bài cũ: Học sinh trình bày kết quả chuẩn bị nhiệm vụ đã giao ở bài học trước: Bộ luật hình sự quy định như thế nào về người không có năng lực trách nhiệm hình sự. 3. Các hoạt động học: I. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG 8
  9. Hoạt động của Giáo viên và Học sinh Nội dung bài học Hoạt động 1: Học sinh bước đầu tiếp cận các biểu hiện của vi phạm pháp luật *Mục tiêu, phương pháp, hình thức: Thấy được biểu hiện của một số loại vi phạm pl và trách nhiệm PL phải chịu.Tích cực tìm hiểu PL để không vi phạ PL. Sử dụng phương pháp thuyết trình, nêu và giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm học sinh học tập và làm việc trên lớp *Thời gian: 5 phút *Cách tiến hành: Học sinh cùng thảo luận tình huống sau Hôm trước đi học về tớ thấy ở ngã tư gần trường mình một chị đi xe máy vượt đèn đỏ bị chú cảnh sát giao thông giữ lại. Chị ấy dúi vào tay chú cảnh sát tờ 200 nghìn và được chú cảnh sát cho đi. Theo em chị đi xe máy đã vi phạm pháp luật gì, vì sao TL: Vi phạm hành chính vì vượt đèn đỏ, và bị xử lý hành chính Từ ví dụ này giáo viên dẫn dắt cho học sinh thấy được trong cuộc sống có nhiều hành vi vi phạm PL, tùy vào tính chất mức độ và hậu quả người ta phân chia thành các loại vi phạm khác nhau * Dự kiến sản phẩm của học sinh: Hậu quả phải gánh chịu nếu vi phạm pháp luật * Dự kiến đánh giá phẩm chất năng lực: góp phần hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất như: trung thực, trách nhiệm năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động xã hội. 9
  10. II. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI Hoạt động của Giáo viên và Học sinh Nội dung bài học Hoạt động 2: Tìm hiểu nội dung các loại vi c/Các loại vi phạm phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí pháp luật và trách * Mục tiêu, phương pháp, hình thức: Phân biệt nhiệm pháp lí: được các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý. GV sử dụng phương pháp thuyết trình thảo luận nhóm để giúp các e hiểu nội dung bài * Vi phạm hình sự: Là học trên lớp những hành vi nguy hiểm * Thời gian: 20 phút cho xã hội bị coi là tội * Cách tiến hành: + GV phát phiếu học tập và phạm quy định tại Bộ hướng dẫn HS làm việc theo yêu cầu: Thảo luận luật Hình sự. nhóm đôi, ghi những nội dung cơ bản của các loại - TNHS: Người phạm vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí tương tội phải chịu trách nhiệm ứng theo phiếu học tập: hình sự, phải chấp hành + Cá nhân HS đọc SGK và thực hiện yêu cầu của hình phạt theo quy định phiếu học tập. của Tòa án. Người từ đủ - Thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh thảo luận 14 đến dưới 16 tuổi phải nhóm đôi để hoàn thiện phiếu học tập.Báo cáo kết chịu trách nhiệm hình sự quả thực hiện nhiệm vụ về tội phạm rất nghiêm + GV yêu cầu đại diện từng nhóm đôi học sinh (4 trọng do cố ý hoặc tội nhóm) trình bày phần làm việc của mình (có thể phạm đặc biệt nghiêm viết lên khổ giấy A0 đã được in theo mẫu trên, trọng. Người từ 16 tuổi hoặc đọc trước lớp) trở lên phải chịu trách + HS: Nhận xét bổ sung nhiệm hình sự về mọi tội - Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: phạm . Giáo viên nhận xét kết quả thảo luận và định * Vi phạm hành chính: hướng học sinh nêu: Là hành vi vi phạm pháp - Vi phạm hình sự luật có mức độ nguy 10
  11. + Vi phạm pháp luật: Là những hành vi nguy hiểm cho xã hội thấp hơn hiểm cho xã hội, bị coi là tội phạm được quy định tội phạm, xâm phạm các tại Bộ luật Hình sự quy tắc quản lí nhà nước + Trách nhiệm pháp lí tương ứng: Người phạm tội . phải chấp hành hình phạt theo quyết định của Toà - TNHC: Người vi án. phạm phải chịu trách - Vi phạm hành chính nhiệm hành chính theo + Vi phạm pháp luật: Là hành vi vi phạm pháp quy định của pháp luật . luật có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội Người từ 14 đến 16 tuổi phạm, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước bị xử phạt hành chính về + Trách nhiệm pháp lí tương ứng: Người có hành vi phạm hành chính do vi vi phạm hành chính (cá nhân, tổ chức, cơ quan) cố ý ; người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hành chính, như: bị phạt tiền, trở lên bị xử phạt hành phạt cảnh cáo, khôi phục lại tình trạng ban đầu, thu chính về mọi vi phạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm, hành chính do mình gây . ra. - Vi phạm dân sự *Vi phạm dân sự: Là + Vi phạm pháp luật: Là hành vi vi phạm pháp hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ tài sản (quan hệ luật, xâm phạm tới các sở hữu, quan hệ hợp đồng ...), và quan hệ nhân quan hệ tài sản (quan hệ thân. sở hữu, quan hệ hợp + Trách nhiệm pháp lí tương ứng: Người có hành đồng ) và quan hệ nhân vi vi phạm dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự, thân (liên quan đến các như: bồi thường thiệt hại về vật chất và đôi khi quyền nhân thân, không còn có trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thể chuyển giao cho thần. người khác. - Vi phạm kỷ luật - TNDS: Người có + Vi phạm pháp luật: Là hành vi vi phạm pháp luật hành vi VP dân sự phải liên quan đến kỉ luật lao động và công vụ nhà nước. chịu trách nhiệm dân sự. do pháp luật lao động và pháp luật hành chính bảo Người từ đủ 6 tuổi đến 11
  12. vệ. chưa đủ 18 tuổi khi tham + Trách nhiệm pháp lí tương ứng: Cán bộ, công gia các giao dịch dân sự chức, viên chức vi phạm kỉ luật phải chịu trách phải được người đại diện nhiệm kỉ luật với các hình thức khiển trách, cảnh theo PL cáo, hạ bậc lương, chuyển công tác khác, buộc thôi *Vi phạm kỉ luật: Là vi việc, . phạm pháp luật xâm * Dự kiến sản phẩm của học sinh: Phân biệt rõ phạm các quan hệ lao được các loại vi phạm pháp luật và những biểu động, công vụ nhà hiện của nó trong đời sống nước do pháp luật lao động, pháp luật hành chính bảo vệ. * Dự kiến đánh giá năng lực: Thông qua việc - TNKL: Cán bộ, công giảng dạy sẽ góp phần hình thành, phát triển chức, viên chức vi phạm cho học sinh các phẩm chất như: trung thực, kỉ luật phải chịu trách trách nhiệm, năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực nhiệm kỉ luật với các phát triển bản thân hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, chuyển công tác khác, buộc thôi việc III. HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP * Mục tiêu, phương pháp, hình thức: Giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức về các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý, để từ đó có thái độ tôn trọng pháp luật. Sử dụng linh hoạt các phương pháp như đàm thoại, phát vấn và giải quyết vấn đề. Kết hợp việc giao bài tập theo cá nhân và nhóm với việc học sinh chủ động làm việc trên lớp * Thời gian: 8 phút * Cách tiến hành: Giáo viên kể cho học sinh nghe câu chuyện pháp luật: Ngày 3/4, TAND TP Đà Nẵng mở phiên xét xử lưu động và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tấn Tài (SN 1993, ngụ phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu) 10 năm 6 tháng tù về tội Giết người. 12
  13. Theo cáo trạng, chiều 10/7/2019, Nguyễn Tấn Tài, Nguyễn Văn Hiệp (SN 1990), Nguyễn Xuân Sơn (SN 1997), Trương Văn Lợi (SN 1991, cùng ngụ TP Đà Nẵng) và 5 người bạn khác ngồi nhậu tại một quán ở biển Xuân Thiều, quận Liên Chiểu (Đà Nẵng).Đến 16 giờ cùng ngày, giữa Sơn và Lợi xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau. Thấy vậy, Tài đứng dậy can ngăn thì bất ngờ bị Hiệp đấm vào mặt. Khi Tài hỏi "sao anh lại đánh em?", thì tiếp tục bị Hiệp đấm tiếp vào má. Lúc này, Tài bỏ chạy ra ngoài thì Sơn đuổi theo, Hiệp chạy theo can ngăn Sơn và đứng cách Tài khoảng 2 mét. Bực tức vì vừa bị đánh trong lúc can ngăn ẩu đả, Tài nhặt cục đá bê tông ném trúng vào đầu Hiệp, khiến nạn nhân ngã xuống đường bất tỉnh. Ngay sau đó, Hiệp được mọi người đưa đi cấp cứu, còn Tài bỏ về nhà. Kết quả giám định Hiệp bị thương tích 28%. Theo hồ sơ, Tài là đối tượng có 2 tiền án, từng bị 5 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Trong vụ án này, dù đã có hành vi đánh nhau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Sơn, Lợi và Hiệp chỉ bị xử phạt hành chính. Bị cáo Nguyễn Tấn Tài.(Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam). - Bước 1: Giáo viên tóm tắt ý chính và kể cho học sinh nghe về câu chuyện để củng cố phần 1b trong khoảng 2 phút. - Bước 2: Giáo viên đưa ra câu hỏi sau khi kết thúc: 13
  14. 1. Những hành vi của từng nhân vật trong câu chuyện? 2. Em có nhận xét gì hành vi đó? - Bước 3: Giáo viên theo dõi và phân tích, tổng hợp ý kiến của các nhóm, đồng thời bổ sung, kết luận: Tài là đối tượng có 2 tiền án, từng bị 5 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.Trong vụ án này, dù đã có hành vi đánh nhau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Sơn, Lợi và Hiệp chỉ bị xử phạt hành chính. Học sinh làm bài tập trắc nghiệm sau: Câu 1: Theo quy định của pháp luật, người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, bị coi là tội phạm thì phải A. hủy bỏ mọi thông tin. B. chịu trách nhiệm hình sự. C. chịu khiếu nại vượt cấp. D. hủy bỏ đơn tố cáo. Câu 2: Vi phạm kỉ luật là hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm các quan hệ lao động và A. giao dịch dân sự. B. trao đổi hàng hóa. C. chuyển nhượng tài sản. D. công vụ nhà nước. Câu 9: Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm, xâm phạm các A. quy tắc quản lí xã hội. B. quy tắc quản lí của nhà nước. C. quy tắc kỉ luật lao động. D. nguyên tắc quản lí hành chính. Câu 3: Công dân có hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản thuộc loại vi phạm nào sau đây? A. Vi phạm công vụ B. Vi phạm quy chế C. Vi phạm hành chính D. Vi phạm dân sự Câu 4: Người phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình gây ra có độ tuổi nào dưới đây? A. Từ 15 tuổi trở lên. B. Từ 16 tuổi trở lên. C. Từ đủ 14 tuổi trở lên. D. Từ đủ 16 tuổi trở lên. Câu 5: Những hành vi vi phạm pháp luật có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, vi phạm đến các quy tắc quản lý của nhà nước là gì? 14
  15. A. Vi phạm hình sự. B. Vi phạm hành chính. C. Vi phạm dân sự. D. Vi phạm kỷ luật. Câu 6: Sau khi viết bài phản ánh hiện tượng bảo kê tại khu chợ đầu mối X lên mạng xã hội, chị A thường xuyên bị ông B là chủ một đường dây cho vay nặng lãi nhắn tin dọa giết cả nhà khiến chị hoảng loạn tinh thần phải nằm viện điều trị dài ngày. Ông B đã vi phạm pháp luật nào dưới đây? A. Hình sự. B. Hành chính. C. Kỉ luật. D. Dân sự. Câu 7: Anh M và anh K hướng dẫn cho anh N và anh V sử dụng thiết bị đọc trộm thông tin ở thẻ ATM và làm thẻ giả để lấy trộm tiền của nhiều người. Một hôm, khi anh N và anh V đang rút tiền thì bị công an bắt quả tang. Anh N chạy thoát còn anh V bị đưa về trụ sở công an. Những ai dưới đây phải chịu trách nhiệm hình sự? A. Anh K, anh N. B. Anh M, anh K, anh V, anh N. C. Anh N, anh V. D. Anh M, anh K, anh V. Câu 8: Ông A cho ông B vay 100 triệu đồng để kinh doanh và giao hẹn sau 2 năm sẽ trả. Vì kinh doanh thua lỗ nên ông B chưa trả hết nợ. Ông A đã thuê anh C và anh D đến đập phá đồ đạc và lấy xe máy của ông B để trừ nợ. Ông H là hàng xóm sang can ngăn thì bị anh C đánh trọng thương vùng đầu. Những ai dưới đây phải chịu trách nhiệm hình sự? A. Ông A, anh C, anh D. B. Ông B, anh D, ông H. C. Ông A, ông B, anh D. D. Ông A, ông B, anh C, anh D. * Dự kiến sản phẩm của học sinh: Học sinh thấy được một số biểu hiện vi phạm pháp luật mà bản thân cần tránh * Dự kiến đánh giá năng lực: năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu IV. HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG + MỞ RỘNG * Mục tiêu, phương pháp, hình thức: Học sinh vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết một số tình huống trong thực tiễn. Kết hợp phương pháp thuyết trình và nếu vấn đề trong việc hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ và giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh 15
  16. * Thời gian: 5 – 7 phút * Cách thức tiến hành: Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà thực hiện nhiệm vụ sau 4 Nhóm cùng làm nội dung này vào giấy A0 So sánh các loại vi phạm pháp luật Loại VP Chủ thể Hành vi Trách Chế tài Chủ thể VP nhiệm TN ADPL Hình sự Hành chính Dân sự Kỉ luật * Dự kiến sản phẩm của học sinh: Phân biệt được điểm giống và khác nhau của các loại vi phạm pháp luật * Dự kiến đánh giá năng lực: năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu và tự học. V. HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TỰ HỌC Học sinh làm bài tập trong sách giáo khoa. Để đánh giá hiệu quả của giải pháp tôi tiến hành khảo sát HS. PHIẾU KHẢO SÁT HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GDCD Họ tên . Lớp: .. Hãy chọn câu trả lời có hoặc không cho mỗi câu hỏi. Câu Nội dung Có Không Bình hỏi thường 1 Em có thích học môn GDCD không? 2 Em có hào hứng trong giờ học GDCD không? 3 Em có thích nghe các câu chuyện pháp luật trong giờ học GDCD không? 4 Các câu chuyện pháp luật trong giờ học GDCD có giúp các em hiểu bài không? 5 Các câu chuyện pháp luật có giúp các em vận dụng vào bài thi THPT QG không? 16
  17. + Các bảng số liệu, biểu đồ so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện giải pháp: Khi chưa sử dụng câu chuyện pháp luật vào dạy học Giáo dục công dân lớp 12. - Học sinh phần lớn không tập trung, chú ý vào bài giảng của cô, cá biệt còn có những em mang môn học khác ra học trong giờ Giáo dục công dân và chỉ dừng lại khi bị giáo viên khiển trách, nhắc nhở. - Học sinh uể oải, chán nản với những kiến thức khô khan của môn học. - Thụ động học bài, thụ động ghi chép, không hứng thú, tập trung để tiếp thu kiến thức môn học. Kết quả khảo sát: Lớp Sĩ Số học sinh (%) số Hứng thú Bình thường Không hứng thú 12a1 40 4,4 26,7 68,9 12a2 41 4,2 23,8 73,8 12a3 40 4,5 29,5 66 12a4 46 6 29,5 64,5 12a5 42 7 34 58 12a6 48 6,5 30 63.5 12a7 48 5,5 29,5 65 Khi sử dụng câu chuyện pháp luật vào dạy học Giáo dục công dân lớp 12 Câu chuyện pháp luật quả là một trong những phương tiện giảng dạy hiệu quả chương trình Giáo dục công dân lớp 12. Kết quả là: - Học sinh hứng thú say mê, tích cực, chủ động suy nghĩ trong việc tìm tòi kiến thức. - Học sinh mạnh dạn, chủ động tranh luận cởi mở, sôi nổi, tự tin đưa ra ý kiến của mình, lắng nghe ý kiến đóng góp, phê bình của các bạn; từ đó giúp học sinh hoà đồng với cộng đồng, tạo cho học sinh tự tin hơn. 17
  18. Lớp Sĩ Số học sinh (%) số Hứng thú Bình thường Không hứng thú 12a1 40 38,7 48,8 13,4 12a2 41 42,9 40,4 16,7 12a3 40 43,2 43,2 13,6 12a4 46 50,3 38,2 11,5 12a5 42 48,6 36,7 14,7 12a6 48 47,7 30,2 22,1 12a7 48 48,3 32,2 19,5 * Giải pháp 2: CÁC CÁCH SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢNG DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12. - Tên giải pháp: CÁCH SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢNG DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12. - Nội dung: Các cách sử dụng câu chuyện pháp luật để giảng dạy GDCD lớp 12. - Các bước tiến hành thực hiện giải pháp : +Bước 1: Sử dụng câu chuyện pháp luật để giới thiệu bài. Thay thế cho cách giới thiệu bài thông thường bằng phương pháp thuyết trình, giáo viên có thể sử dụng một câu chuyện pháp luật để gây hứng thú cho học sinh khi bước vào bài mới. Ví dụ: Để dẫn học sinh vào bài 1: "Pháp luật và đời sống", giáo viên có thể sử dụng câu chuyện sau: Vụ “Công ty Fosmosa xả chất thải ra biển” 18
  19. Vụ gây ô nhiễm môi trường biển do công ty Formosa “lộ ra” từ hiện tượng các chết ngày 6-4-2016 trên vùng biển cảng Vũng Áng thuộc địa phận thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nguyên nhân gây ra sự cố môi trường làm hải sản chết hàng loạt tại ven biển bốn tỉnh miền Trung được xác định do công ty Formosa gây ra trong quá trình vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy, đã có những vi phạm và để xảy ra sự cố, dẫn tới nước thải có chứa độc tố phenol, xyanua chưa được xử lý đạt chuẩn xả ra môi trường. Công ty Formosa đã nhận trách nhiệm, xin lỗi Chính phủ, nhân dân và bồi thường 500 triệu USD. Hỏi: Em có suy nghĩ gì trước vụ việc trên? Giáo viên: Câu chuyện trên nói về hành vi vô trách nhiệm của con người. Đây chỉ là một trong số rất nhiều trường hợp trong xã hội được pháp luật phát hiện. Vậy còn những trường hợp khác chưa được đưa ra ánh sáng thì sao? Các em hãy tưởng tượng nếu như đời sống của mỗi người dân chúng ta không được pháp luật bảo vệ thì sẽ như thế nào? Vậy pháp luật nước ta có vai trò và trách nhiệm như thế nào đối với đời sống? Chúng ta sẽ tìm hiểu nội dung bài học hôm nay. + Bước 2: Sử dụng câu chuyện pháp luật để dẫn dắt vào từng đơn vị kiến thức. Nội dung câu chuyện ở đây có thể không phải là nội dung chung của toàn bài mà chỉ là một câu chuyện mang một nội dung của một đơn vị kiến thức. Dẫn dắt theo lối này là một cách làm có hiệu quả, tạo cho học sinh sự bất ngờ, thu hút được sự chú ý của các em. Ví dụ 1: Để dẫn học sinh vào phần 1b: "Quyền sáng tạo của công dân" - bài 8: "Pháp luật với sự phát triển của công dân". Giáo viên có thể sử dụng câu chuyện pháp luật Đặng Minh Đức với mô hình “Máy xúc nông sản bán tự động” Đặng Minh Đức là học sinh giỏi nhiều năm liền Trường THCS Thác Mơ, TX Phước Long. Bạn được biết đến là thiếu niên năng nổ, hoạt bát và nhiệt tình tham gia các phong trào ở trường lớp và địa phương. Năm 2013, Đức tham gia Cuộc thi sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và đã xuất sắc đoạt giải Ba với mô 19
  20. hình “Máy xúc nông sản bán tự động” rất hữu dụng.Sáng tạo đó được xuất phát từ việc nhiều lần được cùng ba mẹ đến những xưởng chế biến điều ở địa phương, Đức thấy người lao động rất vất vả khi phải phơi và thu gom hạt điều một cách thủ công trên diện tích sân phơi khá rộng lớn. Từ đó, Đức đã nảy ra ý tưởng làm chiếc máy xúc nông sản bán tự động để hỗ trợ người nông dân, đặc biệt là các cơ sở chế biến điều giải quyết bài toán nhân công và năng suất lao động trong thu gom nông sản chỉ với 1 lao động bằng cách sử dụng chiếc máy thu gom này”. Mô hình sáng tạo này của Đức đã được Ban Giám khảo Cuộc thi đành giá là có tính ứng dụng cao và rất phù hợp với điều kiện ở Bình Phước, nếu được ứng dụng rộng rãi vào thực tiễn sẽ giúp tiết kiệm đáng kể sức lao động cũng như nhân công trong việc thu gom nông sản. Sản phẩm của Đức được Sở KH&CN lựa chọn là một trong những sản phẩm tiêu biểu gửi tham dự Cuộc thi toàn quốc. Đức thuyết trình về tính năng của mô hình Hỏi: Em có nhận xét gì về tấm gương Đặng Minh Đức? Giáo viên: Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy em Đặng Minh Đức (mới học cấp 2) nhưng đã sáng tạo ra một sản phẩm có giá trị rất lớn. Hơn nữa, sự nghiệm thu của HĐKH&CN Phước Long đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền đến quyền sáng tạo của công dân. Sự quan tâm đó sẽ được chúng ta tìm hiểu rõ hơn trong những quy định của pháp luật về "Quyền sáng tạo của công dân". 20