Tài liệu ôn thi HSG Địa lí 12 - Phần 1: Địa lí tự nhiên - Nguyễn Thị Khoa

pdf 51 trang An Diệp 10/01/2026 190
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu ôn thi HSG Địa lí 12 - Phần 1: Địa lí tự nhiên - Nguyễn Thị Khoa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_on_thi_hsg_dia_li_12_phan_1_dia_li_tu_nhien_nguyen.pdf

Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn thi HSG Địa lí 12 - Phần 1: Địa lí tự nhiên - Nguyễn Thị Khoa

  1. PHẦN 1: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN ( tiếp) Người biên soạn: Nguyễn Thị Khoa Tài liệu ôn thi học sinh giỏi lớp 12 CHỦ ĐỀ 3: SỰ PHÂN HÓA ĐA DẠNG CỦA THIÊN NHIÊN PHẦN I- KIẾN THỨC LÝ THUYẾT CƠ BẢN I. THIÊN NHIÊN PHÂN HÓA ĐA DẠNG 1. Phân hóa Bắc - Nam - Phần lãnh thổ phía Bắc (từ khoảng vĩ tuyến 16°B trở ra Bắc): + Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa đông lạnh; mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình năm trên 20°C, có 2 – 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 18°C, biên độ nhiệt trung bình năm lớn. + Hệ sinh thái tiêu biểu là rừng nhiệt đới gió mùa. Mùa đông nhiều loài cây rụng lá; mùa hạ cây cối phát triển xanh tốt. Trong rừng có thành phần loài nhiệt đới chiếm ưu thế, ngoài ra còn có các loài cây cận nhiệt và ôn đới như dẻ, re, sa mu, pơ mu, ; các loài thú có lông dày như gấu, chồn, Mùa đông ở đồng bằng trồng được cây vụ đông. - Phần lãnh thổ phía Nam (từ khoảng vĩ tuyến 16°B trở vào Nam): + Khí hậu cận xích đạo gió mùa, nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình năm trên 25°C, biên độ nhiệt trung bình năm nhỏ. Khí hậu có 2 mùa mưa – khô. + Hệ sinh thái tiêu biểu là rừng cận xích đạo gió mùa. Trong rừng xuất hiện các loài cây chịu hạn, rụng lá vào mùa khô, một số nơi hình thành kiểu rừng thưa nhiệt đới khô (Tây Nguyên). Động vật thuộc vùng nhiệt đới và xích đạo như voi, hổ, báo, trăn, rắn, cá sấu, 2. Phân hóa Đông – Tây Sự phân hóa thiên nhiên nước ta theo chiều đông sang tây với 3 khu vực khá rõ rệt: - Vùng biển và thềm lục địa: thiên nhiên đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới ẩm gió mùa, giàu tài nguyên khoáng sản và sinh vật. Thể hiện mối quan hệ chặt chẽ với vùng đồng bằng, đồi núi, và thay đổi theo từng đoạn bờ biển: thềm lục địa phía bắc và phía nam mở rộng, đáy nông trong khi thềm lục địa miền Trung bị thu hẹp, tiếp giáp vùng biển sâu. - Vùng đồng bằng: thiên nhiên thay đổi tùy nơi + Đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ mở rộng, bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ. Đồng bằng Bắc Bộ có hệ thống đê, đồng bằng Nam Bộ có hệ thống sông ngòi, kênh, rạch chằng chịt. + Đồng bằng ven biển Trung Bộ nhỏ, hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi lan ra sát biển. Thường xuyên chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển ở phía đông và vùng đồi núi ở phía tây, hình thành các dạng địa hình bồi tụ, mài mòn xen kẽ nhau. Đất đai kém màu mỡ, có nhiều hệ sinh thái ở vùng cửa sông, đầm, phá, rừng ngập mặn, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển. - Vùng đồi núi: phân hóa tự nhiên diễn ra khá mạnh mẽ và phức tạp, các dãy núi lớn đã tạo nên những ranh giới tự nhiên cho sự phân hóa Đông – Tây: + Dãy Hoàng Liên Sơn: tạo sự khác biệt giữa vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc, thiên nhiên vùng núi Đông Bắc mang tính cận nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vùng núi Tây Bắc có đủ 3 đai cao.
  2. + Dãy Trường Sơn tạo nên sự đối lập về thời kì mưa và khô giữa Đông Trường Sơn và Tây Nguyên: khi Đông Trường Sơn bước vào mùa mưa thì Tây Nguyên là mùa khô và ngược lại, khi Tây Nguyên vào thời kì mưa nhiều thì ở Đông Trường Sơn khô nóng. 3. Phân hóa theo độ cao Thiên nhiên nước ta có sự phân hóa theo độ cao, bao gồm 3 đai cao: đai nhiệt đới gió mùa, đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi, đai ôn đới gió mùa trên núi. Đai nhiệt đới gió đai cận nhiệt đới gió Đặc điểm đai ôn đới gió mùa trên núi mùa mùa trên núi Từ 600 - 700 m đến Độ Bắc Dưới 600 - 700 m 2600 m cao Trên 2600 m Từ 900 - 1000 m đến TB Nam Dưới 900 - 1000 m 2600 m Mùa hạ nóng (nhiệt Khí hậu mát mẻ Có tính chất ôn đới (quanh độ TB tháng trên (nhiệt độ TB tháng năm nhiệt độ dưới 15°C), Khí hậu 25°C), độ ẩm thay mùa hạ dưới 25°C), mùa đông có nhiệt độ dưới đổi tùy nơi: từ khô mưa nhiều hơn, độ 5°C. đến ẩm ướt. ẩm tăng. Đất phù sa chiếm 24% diện tích, đất Dưới 1700 m là đất feralit phân bố ở feralit có mùn; trên Đất Đất mùn thô vùng đồi núi thấp 1700 m tiêu biểu là chiếm trên 60% đất mùn diện tích. Dưới 1700 m là rừng Rừng nhiệt đới gió cận nhiệt đới lá rộng, Thực vật ôn đới chiếm ưu mùa, rừng thường lá kim; động vật tiêu thế. 2 loài đặc biệt chỉ xuất xanh, rừng nhiệt đới biểu là các loài thú hiện trên 2600 m là thiết Sinh vật ẩm lá rộng, rừng có lông. Trên 1700 sam, lãnh sam. Ở độ cao từ ngập mặn, rừng m rừng phát triển 2800 m trở lên, họ tre trúc tràm, xavan, cây kém; có các loài lùn chiếm ưu thế. buụ gai, chim di cư. II- CÁC MIỀN TỰ NHIÊN 1. miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ.
  3. - Địa hình, đất: + Địa hình đa dạng, đồi núi thấp chiếm ưu thế, hướng các dãy núi theo hướng vòng cung, cao ở phía bắc, thấp dần về phía nam. Đồng bằng tương đối rộng và bằng phẳng. Địa hình các-xtơ khá phổ biến (Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, ). Bờ biển đa dạng: nơi thấp phẳng, nơi nhiều vịnh, đảo như vùng biển tỉnh Quảng Ninh. + Đất có nhiều loại, tiêu biểu là đất feralit trên các loại đá mẹ ở vùng đồi núi thấp, đất phù sa ở ĐB sông Hồng, đất mặn, đất phèn ở vùng ven biển. - Khí hậu: chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của gió mùa Đông Bắc tạo nên một mùa đông lạnh, có tình trạng rét đậm, rét hại. Miền có mùa đông lạnh điển hình nhất. - Sông ngòi: các sông lớn như sông Hồng, sông Chảy, chảy theo hướng tây bắc – đông nam. Khu vực Đông Bắc có các sông như sông Lô, sông Gâm, sông Lục Nam, chảy theo hướng vòng cung. - Sinh vật phong phú và đặc sắc, thuộc khu hệ thực vật Việt Bắc – Hoa Nam, có tới 50% thành phần loài bản địa. Nhiều loài động vật quý hiếm như voọc đầu trắng, voọc quần đùi trắng, công, được bảo tồn tại các vườn quốc gia (Ba Bể, Tam Đảo, Cát Bà, ). Cảnh quan thiên nhiên thay đổi theo mùa, theo khu vực. - Khoáng sản đa dạng: than đá ở Quảng Ninh, Thái Nguyên; than nâu ở ĐB sông Hồng; sắt ở Thái Nguyên; chì – kẽm ở Bắc Kạn; thiếc ở Cao Bằng; khí tự nhiên ở bể Sông Hồng, 2. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
  4. - Địa hình, đất: + Địa hình núi cao và núi trung bình chiếm ưu thế, bị chia cắt mạnh và hiểm trở nhất nước ta. Các dãy núi xen kẽ các thung lũng theo hướng tây bắc – đông nam, có nhiều bề mặt sơn nguyên, cao nguyên, lòng chảo, Ven biển có nhiều cồn cát, đầm phá, nhiều bãi tắm đẹp, xây dựng cảng biển. Đồng bằng nhỏ và bị chia cắt. + Đất feralit trên đá vôi và feralit trên các loại đá khác phổ biến ở vùng đồi núi; đất phù sa chủ yếu ở các đồng bằng Thanh Hóa, Nghệ An, dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế. - Khí hậu: sự giảm sút ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ TB năm tăng dần và biên độ nhiệt giảm. Dãy Hoàng Liên Sơn ngăn cản sự xâm nhập trực tiếp của gió mùa Đông Bắc vào khu vực Tây Bắc, làm cho mùa đông ở Tây Bắc ấm và ngắn hơn Đông Bắc. Do tác động bức chắn dãy Trường Sơn Bắc, hình thành gió Tây khô nóng ở Bắc Trung Bộ vào đầu mùa hạ. - Sông ngòi: nhiều sông lớn như sông Đà, sông Cả, sông Mã, chảy theo hướng tây bắc – đông nam; những sông nhỏ, dốc, bắt nguồn từ vùng núi phía tây đổ ra Biển Đông. - Sinh vật: hội tụ nhiều luồng sinh vật, đặc biệt là luồng Hi-ma-lay-a – Vân Quý, Ấn Độ - Mi-an-ma và Ma-lai-xi-a – In-đô-nê-xi-a. Rừng còn tương đối nhiều ở vùng núi Nghệ An, Hà Tĩnh, thành phần thực vật phương Nam chiếm ưu thế ở Trường Sơn Bắc. - Khoáng sản: sắt ở Hà Tĩnh; đồng ở Sơn La, Lào Cai; a-pa-tít ở Lào Cai; crôm ở Thanh Hóa; thiếc ở Nghệ An; vật liệu xây dựng ở nhiều địa phương. 3. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
  5. - Địa hình và đất: + Địa hình khá phức tạp, gồm các dãy núi, cao nguyên badan xếp tầng, đồng bằng châu thổ rộng lớn và đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Trường Sơn Nam là dãy núi lớn, hình cánh cung có sự bất đối xứng giữa sườn đông và sườn tây. Các cao nguyên badan tập trung ở Tây Nguyên và rìa Đông Nam Bộ với diện tích lớn, địa hình tương đối bằng phẳng. Đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, hệ thống kênh rạch chằng chịt, nhiều vùng trũng bị ngập nước vào mùa lũ. Dải đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các nhánh núi lấn ra biển. Vùng biển và thềm lục địa rộng lớn, giàu tài nguyên. + Đất: ở vùng núi và cao nguyên chủ yếu là đất feralit trên đá badan và đất feralit trên các loại đá khác. ĐB sông Cửu Long ngoài đất phù sa sông màu mỡ còn có đất phèn, đất mặn; dải ĐB ven biển miền Trung có đất phù sa nhưng kém màu mỡ hơn. Ngoài ra còn có đất cát và đất xám trên phù sa cổ. - Khí hậu cận xích đạo gió mùa, nền nhiệt độ cao quanh năm, biên độ nhiệt nhỏ, khí hậu có 2 mùa mưa và khô rõ rệt, mùa khô kéo dài và gay gắt. - Sông ngòi: phần lớn là sông nhỏ, ngắn bắt nguồn từ vùng núi Trường Sơn Nam đổ ra Biển Đông. Ở ĐB sông Cửu Long có sông Tiền và sông Hậu phân chia thành nhiều chi lưu đổ ra biển. - Cảnh quan thiên nhiên điển hình là đới rừng cận xích đạo gió mùa. Ở vùng Tây Nguyên có kiểu rừng nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá và rụng lá. Vùng ĐB sông Cửu Long phát triển rừng ngập mặn và rừng tràm. - Khoáng sản: nổi bật là dầu mỏ, khí tự nhiên ở thềm lục địa, bô-xít ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. PHẦN II – CÂU HỎI TỰ LUẬN VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI Câu 1: Các nguyên nhân nào là chủ yếu làm cho nhiệt độ trung bình năm của nước ta thay đổi từ bắc và nam.
  6. Hướng dẫn: Các nguyên nhân chủ yếu làm cho nhiệt độ trung bình năm của nước ta thay đổi từ bắc vào nam là vị trí địa lí và gió mùa. - Vị trí địa lí: Càng vào nam càng gần Xích đạo, nhận được lượng bức xạ lớn hơn. - Gió mùa: + Vào mùa hạ, cả nước đều chịu tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm nên nhiệt độ tương đương nhau ( chỉ trừ vùng núi cao ). + Vào mùa đông: Phía bắc chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ vào mùa đông ở phía Bắc hạ rất thấp so với ở phía nam, từ đó làm cho nhiệt độ trung bình năm ở phía bắc thấp hơn ở phía nam. Câu 2: Tại sao nhiệt độ trung bình năm của nước ta tăng từ bắc vào nam , còn biên độ nhiệt độ năm lại tăng từ nam ra bắc? Hướng dẫn: - Nhiệt độ trung bình năm tăng từ bắc vào nam , chủ yếu do: + Càng vào phía nam càng gần Xích đạo hơn nên nhiệt độ cao hơn ở phía bắc. + Miền Bắc chịu tác động của gió mùa Đông Bắc vào mùa đông; trong phạm vi này, càng về phía nam, gió mùa Đông Bắc càng suy yếu đi. Miền Nam không chịu tác động của gió mùa Đông Bắc , chỉ chịu tác động của Tín phong bán cầu Bắc vào mùa đông với tính chất khô, nóng. - Biên độ nhiệt tăng từ nam ra bắc, chủ yếu do: + Về mùa hạ, nhiệt độ trung bình trên cả nước gần như tương đương nhau, do đều chịu tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm ( chỉ có cao hơn một ít ở Duyên hải miền Trung , nam Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ do hiện tượng phơn và thấp hơn các vùng núi cao). Về mùa đông, nền nhiệt ở phía Bắc hạ thấp do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, đặc biệt ở vùng Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ. Do vậy, chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa tăng từ nam ra bắc. + Mặt khác, càng về phía bắc càng gần chí tuyến Bắc nên thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh càng gần nhau; càng về phía nam càng gần Xích đạo, thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau hơn. Từ đó, chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa trong năm ở phía nam nhỏ hơn phía bắc. Câu 3: Căn cứ vào bảng số liệu sau và kiến thức đã học, nhận xét và giải thích sự khác nhau về nhiệt độ giữa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Bảng 1.3.1. NHIỆT ĐỘ TRUNG BÌNH THÁNG 1 VÀ 7 CỦA HÀ NỘI VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Đơn vị: 0C) Tháng 1 7 Hà Nội 16,4 28,9 Thành phố Hồ Chí Minh 25,8 27,1 (Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, XNB Đại học Sư phạm ) Hướng dẫn - Nhận xét: + Hà Nội có nhiệt độ tháng 1 thấp hơn và tháng 7 cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh. + Biên độ nhiệt độ năm của Hà Nội ( 12,50C ) lớn hơn của Thành phố Hồ Chí Minh ( 1,30C )
  7. - Giải thích: + Nhiệt độ tháng 1: Hà Nội nằm trong miền khí hậu chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc về mùa đông, đồng thời cách xa Xích đạo hơn , nên nhiệt độ thấp hơn Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh không chịu tác động của gió mùa Đông Bắc , nằm gần Xích đạo hơn và chịu tác động của Tín phong bán cầu Bắc khô, nóng nên nhiệt độ cao hơn. + Nhiệt độ tháng 7: Hà Nội chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng ( là gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến, sau khi vượt dãy Trường Sơn và các dãy núi dọc biên giới Việt – Lào ở nam Tây Bắc); đồng thời tháng 7 gần kề với thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc ( ngày 22/6 ) nên nền nhiệt độ cao hơn Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 cách xa lần Mặt Trời lên thiên đỉnh lần thứ nhất và chưa đến lần Mặt Trời lên thiên đỉnh lần thứ 2, đồng thời lúc này có nhiều mưa do đón gió mùa Tây Nam từ cao áp chí tuyến Nam bán cầu lên làm cho nhiệt độ thấp hơn ở Hà Nội. + Hà Nội có nhiệt độ trung bình tháng 1 thấp hơn và nhiệt độ trung bình tháng 7 cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh nên biên độ nhiệt độ năm cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Câu 4: Phân tích sự khác nhau về chế độ nhiệt ở miền khí hậu phía Bắc và miền khí hậu phía Nam nước ta. Hướng dẫn: - Miền khí hậu phía Bắc ( từ dãy Bạch Mã trở ra ) + Nhiệt độ trung bình năm thấp hơn ( khoảng từ 20 – 240C ) do chịu tác động của gió mùa Đông Bắc và vị trí ở xa Xích đạo hơn. + Biên độ nhiệt độ năm cao hơn ( khoảng từ 12 – 140C ) do chịu tác động của gió mùa Đông Bắc vào mùa đông và thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh trong năm gần nhau hơn. + Tháng nhiệt độ cao nhất là tháng 7, do ở gần chí tuyến Bắc với ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh là 22/6; thấp nhất vào tháng 1 , liên quan đến ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Nam vào 22/12. + Trong năm có một cực đại và một cực tiểu về nhiệt độ do hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh gần nhau. - Miền khí hậu phía Nam ( từ dãy Bạch Mã trở vào ): + Nhiệt độ trung bình năm cao hơn ( khoảng trên 240C ) do không chịu tác động của gió mùa Đông Bắc và vị trí ở gần Xích đạo hơn. + Biên độ nhiệt độ năm thấp hơn ( khoảng từ 3 – 40C ) do không chịu tác động của gió mùa Đông Bắc, chịu ảnh hưởng của Tín phong bán cầu Bắc khô, nóng vào mùa đông và thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh trong năm xa nhau hơn. + Tháng nhiệt độ cao nhất là tháng 4, do ở gần Xích đạo với ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh là 21/3 và 23/9, trong đó tháng 4 ở vào mùa khô nên nhiệt độ cao hơn tháng 10 ( vào mùa mưa ); thấp nhất vào tháng 12, liên quan đến ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Nam vào 22/12 và vị trí ở gần Xích đạo nên tháng thấp nhất đến sớm hơn ở miền Bắc. + Trong năm có hai cực đại và hai cực tiểu về nhiệt độ do hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau. Câu 5: Tại sao Nam Bộ gần Xích đạo hơn nhưng nhiệt độ tháng 7 vẫn thấp hơn Bắc Trung Bộ?
  8. Hướng dẫn. - Vào tháng 7, Nam Bộ có nhiều mưa, xa thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc ( ngày 22/6 ) hơn. - Thời gian này, ở Bắc Trung Bộ có gió phơn Tây Nam khô nóng hoạt động , gần thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc ( ngày 22/6 ) hơn. - Nhiệt độ thay đổi theo độ cao nhanh hơn theo vĩ độ địa lí. Trong phạm vi gió phơn Tây Nam ở Bắc Trung Bộ, cứ xuống thấp 100 m , nhiệt độ khối không khí khô tăng lên 10C, trong khi đó , từ Bắc Trung Bộ vào đến Nam Bộ , cứ cách 1 vĩ độ, nhiệt độ chỉ tăng lên khoảng 0,10C. Câu 6: Tại sao ở cùng một khu vực nội chí tuyến, nhưng chế độ nhiệt ở miền Bắc chỉ có một tối đa và một tối thiểu, còn ở miền Nam có hai tối đa và hai tối thiểu? Hướng dẫn: - Đất nước ta trải dài trên khoảng 15 độ vĩ tuyến, phía Bắc sát với đường chí tuyến Bắc, phía Nam gần đường Xích đạo, nên miền Bắc có khí hậu nhiệt đới, miền Nam có tính chất cận xích đạo. - Khu vực nội chí tuyến có hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh, do đó có nền nhiệt độ cao, khí hậu nóng. Khoảng cách hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh ở miền Nam khá lớn , nên chế độ nhiệt có hai tối đa và hai tối thiểu ( dạng xích đạo ). Càng lên phía Bắc, hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh càng gần nhau và thành một lần ở chí tuyến Bắc, do vậy chế độ nhiệt ở miền Bắc có dạng nhiệt đới ( chí tuyến ) với một tối đa và một tối thiểu. Câu 7: Phân tích sự phân hóa chế độ mưa nước ta. Hướng dẫn: - Lượng mưa: + Nơi mưa nhiều: Bắc Quang ( Hà Giang ), Hoàng Liên Sơn ( Lào Cai ), Bạch Mã ( Thừa Thiên Huế ), Ngọc Linh ( Kon Tum ), Hòn Ba ( Quảng Nam ), ....do địa hình cao, đón gió. + Nơi mưa ít : Mường Xén, lòng máng Cao – Lạng, Mường Thanh, thung lũng sông Ba, Phan Rang,...do địa hình thấp, trũng, khuất gió hoặc song song với hướng gió,... + Nơi có lượng mưa trung bình : đồng bằng miền Bắc, đồng bằng miền Nam, đồng bằng Trung Bộ từ Quảng Ngãi đến Phú Yên. - Tháng mưa cực đại: + Bắc Bộ tháng 8, Nam Bộ tháng 9, Trung Bộ tháng 10/11, do hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới. + Riêng Trung Bộ còn do bão và áp thấp nhiệt đới và một số yếu tố gây mưa cùng hoạt động trong một thời gian ( ví dụ : cùng lúc có Tín phong bán cầu Bắc, dải hội tụ nhiệt đới, gió mùa Tây Nam,...) - Mưa theo mùa: + Mùa mưa chiếm 80 – 85% lượng mưa cả năm, mùa khô ít. + Mùa mưa và khô ở Bắc Bộ và Nam Bộ tương tự nhau: Mùa mưa từ tháng 5 – 10 doc tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm; mùa khô từ tháng 11 – 4 do tác động của gió mùa Đông Bắc và Tín phong bán cầu Bắc ở Bắc Bộ, do tác động của Tín phong bán cầu Bắc ở Nam Bộ. + Trung Bộ có mùa mưa lệch về thu đông ( tháng 9 – 1 ) do đầu hạ có gió Tây khô nóng, mùa đông có gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa; mùa khô từ tháng 2 – 8 do Tín phong bán cầu Bắc và gió phơn Tây Nam khô nóng tác động.
  9. Câu 8: Tại sao ở Huế có lượng mưa lớn? Hướng dẫn: - Mưa ở Huế do các nguyên nhân chủ yếu : Tác động của bức chắn dãy Bạch Mã đối với gió mùa Đông Bắc, bão, hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới. - Cả ba nguyên nhân này thường tác động vào thời gian từ tháng 8 – 1, nên mưa ở Huế thường tập trung vào thu – đông. Đặc biệt, mưa rất lớn khi cả ba nguyên nhân này trùng nhau vào thời điểm, hoặc hai trong số ba nguyên nhân cùng phối hợp tác động. Câu 9: Giải thích sự khác nhau về chế độ mưa ở các địa điểm theo bảng số liệu sau. Tại sao ở Huế lượng mưa các tháng 9,10,11 lớn hơn các tháng 12,1? Bảng 1.3.2. LƯỢNG MƯA VÀO MÙA MƯA CỦA MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM ( Đơn vị : mm) Tháng 5 6 7 8 9 10 11 12 1 Hà Nội 188 240 288 318 265 131 Huế 473 796 581 297 161 TP. Hồ Chí Minh 218 312 294 270 327 266 117 ( Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm ) Hướng dẫn: - Hà Nội : Lượng mưa nhỏ hơn Huế và Thành phố Hồ Chí Minh do đầu mùa hạ chủ yếu mưa dông nhiệt, hầu như không có mưa hội tụ nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam. Tháng 8 mưa cực đại do dải hội tụ nhiệt đới. Mùa mưa từ tháng 5 – 10 do tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm. - Huế: Lượng mưa lớn nhất do nhiều nhân tố gây mưa hoạt động ( gió mùa Tây Nam, dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, gió đông bắc,...). Tháng 10 mưa cực đại do các yếu tố gây mưa hoạt động mạnh và nhiều lúc trong cùng thời gian ( ví dụ cùng lúc hoạt động của Tín phong bán cầu Bắc, gió mùa Đông Bắc, dải hội tụ nhiệt đới,...) . Mùa mưa lệch về thu đông do đầu mùa hạ có gió phơn Tây Nam khô nóng hoạt động, mùa đông có gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa. - Thành phố Hồ Chí Minh: Lượng mưa nhỏ hơn Huế, lớn hơn Hà Nội do gió Tây Nam hoạt động mạnh. Tháng 9 mưa cực đại do dải hội tụ nhiệt đới. Mùa mưa từ tháng 5 – 11 do tác động của gió mùa mùa hạ, trong đó có gió mùa Tây Nam hoạt động kéo dài. - Huế: Tháng 9,10,11 mưa lớn do áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ, bão, gió mùa Tây Nam; tháng 12, 1 mưa chủ yếu do frông gặp dãy Trường Sơn Bắc nên lượng mưa nhỏ hơn. Câu 10: Dựa vào bảng số liệu sau và kiến thức đã học, so sánh và giải thích về chế độ mưa ở Huế và Thành phố Hồ Chí Minh. Bảng 1.3.3. CHẾ ĐỘ MƯA Ở HUẾ VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Mùa mưa Mùa khô Lượng Tháng Tháng mưa Lượng Tháng Tháng Địa điểm mưa (mm) mưa nhiều mưa khô mưa ít (mm) (mm) Huế 10 3 2 411 8 – 1 455 2 – 7 (95 mm) (47 mm) TP. Hồ Chí 9 2 1 851 5 – 11 128 12 – 4 Minh (338 mm) (3 mm) (Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm)
  10. Hướng dẫn: a) So sánh: - Giống nhau: + Tổng lượng mưa của cả hai địa điểm khá lớn, đều trên 1 800 mm. + Có sự phân hóa theo mùa mưa và mùa khô; chênh lệch lượng mưa giữa tháng mưa nhiều nhất và tháng mưa ít nhất trong năm khá lớn. - Khác nhau: + Tổng lượng mưa năm, tổng lượng mưa tháng mưa nhiều và mưa ít của Huế lớn hơn Thành phố Hồ Chí Minh. + Phân mùa : Huế có mùa mưa vào thu đông, Thành phố Hồ Chí Minh có mùa mưa vào mùa hạ. Chênh lệch lượng mưa giữa hai mùa ở Thành phố Hồ Chí Minh lớn hơn Huế, chứng tỏ Thành phố Hồ Chí Minh có sự phân hóa hai mùa mưa và khô rõ rệt và có mùa khô sâu sắc hơn Huế. + Tháng mưa nhiều: Huế mưa nhiều vào tháng 10, Thành phố Hồ Chí Minh mưa nhiều tháng 9. b) Giải thích: - Tổng lượng mưa lớn do khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, gió mùa mùa hạ nóng ẩm hoạt động mạnh. - Phân mùa do ảnh hưởng của gió mùa. Mùa mưa trùng với mùa gió tây nam nóng ẩm, mùa khô trùng với mùa gió đông bắc. - Tổng lượng mưa của Huế lớn hơn Thành phố Hồ Chí Minh vì Huế nằm ở khu vực chịu ảnh hưởng của nhiều hình thế gây mưa như : bão, dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, gió đông bắc đi qua biển gặp bức chắn địa hình núi Trường Sơn Bắc, frông lạnh,... - Mùa mưa ở Huế vào thu đông vì vào đầu mùa hạ chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng, mùa đông chịu tác động của gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa. Mùa mưa ở Thành phố Hồ Chí Minh vào mùa hạ, trùng với thời kì hoạt động của gió Tây Nam nóng ẩm từ cao áp chí tuyến Bắc Ấn Độ Dương đến và gió mùa Tây Nam nóng ẩm từ cao áp chí tuyến bán cầu Nam lên. - Thành phố Hồ Chí Minh về mùa đông có sự hoạt động mạnh của Tín phong bán cầu Bắc, nên có mùa khô sâu sắc; mùa mưa có lượng mưa lớn do gió mùa Tây Nam, từ đó có chênh lệch lượng mưa giữa hai mùa lớn. Huế vào mùa khô vẫn có mưa Tiểu mãn ( vào cuối tháng 5, đầu tháng 6 ) và tác động của gió đông bắc qua biển vào cuối mùa, nên lượng mưa vẫn cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh. - Tháng mưa nhiều: Huế mưa nhiều vào tháng 10 do ảnh hưởng của bão và dải hội tụ nhiệt đới, gió mùa Tây Nam, gió đông bắc,... Thành phố Hồ Chí Minh mưa nhiều tháng 9 do ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới. Câu 11: Dựa vào bảng số liệu sau, phân tích sự khác nhau về lượng mưa của Lạng Sơn , Quảng Trị và Cần Thơ. Bảng 1.3.4. LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH CÁC THÁNG CỦA MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM (Đơn vị: mm) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Lạng Sơn 24 41 53 96 165 200 258 255 164 79 34 23 Quảng Trị 157 66 66 58 111 81 80 110 436 621 491 281 Cần Thơ 12 2 10 50 177 206 227 217 273 277 155 41
  11. ( Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam) Hướng dẫn: - Lạng Sơn : Lượng mưa nhỏ nhất, do đầu mùa hạ mưa ít; tháng 7 mưa lớn nhất liên quan đến dải hội tụ nhiệt đới. Mùa mưa từ tháng 5 – 9 trùng với thời kì hoạt động của gió mùa mùa hạ, ngắn hơn do gió mùa Đông Bắc đến sớm; mùa khô từ tháng 10 – 4 là thời kì hoạt động của gió mùa Đông Bắc và Tín phong bán cầu Bắc. - Quảng Trị: Lượng mưa lớn nhất, do các yếu tố gây mưa hoạt động trong cùng thời gian, có nhiều thời điểm trùng nhau; tháng 10 mưa lớn nhất do dải hội tụ và các yếu tố gây mưa chồng nhau. Mùa mưa từ tháng 8 – 12 do tác động của gió mùa Tây Nam từ cao áp bán cầu Nam đến, dải hội tụ, áp thấp nhiệt đới, bão, gió đông bắc; mùa khô do hoạt động của gió phơn Tây Nam khô nóng và Tín phong bán cầu Bắc. - Cần Thơ: Lượng mưa lớn hơn Lạng Sơn, doc tác động mạnh của gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến và gió mùa Tây Nam từ cao áp bán cầu Nam đến; tháng 10 mưa lớn nhất do dải hội tụ nhiệt đới. Mùa mưa từ tháng 5 – 11 do hoạt động của gió mùa mùa hạ, thời gian mùa mưa kéo dài hơn là do gió mùa Tây Nam hoạt động kéo dài; mùa khô từ tháng 12 – 4 , do gió Tín phong bán cầu Bắc khô, nóng, ổn định hoạt động. Câu 12: Giải thích tại sao khu vực Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ có mùa mưa thường đến muộn so với các khu vực khác? Hướng dẫn: - Mùa mưa ở Trung Trung Bộ và Nam Bộ thường từ tháng 9 đến tháng 1 ( trong khi cả nước là từ tháng 5 đến tháng 10 ); mùa khô ở khu vực này từ tháng 2 đến tháng 8. - Mùa mưa ở các khu vực này đến muộn do tác động của gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến kết hợp với dãy Trường Sơn. + Gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến có tính chất nóng ẩm, gây mưa đầu mùa cho cả nước ta. Khoảng từ tháng 5, ở Bắc Bộ và Nam Bộ chịu tác động của gió này nên bắt đầu bước vào mùa mưa. + Tuy nhiên, ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương sau khi gây mưa lớn cho sườn đón gió ở Tây Trường Sơn Nam, vượt núi tràn xuống đồng bằng ven biển gây hiện tượng phơn khô nóng, không có mưa. Do đó, lúc này ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ là thời kì mùa khô. Câu 13: Dựa vào bảng số liệu sau và kiến thức đã học, giải thích: a) Tại sao về mùa hạ, Huế có nhiệt độ cao nhất và Hà Nội có nhiệt độ cao hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh? b) Tại sao trong cả mùa mưa lẫn mùa khô, Huế vẫn có lượng mưa lớn hơn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh? Bảng 1.3.5. NHIỆT ĐỘ VÀ LƯỢNG MƯA CÁC TRẠM KHÍ TƯỢNG HÀ NỘI, HUẾ VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Hà Nội Nhiệt Độ cao: độ 16,4 17,0 20,2 23,7 27,3 28,8 28,9 28,2 27,2 24,6 21,4 18,2 5 m (0C) Vĩ độ: Lượng 21001’B mưa 18,6 26,2 43,8 90,1 188,5 239,9 288,2 318,0 265,4 130,7 43,4 23,4 (mm)
  12. Huế Nhiệt Độ cao: độ 20,0 20,9 23,1 26,0 28,3 29,3 29,4 28,9 27,1 25,1 23,1 20,8 11 m (0C) Vĩ độ: Lượng 16024’B mưa 161,3 62,6 47,1 51,6 82,1 116,7 95,3 104,0 473,4 795,6 580,6 297,4 (mm) Tp. Hồ Nhiệt Chí độ 25,8 26,7 27,9 28,9 28,3 27,5 27,1 27,1 26,8 26,7 26,4 25,7 Minh (0C) Độ cao: Lượng 11 m mưa 13,8 4,1 10,5 50,4 218,4 311,7 293,7 269,8 327,0 266,7 116,5 48,3 Vĩ độ: (mm) 10047’B ( Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm ) Hướng dẫn: a) Về mùa hạ, Huế có nhiệt độ cao nhất và Hà Nội có nhiệt độ cao hơn Thành phố Hồ Chí Minh: Đầu mùa hạ, Huế chịu tác động mạnh của gió phơn Tây Nam khô nóng nên nhiệt độ tăng cao ( nhiệt độ tháng 7 là 29,40C ). Hà Nội tuy ở xa Xích đạo hơn Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng nên nhiệt độ cao hơn Thành phố Hồ Chí Minh ( 28,90C so với 27,10C vào tháng 7 ). b) Trong cả hai mùa, Huế là nơi có lượng mưa lớn hơn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. - Mùa mưa ở Huế kéo dài từ tháng 8 – 1, lớn nhất vào tháng 10; các tháng mùa mưa ở Huế có lượng mưa rất lớn so với các tháng mưa nhiều ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Lượng mưa ở Huế rất lớn do các nhân tố tác động đến mưa ( dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp, bão, gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn,...) - Mùa khô ở Huế kéo dài từ tháng 2 – 7 do chịu tác động của Tín phong bán cầu Bắc và gió phơn Tây Nam khô nóng. Tuy nhiên , vào tháng 6 ở Huế có mưa Tiểu mãn làm lượng mưa tăng lên. Thời gian này, ở Thành phố Hồ Chí Minh có lượng mưa không đáng kể do ảnh hưởng của Tín phong bán cầu Bắc; ở Hà Nội ít mưa do tác động của gió mùa Đông Bắc và Tín phong bán cầu Bắc. Câu 14: Phân tích sự khác nhau về chế độ nhiệt của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hướng dẫn: - Nhiệt độ trung bình năm: Hà Nội thấp hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên nhân: + Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí địa lí gần Xích đạo hơn, không có hoạt động của gió mùa Đông Bắc. + Hà Nội có vị trí địa lí cách xa Xích đạo hơn; mùa đông có nhiệt độ hạ thấp do chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc; mùa hạ nhiệt độ cao do có ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng. - Tháng có nhiệt độ cao nhất, thấp nhất:
  13. + Hà Nội có nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 và thấp nhất là tháng 1, do vị trí nằm gần chí tuyến Bắc, theo đúng quy luật nhiệt độ cao nhất và thấp nhất ở mỗi bán cầu xảy ra sau thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh. Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc ngày 22/6, các địa điểm ở bán cầu Bắc gần Mặt Trời nhất,nhận được lượng nhiệt cao nhất nên tháng 7 có nhiệt độ cao nhất; ở chí tuyến Nam ngày 22/12, các địa điểm ở bán cầu Bắc ở xa Mặt Trời nhất, nhận được lượng nhiệt ít nhất, nên tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất. + Ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 4, tương ứng với thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh lần thứ nhất trong năm, vào lúc đang mùa khô, không có mưa. - Biên độ nhiệt năm : Thành phố Hồ Chí Minh nhỏ hơn Hà Nội + Thành phố Hồ Chí Minh : Mùa hạ chịu tác động của gió mùa nóng ẩm. Mùa đông không chịu tác động của gió mùa Đông Bắc lạnh. Thời gian hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau, làm cho nhiệt độ ở cả hai mùa không chênh lệch nhau lớn. + Hà Nội: Mùa hạ chịu tác động của gió mùa nóng ẩm, có những thời gian chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng. Mùa đông, nhiệt độ hạ thấp do chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc; Vị trí địa lí gần chí tuyến Bắc, khoảng cách giữa hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh gần nhau, làm cho nền nhiệt độ cao tập trung vào một khoảng thời gian ngắn ở trong năm. - Diễn biến nhiệt độ trong năm: + Hà Nội có một cực đại và một cực tiểu về nhiệt độ, do trong năm có hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh gần nhau. + Thành phố Hồ Chí Minh có hai cực đại về nhiệt độ, do trong năm có hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh xa nhau. Câu 15: Phân tích sự khác nhau về chế độ mưa của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hướng dẫn: - Lượng mưa trung bình năm: + Hà Nội có lượng mưa nhỏ hơn ( 1 667 mm ) , do : Hà Nội có mưa ít vào đầu mùa mưa, chủ yếu mưa dông nhiệt; do không có ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới đầu mùa ( chạy theo hướng kinh tuyến, lệch xa ra biển ), thỉnh thoảng còn có ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng. Giữa và cuối mùa hạ mưa nhiều, do tác động của gió mùa Tây Nam nguồn gôc từ áp cao Nam bán cầu và dải hội tụ nhiệt đới, nhưng không lớn hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh ( trừ tháng 8 có hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới) do tác động của gió mùa Tây Nam yếu hơn so với Thành phố Hồ Chí Minh. + Thành phố Hồ Chí Minh có lượng mưa lớn hơn ( 1 931 mm ), do có mưa suốt mùa hạ ( đầu mùa, mưa lớn do gió Tây Nam TBg xâm nhập trực tiếp; giữa và cuối mùa, mưa lớn do tác động của gió mùa Tây Nam ) ; đồng thời gió mùa Tây Nam hoạt động kéo dài làm mùa mưa kéo dài hơn Hà Nội. - Tháng mưa cực đại ở Hà Nội vào tháng 8, ở Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 9, tương ứng với thời kì hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới ở mỗi địa điểm. - Mùa mưa ở Hà Nội từ tháng 5 – 10, mùa mưa ở Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5 – 11. Mùa mưa trùng với mùa gió Tây Nam, tuy nhiên ở Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động của gió mùa Tây Nam kéo dài thêm 1 tháng.Mùa khô ở Hà Nội do tác động của gió
  14. mùa Đông Bắc và Tín phong bán cầu Bắc, ở Thành phố Hồ Chí Minh do tác động của Tín phong bán cầu Bắc. Câu 16: Phân tích sự khác nhau về chế độ mưa của Huế và Cần Thơ theo bảng số liệu sau: Bảng 1.3.6. LƯỢNG MƯA CÁC TRẠM KHÍ TƯỢNG HUẾ VÀ CẦN THƠ (Đơn vị: mm) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Huế 126,1 56,7 49,9 66,7 119,5 90,8 89,2 156,1 371,5 817,5 675,3 397,0 Cần Thơ 11,8 5,0 20,4 42,3 176,6 207,2 241,4 231,0 250,6 272,3 140,7 48,1 (Nguồn: Viện khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu ) Hướng dẫn: - Lượng mưa trung bình năm: + Cần Thơ có lượng mưa nhỏ hơn Huế. Mưa chủ yếu do gió Tây Nam TBg xâm nhập trực tiếp đầu mùa; giữa và cuối mùa, mưa lớn do tác động của gió mùa Tây Nam. + Huế có lượng mưa lớn hơn Cần Thơ. Mưa ở Huế do tác động của nhiều nhân tố như : gió mùa Tây Nam, dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, bão, gió đông bắc gặp dãy Bạch Mã gây mưa. Ngoài ra, trong mùa khô ở Huế còn có mưa Tiểu mãn ( lượng mưa tháng 5 cao hẳn lên so với các tháng trong mùa khô ). - Tháng mưa cực đại ở Cần Thơ và tháng 10 , ở Huế cũng vào tháng 10, tương ứng với thời kì hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới; ở Huế có thêm hiện tượng một số nhân tố gây mưa hoạt động trùng nhau trong cùng thời điểm nên gây mưa rất lớn ( lượng mưa tháng 10 Huế gấp 3 lần Cần Thơ ). - Mùa mưa ở Cần Thơ từ tháng 5 – 11 do tác động của gió mùa mùa hạ, trong đó gió mùa Tây Nam từ áp cao bán cầu Nam hoạt động kéo dài đến tháng 11. Mùa mưa ở Huế từ tháng 8 - 1 do tác động của gió mùa Tây Nam, dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, bão, gió đông bắc gặp dãy Bạch Mã. Mùa khô ở Cần Thơ từ tháng 12 – 4 do tác động của Tín phong bán cầu Bắc; ở Huế do tác động của Tín phong bán cầu Bắc và gió phơn Tây Nam khô nóng. Câu 17: So sánh và giải thích về chế độ nhiệt và chế độ mưa của Đồng Hới, Đà Nẵng và Nha Trang. Tại sao tháng mưa cực đại trong năm không trùng với tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất? Hướng dẫn: a) Giống nhau: Vị trí đều nằm ven biển miền Trung nên chế độ nhiệt và chế độ mưa có những nét tương đồng nhau. - Chế độ nhiệt : + Nhiệt độ trung bình năm đều trên 210C. Đồng Hới nằm ở trong miền khí hậu chịu tác động của gió mùa Đông Bắc ( nhưng đã suy yếu ), Đà Nẵng và Nha Trang ở trong miền khí hậu không chịu tác động của gió mùa Đông Bắc , nên mùa đông không lạnh lắm; mùa hạ cả 3 địa điểm đều chịu tác động của gió phơn Tây Nam khô nóng. + Biên độ nhiệt độ trung bình năm tương đối lớn, do chênh lệch nhiệt độ giữa mùa hạ và mùa đông không lớn lắm, nhất là ở Nha Trang. + Diễn biến nhiệt độ trong năm ở cả ba địa điểm đều có một cực đại và một cực tiểu, mặc dù ở Nha Trang không rõ lắm. - Chế độ mưa:
  15. + Tổng lượng mưa lớn, tháng mưa cực đại là tháng 10 hoặc tháng 11. Lượng mưa trong hai tháng này chiếm một tỉ lệ rất lớn, ảnh hưởng đến tổng lượng mưa cả năm. Đây là hai tháng có sự tập trung của các nhân tố gây mưa như : dải hội tụ nhiệt đới, gió đông bắc gặp bức chắn địa hình Trường Sơn, áp thấp và bão,... + Mùa mưa đều lệch về thu đông. Nguyên nhân do đầu hạ chịu tác động của gió phơn Tây Nam khô nóng; sang mùa đông, mưa vẫn kéo dài do tác động của gió đông bắc ( gió mùa Đông Bắc, Tín phong bán cầu Bắc) gặp dãy Trường Sơn, áp thấp và bão vẫn hoạt động gây mưa. b) Khác nhau: - Đồng Hới thuộc miền khí hậu phía Bắc ; Đà Nẵng ở đầu phía Bắc và Nha Trang ở cuối của miền khí hậu phía Nam, có sự khác nhau cả về chế độ nhiệt và mưa trong năm. - Chế độ nhiệt: + Nhiệt độ trung bình năm cao nhất ở Nha Trang ( 26,70C ), tiếp đến là Đà Nẵng ( 25,20C ), thấp nhất ở Đồng Hới. Nguyên nhân: Về mùa hạ, ở cả ba địa điểm này có sự chênh lệch nhiệt độ không đáng kể. Về mùa đông : Ở Đồng Hới nhiệt độ hạ thấp do tác động của gió mùa Đông Bắc; Đà Nẵng có vị trí xa Xích đạo hơn Nha Trang và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, tuy nhỏ nhưng vẫn lớn hơn Nha Trang. + Tháng có nhiệt độ cao nhất: Ở Nha Trang là tháng 6, ở Đà Nẵng và Đồng Hới là tháng 7; tương ứng với khoảng thời gian sau khi Mặt Trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Bắc ( ngày 22/6 ). + Biên độ nhiệt cao nhất là ở Đồng Hới ( 12,00C ), tiếp đến là Đà Nẵng ( 9,70C ), thấp nhất là Nha Trang (4,80C). Nguyên nhân do sự hạ thấp nhiệt độ trong mùa đông ở 3 địa điểm này khác nhau, liên quan đến vị trí gần hay xa Xích đạo và tác động của gió mùa Đông Bắc. - Chế độ mưa : + Tổng lượng mưa lớn nhất là Đồng Hới, tiếp đến là Đà Nẵng, liên quan đến lượng mưa lớn trong tháng do tác động mạnh mẽ gần như cùng trong khoảng thời gian ngắn của dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp và bão, gió mùa Đông Bắc mạnh hơn ở Đồng Hới và gió đông bắc gặp các dãy núi cao ở vị trí của Đà Nẵng. Nha Trang là nơi có lượng mưa thấp nhất trong cả ba địa điểm do vị trí địa lí chếch hướng không lớn với gió đông bắc về mùa đông; vị trí nằm khuất gió của khối núi cao cực Nam Trung Bộ, chịu tác động mạnh của hiện tượng phơn đầu mùa và cả những đợt gió mùa Tây Nam yếu vào thời kì giữa và cuối mùa hạ. + Lượng mưa tháng lớn nhất ở Đồng Hới và Đà Nẵng là tháng 10, ở Nha Trang là tháng 11, liên quan đến sự lùi dần của dải hội tụ nhiệt đới và theo đó là hoạt động của áp thấp và bão. + Mùa mưa ở Đồng Hới là từ tháng 8 – 1, Đà Nẵng từ tháng 9 – 1 và Nha Trang : 9 – 12. Nguyên nhân do Đồng Hới nằm gần Bắc Bộ hơn, nơi có dải hội tụ gây mưa lớn vào tháng 8, chịu tác động nhiều hơn tháng đỉnh mưa ở đây; mùa mưa kết thúc muộn hơn do còn chịu tác động của gió mùa Đông Bắc. Mùa mưa ở Nha Trang kết thúc sớm hơn liên quan đến hoạt động mạnh lên của Tín phong bán cầu Bắc vào tháng 1 trở về sau. c) Tháng mưa cực đại trong năm không trùng với tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất, do tháng mưa cực đại liên quan đến hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất liên quan đến hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh.
  16. Câu 18: So sánh đặc điểm khí hậu của Duyên hải Nam Trung Bộ với Bắc Trung Bộ. Hướng dẫn: a) Giống nhau: - Có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với nền nhiệt cao ( nhiệt độ trung bình năm cao hơn 220C ), mưa nhiều ( trung bình 1 600 – 2 000 mm/năm ), chịu tác động của gió mùa ( gió mùa đông theo hướng đông bắc, gió mùa hạ theo hướng tây nam ). - Khí hậu phân hóa theo vĩ độ ( càng vào nam, biên độ nhiệt càng thấp: Thanh Hóa khoảng 100C so với Đồng Hới khoảng 90C, Đà Nẵng khoảng 80C so với Nha Trang khoảng 40C). - Mưa theo mùa ( mưa chủ yếu vào thu – đông, lượng mưa vào mùa mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm ). - Chịu tác động của bão hằng năm từ Biển Đông và Thái Bình Dương, chịu tác động của gió Tây khô nóng. b) Khác nhau: - Bắc Trung Bộ: + Chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc ( đến vĩ tuyến 160B ) , nên có mùa đông tương đối lạnh; riêng các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh có mùa đông lạnh hơn ( nhiệt độ tháng 1 ở Thanh Hóa 180C ). + Chịu tác động mạnh mẽ của gió Tây khô nóng vào đầu mùa hạ. + Bão hoạt động mạnh trong tháng 8,9 với tần suất cao và trung bình ( 1 – 1,7 cơn bão/tháng ). - Duyên hải Nam Trung Bộ: + Không chịu tác động trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, chịu tác động chủ yếu của gió Mậu dịch Bắc bán cầu, nên mùa đông ấm ( nhiệt độ trung bình các tháng đều trên 200C, nhiệt độ tháng 7 ở Đà Nẵng khoảng 220C, ở Nha Trang khoảng 240C ). + Hoạt động của bão từ tháng 10 – 12 với tần suất trung bình và nhỏ ( 0,3 – 1,3 cơn bão/ tháng ). + Ít chịu tác động của gió Tây khô nóng. Câu 19: Phân tích sự khác nhau về chế độ mưa của vùng Tây Bắc Bộ và Tây Nguyên. Tại sao ở hai vùng này có mùa mưa đến sớm hơn so với cả nước? Hướng dẫn: - Lượng mưa : Tây Bắc Bộ mưa ít hơn do có một phần lãnh thổ chịu tác động của gió phơn Tây Nam ( gió Tây ) , ở sườn đông của các dãy núi Pu Sam Sao, Pu Đen Đinh, khuất gió nên tác động của gió Tây Nam vào đầu mùa hạ từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến ít hơn so với Tây Nguyên. Tây Nguyên ở sườn đón gió, chịu tác động mạnh của gió Tây Nam. - Tháng mưa cực đại : Tây Bắc Bộ tháng 8, Tây Nguyên tháng 9 do phù hợp với thời gian hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới. - Mùa mưa ở Tây Bắc Bộ kết thúc vào tháng 10, ở Tây Nguyên là tháng 11 do sự kết thúc hoạt động của gió mùa Tây Nam chậm hơn. - Hai vùng này có mùa mưa đến sớm hơn ( tháng 4 ) so với cả nước ( tháng 5 ) do vị trí địa lí nằm ở phía tây đất nước đón gió Tây Nam từ Bắc Ấn Độ Dương đến sớm hơn. Câu 20 : Dựa vào bảng số liệu sau và kiến thức đã học, nhận xét và giải thích sự khác nhau về biên độ nhiệt độ năm giữa Lạng Sơn và Lai Châu.
  17. Bảng 1.3.7. BIÊN ĐỘ NHIỆT ĐỘ NĂM Ở LẠNG SƠN VÀ LAI CHÂU Biên độ nhiệt độ trung bình Biên độ nhiệt độ tuyệt đối Vĩ độ Địa điểm năm (nhiệt độ tối cao và tối thấp) 21050’B Lạng Sơn 13,70C 41,90C 21002’B Lai Châu 9,40C 37,60C ( Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm ) Hướng dẫn: - Biên độ nhiệt độ trung bình năm và biên độ nhiệt tuyệt đối ở Lai Châu đều thấp hơn Lạng Sơn. - Nguyên nhân: + Hai địa điểm nhìn chung đều ở trên cùng vĩ độ nên không có sự khác nhau nhiều về lượng bức xạ của Mặt Trời. + Về mùa hạ cả hai địa điểm đều chịu tác động của gió mùa mùa hạ nóng ẩm nên nhiệt độ về mùa hạ tương đương nhau ( ở những địa điểm có cùng độ cao ). + Sự khác nhau về độ cao địa hình đều ảnh hưởng đến nhiệt độ cả hai mùa ở mỗi địa điểm, nên không ảnh hưởng đến sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa ( biên độ nhiệt độ ). + Nguyên nhân chủ yếu là về mùa đông, Lạng Sơn chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc lạnh, nhiệt độ mùa đông nói chung và tháng 1 nói riêng hạ xuống rất thấp. Do đó, biên độ nhiệt độ năm ở Lạng Sơn lớn hơn Lai Châu. Câu 21: Tại sao ở Tây Nguyên và duyên hải Trung Trung Bộ có sự tương phản về mùa mưa và mùa khô? Tại sao ở vùng Tây Bắc Bộ có mùa mưa đến sớm hơn và mùa khô đến muộn hơn ở Đông Bắc Bộ? Hướng dẫn: - Tây Nguyên và Duyên hải Trung Trung Bộ: Do tác động kết hợp của gió với dãy Trường Sơn Nam theo mùa tạo nên sự tương phản về mùa mưa và mùa khô. + Mùa hạ : Gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến gây mưa lớn cho Tây Nguyên ( sườn đón gió ); sau khi vượt dãy Trường Sơn tạo thành gió phơn Tây Nam gây thời tiết khô nóng cho duyên hải Trung Trung Bộ. + Mùa đông : gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa cho duyên hải Trung Trung Bộ; lên Tây Nguyên , trở nên khô. - Vùng Tây Bắc Bộ có mùa mưa đến sớm hơn và mùa khô đến muộn hơn ở Đông Bắc Bộ, chủ yếu do: vị trí nằm ở phía tây lãnh thổ, đón gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến sớm hơn và đón gió mùa Đông Bắc đến muộn hơn so với Đông Bắc Bộ. Câu 22: Căn cứ vào bảng số liệu sau, giải thích sự khác nhau về chế độ mưa của Nha Trang và Đà Lạt. Tại sao tháng đầu mùa mưa có lượng mưa lớn hơn tháng cuối mùa mưa, tháng đầu mùa khô có lượng mưa nhỏ hơn tháng cuối mùa khô? Bảng 1.3.8. LƯỢNG MƯA CÁC THÁNG Ở NHA TRANG VÀ ĐÀ LẠT NĂM 2020 ( Đơn vị : mm ) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Đà Lạt 0,4 0,2 81,7 165,4 134,5 343,6 319,9 276,7 377,8 288,7 155,4 21,6 Nha 4,2 5,9 0,3 23,1 10,0 10,2 34,2 73,7 63,5 279,2 462,4 259,1 Trang ( Nguồn : Niên giám thống kê Việt Nam ) Hướng dẫn:
  18. - Tổng lượng mưa: Đà Lạt lớn hơn Nha Trang , do Đà Lạt nằm ở sườn đón gió mùa mùa hạ; Nha Trang nằm ở sườn khuất gió, chịu gió phơn Tây Nam. Ngoài ra, Đà Lạt ở độ cao lớn hơn so với Nha Trang. - Đỉnh mưa: Đà Lạt tháng 9 trùng với hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới; Nha Trang tháng 11 do dải hội tụ nhiệt đới và một số nhân tố gây mưa ( gió mùa Tây Nam, Tín phong bán cầu Bắc, áp thấp nhiệt đới,...) - Mùa mưa và mùa khô: + Mùa mưa : Đà Lạt từ tháng 4 đến tháng 11 do tác động của gió mùa mùa hạ, bắt đầu sớm do vị trí địa lí ở phía tây đón gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến sớm hơn cả nước, kết thúc muộn do gió mùa Tây Nam từ cao áp Nam bán cầu lên hoạt động kéo dài. Nha Trang từ tháng 10 – 12 do gió mùa Tây Nam, dải hội tụ, áp thấp, bão, gió Đông Bắc. + Mùa khô: Đà Lạt từ tháng 12 đến tháng 3 do tác động của Tín phong bán cầu Bắc, Nha Trang từ tháng 1 – 8 do tác động của gió phơn Tây Nam khô nóng và Tín phong bán cầu Bắc. - Tháng đầu mùa mưa có lượng mưa lớn hơn tháng cuối mùa mưa, tháng đầu mùa khô có lượng mưa nhỏ hơn tháng cuối mùa khô. Nguyên nhân chủ yếu do sự tranh chấp của các khối không khí ẩm và khô vào các tháng đầu mùa hoặc cuối mùa. + Đầu mùa mưa, khối không khí ẩm mạnh hơn khối không khí khô nên có mưa nhiều hơn. Cuối mùa mưa, ngược lại. + Đầu mùa khô, khối không khí khô mạnh hơn khối không khí ẩm nên có mưa ít hơn. Cuối mùa khô, ngược lại. Câu 23: Dựa vào bảng số liệu sau, phân tích sự khác nhau về lượng mưa của Quy Nhơn và Kon Tum. Tại sao tháng đầu mùa và cuối mùa mưa thường có lượng mưa nhỏ hơn các tháng giữa mùa mưa, tháng đầu và cuối mùa khô có lượng mưa nhiều hơn các tháng giữa mùa khô? Bảng 1.3.9. LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH CÁC THÁNG CỦA QUY NHƠN VÀ KON TUM ( Đơn vị : mm ) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Quy 62,8 30,8 30,9 32,9 71,6 61,1 51,4 67,7 241,4 497,8 452,7 172,5 Nhơn Kon 1,4 8,5 34,2 94,7 228,1 242,8 311,3 343,9 313,3 159,4 60,3 8,3 Tum ( Nguồn : Niên giám thống kê Việt Nam ) Hướng dẫn: - Tổng lượng mưa: Kon Tum lớn hơn Quy Nhơn do độ cao, vị trí ở sườn đón gió Tây Nam, có khối núi Kon Tum cao đón gió mưa nhiều ( trên 2 800 mm ). Quy Nhơn có độ cao nhỏ hơn, ở sườn khuất gió, đầu mùa hạ chịu gió phơn Tây Nam khô nóng. - Tháng mưa cực đại khác nhau, Kon Tum vào tháng 8 do dải hội tụ nhiệt đới; Quy Nhơn tháng 10 do các nhân tố gây mưa hoạt động vào cùng thời gian ( gió mùa Tây Nam, dải hội tụ, gió đông bắc,...) - Mùa mưa, khô trái ngược nhau do tác động kết hợp của gió với địa hình:
  19. + Mùa hạ : Gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương đến gây mưa lớn cho Kon Tum ( sườn đón gió ); sau khi vượt dãy Trường Sơn tạo thành gió phơn Tây Nam gây thời tiết khô nóng cho Quy Nhơn. + Mùa đông : Gió đông bắc gặp dãy Trường Sơn gây mưa cho Quy Nhơn; lên Kon Tum trở nên khô. - Tháng đầu và cuối mùa mưa thường có lượng mưa nhỏ hơn các tháng giữa mùa mưa, tháng đầu và cuối mùa khô thường có lượng mưa nhiều hơn các tháng giữa mùa khô. Nguyên nhân chủ yếu do tháng đầu và cuối thường có hoạt động của cả khối khí ẩm và khối khí khô, còn giữa mùa chỉ có khối khí ẩm ( mùa mưa ), khối khí khô ( mùa khô ) hoạt động. Câu 24: Phân tích sự phân hóa thiên nhiên theo đông – tây ở vùng đồi núi nước ta. Hướng dẫn: Sự phân hóa thiên nhiên theo đông – tây ở nước ta thể hiện rõ rệt giữa Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn, giữa vùng núi Đông Bắc và vùng núi Tây Bắc. - Sự khác biệt thiên nhiên Đông Trường Sơn và Tây Trường Sơn: + Ở Trường Sơn Bắc : Gió Tây Nam từ cao áp Bắc Ấn Độ Dương ( gió TBg ) thổi đến gây mưa ở sườn Tây, vượt qua sườn Đông gây ra hiện tượng phơn khô nóng ở các đồng bằng duyên hải. + Ở Trường Sơn Nam : Giữa Tây Nguyên và sườn Đông Trường Sơn có sự khác nhau về mùa khí hậu: Khi sườn Đông Trường Sơn đón nhận các luồng gió từ biển thổi vào tạo nên một mùa mưa vào thu đông, thì ở Tây Nguyên lại là mùa khô, nhiều nơi khô hạn gay gắt, xuất hiện cảnh quan rừng thưa. Còn khi ở Tây Nguyên vào mùa mưa thì bên Đông Trường Sơn nhiều nơi lại chịu tác động của gió Tây khô nóng. - Sự khác biệt thiên nhiên giữa vùng núi Đông Bắc và vùng núi Tây Bắc: + Trong khi thiên nhiên vùng núi Đông Bắc mang sắc thái cận nhiệt đới gió mùa thì ở vùng núi thấp phía nam Tây Bắc lại có cảnh quan thiên nhiên nhiệt đới gió mùa và ở vùng núi cao Tây Bắc, cảnh quan thiên nhiên giống vùng ôn đới. + Nguyên nhân do vùng núi Đông Bắc chịu tác động mạnh hơn của gió mùa Đông Bắc, vùng núi Tây Bắc chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc yếu hơn và có đai cao ôn đới do có địa hình cao trên 2 600 m ( ở dãy núi Hoàng Liên Sơn ). Câu 25 : Vùng núi và đồng bằng nước ta có quan hệ mật thiết về mặt phát sinh như thế nào? - Các đồng bằng, chủ yếu là đồng bằng chân núi. + Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long hình thành trên một vùng núi cổ sụt lún. Bao quanh đồng bằng là đồi núi, ngay trong đồng bằng cũng có núi sót. + Dải đồng bằng Duyên hải miền Trung hình thành trên các đứt gãy ven biển, bị những nhánh núi ngang chạy sát ra bờ biển chia cắt thành những đồng bằng nhỏ hẹp. - Bồi đắp nên đồng bằng là phù sa của các con sông từ miền núi xuống ( Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long,...). - Chế độ khí hậu – thủy văn miền núi và đồng bằng có sự tương hỗ. Phá rừng đầu nguồn, đắp đập ngăn sông,...đều có ảnh hưởng rõ rệt đến lũ lụt và tưới tiêu ở đồng bằng. Câu 26: Dựa vào bảng số liệu sau và kiến thức đã học, nhận xét và giải thích sự khác nhau về nhiệt độ trung bình năm theo độ cao ở một số địa điểm. Bảng 1.3.10. NHIỆT ĐỘ TRUNG BÌNH NĂM Ở MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM
  20. Vĩ độ và độ cao Địa Nhiệt độ Vĩ độ và độ cao Địa điểm Nhiệt độ điểm trung bình trung bình năm năm 22020’B;1 581 m Sa Pa 15,20C 22003’B; 244 m Lai Châu 22,60C 11057’B; 1 500 Đà Lạt 18,30C 12013’B; 6 m Nha Trang 26,30C m ( Nguồn: Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm ) Hướng dẫn: - Nhận xét : + Nhiệt độ trung bình năm cao nhất là Nha Trang, tiếp đến là Lai Châu, Đà Lạt; thấp nhất là Sa Pa. + Tuy độ cao xấp xỉ nhau ( Sa Pa và Đà Lạt ) , nhưng nhiệt độ trung bình năm của Đà Lạt cao hơn nhiều so với Sa Pa. - Nguyên nhân: + Do nhiệt độ phân hóa theo độ cao địa hình; càng lên cao , nhiệt độ càng giảm ( lên cao 100 m, nhiệt độ không khí giảm 0,60C ). + Do tác động của gió mùa Đông Bắc nên nền nhiệt của miền khí hậu phía bắc thấp hơn nền nhiệt của miền khí hậu phía nam, từ đó vùng núi ở miền Bắc có nhiệt độ thấp hơn vùng núi ở miền Nam tại cùng một độ cao. Câu 27: Ở nước ta, đai khí hậu ôn đới gió mùa trên núi có ở đâu? Đặc điểm khí hậu như thế nào? Hướng dẫn: - Đai khí hậu ôn đới gió mùa trên núi có độ cao từ 2 600 m trở lên. Do địa hình nước ta chủ yếu là đồi núi thấp ( dưới 1 000 m ) nên đai này chỉ có ở một số núi cao trên 2 600 m. - Ở miền Bắc, đai khí hậu ôn đới gió mùa trên núi chỉ phát triển hạn chế ở một số vùng núi cao trên dưới 3 000 m như : Pu – si – lung ( 3 076 m ), Phan-xi-păng ( 3 143 m),... Ở miền Nam, đỉnh núi cao nhất chưa đến 2 600 m ( Ngọc Linh 2598 m ) nên đai này không có. - Đặc điểm của đai khí hậu ôn đới gió mùa trên núi: Quanh năm rét dưới 150C, mùa đông có tháng dưới 50C ( ví dụ trên đỉnh Phan-xi-păng có tháng nóng nhất là 11,60C, tháng lạnh nhất 2,30C ). Câu 28: Giải thích tại sao có sự phân mùa khác nhau giữa miền Bắc và Nam; giữa Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ? Hướng dẫn: a) Sự phân mùa khác nhau giữa miền Bắc và Nam: - Miền Bắc có sự phân chia thành mùa đông lạnh, ít mưa ( tháng 11 – 4 ) và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều ( tháng 5 – 10 ). - Nguyên nhân: + Mùa đông chịu tác động của gió mùa Đông Bắc lạnh khô; nửa sau mùa đông có mưa phùn do gió này lệch ra biển, tuy nhiên lượng mưa không đáng kể. Ngoài ra, Tín phong bán cầu Bắc thổi xen kẽ với gió mùa Đông Bắc cũng tạo nên thời tiết khô. + Mùa hạ chịu tác động của gió Tây Nam nóng ẩm và dải hội tụ nhiệt đới nên mưa nhiều.