Tài liệu bài viết tập san Tháng 2 - Bài: Đôi nét truyện Kiều và 1 số đề tham khảo

pdf 9 trang An Diệp 10/01/2026 100
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu bài viết tập san Tháng 2 - Bài: Đôi nét truyện Kiều và 1 số đề tham khảo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_bai_viet_tap_san_thang_2_bai_doi_net_truyen_kieu_va.pdf

Nội dung tài liệu: Tài liệu bài viết tập san Tháng 2 - Bài: Đôi nét truyện Kiều và 1 số đề tham khảo

  1. BÀI VIẾT TẬP SAN THÁNG 02/2025 ĐÔI NÉT VỀ TRUYỆN KIỀU VÀ MỘT SỐ ĐỀ THAM KHẢO Giáo viên: Yên Thương(Tổ Ngữ Văn) A.Củng cố kiến thức về Truyện Kiều của Nguyễn Du I. Những thông tin chính về tác phẩm Truyện Kiều 1. Nguồn gốc: Tiếp thu đề tài, cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) Biểu hiện của hiện tượng giao lưu và sáng tạo văn hóa. 2. Thể loại: - Được viết theo hình thức truyện thơ Nôm, thể lục bát, gồm 3254 câu thơ. 3. Vị trí - Truyện Kiều là kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam, có sức cuốn hút mãnh liệt, là một sáng tạo thiên tài, được Nguyễn Du viết với cảm hứng mãnh liệt về chính thời đại mình đang sống và bằng những rung động sâu xa của người nghệ sĩ “có con mắt trông thấu cả sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt cả ngàn đời”(Mộng Liên Đường chủ nhân). - Hòa nhập vào đời sống, hình thành những hình thức sinh hoạt văn hóa, văn học độc đáo của người Việt: vịnh Kiều, lẩy Kiều, bói Kiều, đố Kiều.. - Là nguồn đề tài, cảm hứng lớn cho nhiều loại hình nghệ thuật, là đối tượng khám phá của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. 4. Bố cục – Tóm tắt Phần 1: Gặp gỡ và đính ước Phần 2: Gia biến và lưu lạc Phần 3: Đoàn tụ Phần 1: Gặp gỡ và đính ước Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng một gia đình trung lưu lương thiện, sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che” bên cha mẹ và hai em là Thúy Vân, Vương Quan. Trong buổi du xuân nhân tiết Thanh minh, Thúy Kiều gặp chàng Kim Trọng “phong tư tài mạo tót vời”. Giữa hai người chớm nở một tình cảm đẹp. Sau đó, hai người chủ động tự do đính ước với nhau Phần 2: Gia biến và lưu lạc Trong khi Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, Kiều nhờ Vân trả nghĩa cho Kim Trọng còn nàng thì bán mình chuộc cha. Thúy Kiều bị bọn buôn người là Mã
  2. Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó nàng được Thúc Sinh cứu vớt khỏi cuộc đời kĩ nữ. Nhưng rồi Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen tuông, đày đọa. Thúy Kiều phải trốn đến nương nhờ cửa Phật. Sư Giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà – cũng là một kẻ buôn người, nên Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh. Ở đây Thúy Kiều gặp Từ Hải. Từ Hải lấy Kiều, giúp nàng báo ân báo oán. Do mắc lừa quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, Thúy Kiều phải hầu đàn, rượu cho Hồ Tôn Hiến rồ bị ép gả cho viên thổ quan. Đau đớn, tủi nhục, Kiều trẫm mình ở sông Tiền Đường nhưng nàng được sư Giác Duyên cứu lần hai Phần 3: Đoàn tụ Kim Trọng trở lại tìm Kiều, hay tin gia đình Kiều bị tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha, chàng đau đớn vô cùng. Kim Trọng chẳng thể nào nguôi ngoai được mối tình đầu say đắm với Thúy Kiều. Nhờ gặp được sư Giác Duyên, Kim Kiều gặp lại nhau. Chiều ý mọi người, Thúy Kiều nối lại duyên với Kim Trọng, nhưng cả hai cùng nguyện ước “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy” II. Giá trị nội dung 1.Giá trị hiện thực - Ở sáng tác chữ Nôm, Truyện Kiều cũng là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, nơi những thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người, chà đạp lên những số phận bị áp bức, đau khổ. + Thế lực tàn bạo được phản ánh trong Truyện Kiều gồm tầng lớp quan lại, những kẻ lưu manh, vô lại, sự khuynh đảo của đồng tiền,... Tầng lớp quan lại, nhỏ như sai nha ở địa phương, lớn đến mức mang “phương diện quốc gia” như Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến đều mang bản chất tham lam, tàn bạo. Bọn sai nha bất kể lời vu oan của kẻ bán tơ, đã kéo đến nhà Kiều, đánh đập người vô tội rồi “Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”. Hồ Tôn Hiến mở tiệc mừng công sau cái chết oan khốc của Từ Hải, thưởng thức tiếng đàn “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay” của Kiều, với bộ dạng “mặt sắt cũng ngây vì tình”. Những phường lưu manh trong xã hội như “quân buôn người” họ Mã, trùm nhà chứa Tú Bà đã đẩy Thuý Kiều vào cuộc sống lầu xanh khổ đau, tủi nhục. Kẻ vô lại như Sở Khanh đã bất chấp Kiều đang trong hoàn cảnh đáng thương, tìm cách lừa gạt, hãm hại nàng. Đồng tiền cũng trở thành một thế lực, có thể làm lệch cán cân công lí. Bọn sai nha kéo đến nhà Thuý Kiều “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Sắc đẹp, nhân phẩm của Kiều trở thành món hàng để “Cò kè bớt một, thêm hai”. Trong những tháng ngày lưu lạc, Kiều cũng luôn là món hàng “Thoắt mua về, thoắt bán đi”. Đồng tiền có thể “đổi trắng thay đen” với sức mạnh “Tiền lưng đã có, việc gì chẳng xong!”. + Cái nhìn hiện thực sâu sắc của Nguyễn Du còn thể hiện ở chỗ ông đã thấy được những thế lực tàn bạo trong xã hội chính là nguyên nhân dẫn đến thảm cảnh của người dân vô tội. Gia đình Thuý Kiều bỗng nhiên gặp nạn cũng bởi bị vu oan giá hoạ và cửa nhà tan nát bởi quan tham lại nhũng. Trong “Tiếng oan dậy đất, án ngờ loà mây” thì những thân phận như Kiều chỉ là “Con ong cái kiến kêu gì được oan”. Viết về thế lực của đồng tiền, nếu các tác giả trước đây chủ yếu nói về việc đồng tiền đã làm băng hoại đạo đức thì Nguyễn Du còn phơi bày một thực tế là
  3. đồng tiền đã chà đạp lên cuộc sống, nhân phẩm của con người. Điều này phần nào cho thấy giữa cái nhìn hiện thực và trái tim nhân đạo của nhà thơ có mối quan hệ sâu sắc. 2. Giá trị nhân đạo - Tiếng nói đồng cảm, đau xót trước bi kịch của con người trong Truyện Kiều thể hiện tập trung qua hình tượng nhân vật Thuý Kiều. Đời Kiều là một “tấm gương oan khổ” (Hoài Thanh), là sự hội tụ, điển hình cho những bi kịch của con người nói chung, người phụ nữ nói riêng: bi kịch tình yêu, gia đình, nhân phẩm, “tài mệnh tương đố”), “hồng nhan bạc mệnh”,... Giữa những bi kịch ấy, bi kịch hết sức đau đớn đối với Thuý Kiều là bi kịch tình yêu (bi kịch nhìn từ góc độ tuổi trẻ) và bi kịch nhân phẩm (bi kịch nhìn từ góc độ người phụ nữ). Về bi kịch tình yêu: mối tình Kim Trọng – Thuý Kiều đang đẹp thì tan vỡ và tan vỡ không hàn gắn nổi. Bởi sau mười lăm năm lưu lạc, Kiều gặp lại người yêu nhưng không bao giờ gặp lại tình yêu nữa. Về bi kịch nhân phẩm: Thuý Kiều là người rất trọng nhân phẩm, biết giữ gìn nhân phẩm nhưng rồi do hoàn cảnh xô đẩy, nàng phải thất thân”) với kẻ nhơ bẩn, phải “thanh lâu hai lượt”, “Đón người cửa trước, rước người cửa sau”. - Tiếng nói đồng tình với khát vọng chân chính của con người thể hiện tập trung qua tình yêu Kim Trọng – Thuý Kiều và qua các hình tượng nhân vật Thuý Kiều, Từ Hải. Mối tình Kim Trọng – Thuý Kiều là tiếng nói ca ngợi tình yêu tự do, chung thuỷ, khẳng định khát vọng tình yêu khi mối tình của hai người tan vỡ nhưng khát vọng ấy không bao giờ mất. Thuý Kiều là hiện thân của khát vọng sống. Trải qua biết bao “gió dập sóng dồi”, mang thân phận như “con ong cái kiến” nhưng Kiều vẫn vươn lên với khát vọng sống không gì dập tắt nổi. Đoạn Thuý Kiều trả ân, báo oán thể hiện sức mạnh vùng lên của những con người bị áp bức, đau khổ. Nhân vật Từ Hải là hiện thân của khát vọng tự do, công lí. Khát vọng tự do của Từ Hải bộc lộ qua lí tưởng, chí khí, hành động phi thường “đội trời, đạp đất”, “bể Sở sông Ngô tung hoành”. Công lí của Từ Hải là lẽ phải, lẽ công bằng, thể hiện qua tuyên ngôn: “Anh hùng tiếng đã gọi rằng, / Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!”. Công lí ấy hướng đến những số phận nhỏ bé, những con người bị áp bức, đau khổ. Từ Hải giúp Thuý Kiều đòi lại công lí, thực thi lẽ công bằng: người tốt được đền bù, kẻ ác bị trừng trị. Công lí trong Truyện Kiều mang quan điểm của nhân dân từng được thể hiện ở các truyện cổ tích như Thạch Sanh, Tấm Cám... -Tiếng nói trân trọng, ngợi ca những vẻ đẹp của con người: Thúy Kiều là cô gái có tài, sắc, thông minh, nhạy cảm, có lòng hiếu thảo, đức hy sinh, vị tha, sống nặng tình nghĩa, giàu tự trọng... -Tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp con người. 2. Nghệ thuật - Cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều là nỗi đau đứt ruột từ “những điều trông thấy”, như chính tên của tác phẩm là Đoạn trường tân thanh. Việc chuyển thể loại từ tiểu thuyết chương hồi khi tiếp thu Kim Vân Kiều truyện sang truyện thơ Nôm khi sáng tác Truyện Kiều đã giúp Nguyễn Du kết hợp được thế mạnh của cả tự sự và trữ tình.
  4. - Điểm nhìn trần thuật của tác giả cũng có sự thay đổi, từ người đứng ngoài câu chuyện thành người trong cuộc. Do vậy, trong các hình thức ngôn ngữ kể chuyện, Nguyễn Du đặc biệt thành công với ngôn ngữ nửa trực tiếp. - Về cốt truyện, tác phẩm vẫn gồm ba phần Gặp gỡ – Thử thách – Đoàn tụ nhưng khi Thuý Kiều đoàn tụ với gia đình, nhìn hình thức là kết thúc có hậu nhưng bản chất là bi kịch: nàng gặp lại người yêu nhưng không bao giờ gặp lại tình yêu, sống với Kim Trọng trong cảnh “Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ” (Đem tình vợ chồng đối thành tình bạn). - Nghệ thuật xây dựng nhân vật là một thành tựu lớn của kiệt tác Truyện Kiều. Bên cạnh những nhân vật phân theo loại, cũng có nhân vật không thể phân theo loại, khi tốt – xấu đan xen. Các nhân vật trong Truyện Kiều là những nhân vật tính cách, hơn nữa, tính cách có sự thay đổi bởi tác động của hoàn cảnh như nhân vật ThuýKiều. Tính cách nhân vật được khắc hoạ bằng cả bút pháp ước lệ và bút pháp tả thực, bằng cả con người với biểu hiện bên ngoài và con người với đời sống nội tâm. Miêu tả nội tâm nhân vật là một thành công nghệ thuật lớn, mang ý nghĩa cách tân của kiệt tác Truyện Kiều. - Khi miêu tả thiên nhiên, tác giả vừa khắc hoạ vẻ đẹp của cảnh vật, vừa dùng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình” để thể hiện tâm trạng nhân vật. - Câu thơ lục bát trong Truyện Kiều vừa dân dã, bình dị như ca dao, dân ca, vừa trau chuốt nghệ thuật, đạt tới giá trị cổ điển – giá trị khuôn thước, mẫu mực. - Tiếng Việt trong Truyện Kiều rất giàu, rất đẹp, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ văn học dân gian với ngôn ngữ bác học kết tinh từ sách vở. Kiệt tác Truyện Kiều thuộc số không nhiều tác phẩm của quá khứ mà ngôn ngữ vẫn được sử dụng trong đời sống hiện đại, ở mọi hoàn cảnh giao tiếp, ở mọi tầng lớp khác nhau. B.Luyện đề về Truyện Kiều ĐỀ 1 I.Đọc hiểu: đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu: Cho hay là giống hữu tình, Mành Tương phân phất gió đàn, Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong. Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình. Chàng Kim từ lại thư song, Ví chăng duyên nợ ba sinh, Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây. Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi. Sầu đong càng lắc càng đầy, Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người, Ba thu dồn lại một ngày dài ghê. Nhớ nơi kì ngộ vội dời chân đi, Mây Tần khóa kín song the, Một vùng cỏ mọc xanh rì, Bụi hồng dứt nẻo đi về chiêm bao. Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu. Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao, Gió chiều như gợi cơn sầu, Mặt tơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng. Vi lô1 hiu hắt như màu khảy trêu2. 1 Vi lô: Lau
  5. Phòng văn hơi giá như đồng, Trích Truyện Kiều Trúc se ngọn thỏ tơ chùng phím loan. *Bối cảnh của đoạn trích là: Sau khi gặp Thúy Kiều trong cuộc du xuân, Kim Trọng trở về, ôm mối tương tư hình bóng nàng Kiều. Câu 1. Đoạn trích sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? Câu 2. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích. Câu 3. Đoạn trích có thể được chia làm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần? Câu 4. Anh/ chị hiểu như thế nào về nội dung của hai dòng thơ: Sầu đong càng lắc càng đầy, Ba thu dồn lại một ngày dài ghê. Câu 5. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đối trong hai dòng thơ sau: Tuần trăng khuyết đĩa dầu hao, Mặt tơ tưởng mặt lòng ngao ngán lòng. Câu 6. Nhận xét về nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Du trong đoạn trích. Câu 7. Từ đoạn trích trên, anh/ chị có suy nghĩ gì về vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa (Viết khoảng 7-10 dòng) II. LÀM VĂN (2,0d) Anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích tâm trạng của nhân vật Kim Trọng ở đoạn trích trên. ĐỀ 2 I.Đọc hiểu: đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu: Thề nguyền Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường, (Trích Truyện Kiều) -Nguyễn Du- Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa. Cửa ngoài vội rủ rèm the, Bây giờ rõ mặt đôi ta, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình. Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?” Nhặt thưa(1)gương (2)giọi đầu cành, Vội mừng làm lễ rước vào, Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh(3) hắt hiu Đài sen(9) nối sáp lò đào(10) thêm hương. Sinh vừa tựa án(4) thiu thiu, Tiên thề(11) cùng thảo một chương, Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê Tóc mây(12) một món dao vàng(13)chia đôi. Tiếng sen(5) sẽ động giấc hòe (6), Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Bóng trăng đã xế hoa lê(7) lại gần. Đinh ninh hai miệng một lời song song Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần(8). Tóc tơ(14) căn vặn tấc lòng, 2 Khẩy trêu: trêu đùa
  6. Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng. Trăm năm tạc một chữ đồng(15) đến xương. *Bối cảnh của đoạn trích: Sau lần gặp gỡ đầu tiên trong buổi chiều thanh minh thơ mộng, Kim Trọng đi tìm nhà trọ học gần cạnh nhà Thúy Kiều cốt để tìm gặp lại nàng. Hai người đã gặp gỡ, trao kỉ vật làm tin. Một hôm, khi cả gia đình sang chơi bên ngoại, Kiều đã tìm gặp Kim Trọng. Chiều tà, nàng trở về nhà, được tin cả nhà vẫn chưa về, nàng quay lại gặp chàng. Hai người đã làm lễ thề nguyền gắn bó trước "vầng trăng vằng vặc". Chú thích: (1) Nhật thưa: (nhật: mau, dày) chỉ ánh trăng chiếu xuyên qua lá cây tạo thành những khoảng sáng không đều nhau, chỗ sáng nhiều chỗ sáng ít. (2) Gương: ở đây chỉ mặt trăng. (3) Trướng huỳnh: xưa có người nhà nghèo không có đèn để đọc sách, phải bắt đom đóm làm đèn học. Do đó, trướng huỳnh được dùng chỉ phòng học của nho sinh, đồng thời gợi ý hiếu học. Cả câu ở đây ý nói : nhìn từ bên ngoài vào thấy ánh sáng đèn từ phòng học của Kim Trọng lọt ra dìu diu. (4) Án: cái bàn học xưa. (5) Tiếng sen: tiếng bước chân nhẹ nhàng của người đẹp. (6) Giấc hòe: Từ điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hoè, rồi mơ thấy mình ở nước Hoè An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bằng mắt tỉnh dậy thì hoá ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: phú quý chỉ là một giấc chiêm bao. (7) Hoa lê: hoa cây lê, ở đây chỉ người đẹp. (8) Đinh Giáp non thần: bài Phú Cao Đường của Tống Ngọc kể rằng vua nước Sở chơi đất Cao Đường nằm mơ thấy một người đàn bà đẹp, hỏi ở đâu, người đó nói là thần nữ núi Vu Giáp. Non thần: thần núi ấy. Cả câu có nghĩa là Kim Trọng cảm thấy Kiều xuất hiện như là thần nữ của núi Vu Giáp. (9) Đài sen: cái đài hình hoa sen để đặt cây nến. (10) Lò đào: cái lò hương hình trái đào. Cả câu ý nói Kim Trọng đặt thêm nến sáp cho thêm sáng, thắp thêm hương cho thêm thơm. (11) Tiên thề: (tiên: tờ giấy) tờ giấy viết lời thể. (12) Tóc mây: tóc xanh như mây. (13) Dao vàng: chỉ con dao quý, cũng có thể đây chỉ là phép tu từ thuần tuý khi tả con dao mà Kiều và Kim Trọng dùng để cắt tóc thề nguyền, giống như trường hợp bút hoa, lệ hoa, thềm hoa,... (14) Tóc tơ: chỉ những điều chỉ li, tỉ mỉ.
  7. (15) Chữ đồng: chữ đồng tâm, đồng lòng. Câu 1. Nêu nội dung chính của đoạn trích. Câu 2. Chỉ ra giá trị biểu đạt của các từ: vội, xăm xăm, băng khi nói về Thúy Kiều. Câu 3. Ghi lại những câu thơ miêu tả ánh sáng trong trích đoạn. Nhận xét về dụng ý của tác giả trong việc thay đổi sắc độ ánh sáng từ đoạn đầu đến đoạn cuối trong đoạn trích. Câu 4. Tìm các dòng thơ có sử dụng biện pháp tu từ đối trong đoạn thơ sau và nêu tác dụng của bptt: Vội mừng làm lễ rước vào, Đài sen(9) nối sáp lò đào(10) thêm hương. Tiên thề(11) cùng thảo một chương, Tóc mây(12) một món dao vàng(13)chia đôi. Câu 5. Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung của 4 dòng thơ cuối trong đoạn trích? II. LÀM VĂN (2.0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ để trả lời câu hỏi: “Anh/chị có đồng tình với quan niệm về tình yêu của Nguyễn Du được thể hiện trong trích đoạn Thề nguyền không? Vì sao?” ĐỀ 3 I.Đọc hiểu: đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều Người lên ngựa kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Dặm hồng bụi cuốn chinh an Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh. Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi. Vầng trăng ai xẻ làm đôi Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. (Trích Truyện Kiều)
  8. *Bối cảnh đoạn trích: Sau khi bị Sở Khanh lừa, Thuý Kiều phải sống kiếp của một cô gái lầu xanh. Sau đó, Kiều đã được Thúc Sinh “chuộc” ra khỏi lầu xanh, và có một cuộc sống hạnh phúc. Sau một thời gian, Thúc Sinh chia tay Thuý Kiều về nhà gặp vợ là Hoạn Thư để thông báo chuyện giữa hai người. Đoạn thơ này miêu tả cuộc chia tay trên * Giải thích từ ngữ: - Bào: áo. Khi ly biệt người ta hay nắm lấy áo nhau, thể hiện sự quyến luyến. Chia bào tức là buông áo. - Phong: Một loại cây ở Trung Quốc, lá chia ra nhiều cành, đến mùa thu thì sắc lá hoá đỏ. - Quan san: Quan ải, núi non, thường được dùng để chỉ sự xa xôi cách trở. - Dặm hồng: Dặm đường đi giữa bụi hồng. Chinh là đi đường xa, an là yên ngựa. Người ta thường dùng hai chữ chinh an để chỉ việc đi đường xa. Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Những hình ảnh thiên nhiên có trong đoạn trích gợi lên khung cảnh như thế nào? Từ đó chỉ ra một bút pháp nghệ thuật nổi bật có liên quan. Câu 2. Trong các câu thơ: “Người lên ngựa kẻ chia bào”, “Người về chiếc bóng năm canh”,“Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”,“Người” và “kẻ” được nhắc đến là những nhân vật nào? Câu 3. Nêu tác dụng của một phép tu từ nổi bật được sử dụng trong các cặp câu thơ sau: “Người lên ngựa kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.,“Vầng trăng ai xẻ làm đôi/Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường”, “Người về chiếc bóng năm canh/Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”. Câu 4. Ngoài tác phẩm Truyện Kiều, anh/ chị hãy kể tên hai tác phẩm khác viết về đề tài người phụ nữ trong văn học trung đại. Câu 5. Thái độ, tình cảm của tác giả thể hiện trong đoạn trích như thế nào? II.LÀM VĂN(2,0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật trong đoạn trích. ĐỀ 4 I.Đọc hiểu: đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu: Nỗi thương mình - Trích Truyện Kiều_ Mặc người mưa Sở mây Tần, Biết bao bướm lả ong lơi, Những mình nào biết có xuân là gì. Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm. Đòi phen gió tựa hoa kề, Dập dìu lá gió cành chim, Nửa rèm tuyết ngậm bốn bể trăng thâu. Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh. Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Giật mình, mình lại thương mình xót xa. Đòi phen nét vẽ câu thơ, Khi sao phong gấm rủ là, Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa. Giờ sao tan tác như hoa giữa đường. Vui là vui gượng kẻo là,
  9. Mặt sao dày gió dạn sương Ai tri âm đó mặn mà với ai? Thân sao bướm chán ong chường bấy thân! *Bối cảnh của đoạn trích: Cuộc sống của Kiều tại lầu xanh Câu 1. Phân tích giá trị biểu đạt của những điển cố, điển tích và hình ảnh ước lệ có trong 4 dòng đầu của đoạn trích (gợi lên cảnh lầu xanh như thế nào)? Câu 2. Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là ai? Câu 3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ lặp cấu trúc có trong đoạn: “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh... Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!”. Câu 4. Nêu hiệu quả của cách ngắt nhịp trong câu thơ “Giật mình, mình lại thương mình xót xa.” Câu 5. Em hiểu thế nào về 2 dòng thơ cuối của đoạn trích? Câu 6. Viết đoạn văn ngắn ( 7 đến 10 dòng) bày tỏ suy nghĩ về sự giống nhau và khác nhau giữa câu thơ của Nguyễn Du: Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? với câu thơ của Đặng Trần Côn trong Chinh phụ ngâm; Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun II. Làm văn(2,0d) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong đoạn trích Nỗi thương mình Bắc Giang, ngày 06/02/2025