Tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh

doc 101 trang An Diệp 10/01/2026 150
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docto_chuc_day_hoc_dia_li_kinh_te_viet_nam_lop_12_thpt_thong_qu.doc
  • docDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.doc
  • docxbìa SKKN.docx

Nội dung tài liệu: Tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh

  1. CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến cơ quan Sở GDĐT Chúng tôi ghi tên dưới đây: Trình Tỷ lệ (%) và nội dung đóng Ngày Số Nơi công độ góp vào việc tạo ra sáng kiến Họ và tên tháng Chức danh TT tác chuyên năm sinh Tỷ lệ Nội dung đóng góp vào môn (%) việc tạo ra sáng kiến + Mô tả các giải pháp cũ thường làm. + Sự cần thiết phải áp - Thư ký dụng giải pháp sáng kiến Lê Phương HĐ 1 01/04/1982 Thạc sĩ 60 + Mục đích của giải pháp Linh - Giáo viên sáng kiến Trường Địa lí + Thực hiện các giải pháp THPT 1,2; Đánh giá lợi ích của Chuyên sáng kiến. Bắc Giang + Đề xuất khái niệm + Thực hiện 25% giải pháp 2; Đặng Thị - Giáo viên 2 28/07/1983 Thạc sĩ 40 + Thực hiện giải pháp 3; Hiền Địa lí Đánh giá lợi ích của sáng kiến. sáng kiến + Hoàn thiện các phụ lục Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: 1. Tên sáng kiến: “Tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh”. - Điện thoại liên hệ của tác giả sáng kiến (hoặc đại diện nhóm tác giả sáng kiến) - Họ và tên tác giả: Lê Phương Linh. Điện thoại: 0868.090.963 - Email: lplinh.cbg@bacgiang.edu.vn 2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có. 3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: GDĐT - Địa lí. 4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 20/09/2022. 5. Các tài liệu kèm theo: 5.1. Thuyết minh mô tả giải pháp và kết quả thực hiện sáng kiến: 01 cuốn. 5.2. Quyết định công nhận sáng kiến cấp cơ sở năm học 2022- 2023: Quyết định số 51/QĐ - CBG ngày 01/04/2023 của Hội đồng sáng kiến trường THPT Chuyên Bắc Giang. 5.3. Biên bản họp Hội đồng sáng kiến cấp cơ sở - Trường THPT Chuyên Bắc Giang Bắc Giang, ngày 02 tháng 04 năm 2023 ĐẠI DIỆN NHÓM TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Lê Phương Linh
  2. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh”. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 20/09/2022 3. Các thông tin cần bảo mật: không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Hiện nay, các giờ dạy học môn Địa lí vẫn còn phải chịu rất nhiều áp lực từ những kì thi. So với những thay đổi trong cách kiểm tra đánh giá môn Địa lí thì thực tiễn hoạt động kiểm tra đánh giá tồn tại nhiều bất cập đặc biệt là khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. Việc dạy học Địa lí hiện nay tuy đã cởi mở hơn song do nỗi ám ảnh “học để thi” bao trùm tâm lí của cả thầy và trò, các bài học vẫn nghiêng về việc truyền thụ kiến thức. Trong các nhà trường, người đánh giá chủ yếu vẫn là giáo viên và các cơ quan quản lí giáo dục. Hình thức đánh giá phổ biến vẫn là thông qua các đề kiểm tra, chủ yếu là đề tự luận được giao trên lớp (kiểm tra thường xuyên), các đề thi tuyển sinh, các kỳ thi học sinh giỏi .hoặc nửa tự luận, nửa trắc nghiệm. Năng lực mà học sinh được đánh giá với các đề kiểm tra như vậy thường là năng lực trình bày, diễn đạt, lập luận, kỹ năng trả lời các câu hỏi theo định hướng. Các năng lực khác như trình bày một vấn đề trước đám đông, xử lý tình huống cụ thể, làm việc hợp tác, đưa ra kiến giải riêng không được thể hiện trong quá trình kiểm tra đánh giá. Trước khi áp dụng giải pháp, tôi nhận thấy một vấn đề đó là tư duy phản biện, năng lực phản biện được ứng dụng rất nhiều vào các môn khoa học tự nhiên như Toán học, Vật lí, Hóa học. Môn xã hội thì đã được áp dụng trong giảng dạy ở bộ môn Văn học, Lịch sử. Nhưng với bộ môn Địa lí phần Kinh tế Việt Nam - một trong những chuyên đề kiến thức với những đặc trưng rất riêng biệt lại chưa được nghiên cứu một cách cụ thể; vì vậy Địa lí nói chung và phần Địa lí Kinh tế Việt Nam nói riêng được coi là “mảnh đất màu mỡ” để phát triển tư duy phản biện thì lại chưa được đề cập nghiên cứu một cách cụ thể về cả nội dung giảng và cách thức áp dụng. Trong một thời gian dài các giải pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào cách dạy học tại các nhà trường phổ thông ở Việt Nam. Vì vậy, quá trình dạy học còn nặng về áp đặt kiến thức và việc tiếp nhận kiến thức của học sinh còn mang tính thụ động, việc truyền thụ kiến thức vẫn mang tính chất một chiều, tương tác giữa GV và HS trong giờ học tương đối ít, hầu như vẫn là hình thức “đọc - chép”. Mặt khác, cũng phải kể đến một rào cản từ tư duy người thầy đó là không có nhiều giáo viên có thói quen lắng nghe ý kiến phản biện của học sinh, nhất là những ý kiến trái chiều. Việc tiếp nhận kiến thức một các thụ động, một chiều từ các cấp học dưới đã trở thành thói quen trong học tập của nhiều học sinh, khiến nhiều học sinh trở nên lười, ngại tư duy, ngại động não. Trong khi, nhiều học sinh có nhận thức tốt, năng động, 1
  3. sáng tạo, dễ dàng tiếp thu và thích nghi với cái mới đặc biệt là những đổi thay trong phương pháp dạy học lại không có cơ hội để thể hiện khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của bản thân. Từ đó, dẫn đến một thực tế, nhiều học sinh tư duy phản biện khá tốt nhưng con e dè, chưa mạnh dạn thể hiện do còn thiếu tự tin. Đó là do kĩ năng phản biện của các em chưa thật tốt. Theo chúng tôi, muốn nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí ở trường phổ thông cần tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy phản biện để có thể bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của mình một cách tự tin. Một giờ học Địa lí hiệu quả phải là giờ học có sự tương tác tích cực giữa thày - trò, trò - trò trong một không khí thật sự dân chủ, khoảng cách thày - trò được rút ngắn. Trong một môi trường học tập như thế, học sinh hoàn toàn có đầy đủ tự tin đưa ra những phản biện để tranh luận với bạn bè, thầy cô về một nội dung nào đó. Đồng thời với đổi mới phương pháp dạy học phải tiến hành đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá, chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kỹ năng sang đánh giá năng lực của người học; Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo, tư duy phản biện Thực tế trong quá trình giảng dạy, các GV đã chú ý đến việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới để nhằm hình thành và phát triển tư duy phản biện cho HS, tuy nhiên việc đó lại không tiến hành được thường xuyên, hoặc sử dụng không linh hoạt các biện pháp giảng dạy nên hiệu quả chưa cao, HS vẫn còn rất lúng túng khi gặp các dạng bài tập phản biện. Điều này chứng tỏ cần phải tăng cường hơn nữa việc đổi mới phương pháp giảng dạy để góp phần hình thành và phát triển tư duy phản biện cho HS. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến. - Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kì mới. Tiếp đó là sự ra đời của Nghị quyết số 88/2014/QH13; Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông giai đoạn 2015-2020; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, giáo dục đã chuyển từ việc người thầy là trung tâm sang người học là trung tâm, chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học Để thực hiện thắng lợi các Nghị quyết này thì cần phải làm nhiều việc như tiếp tục thay đổi chương trình và sách giáo khoa (hiện nay đang thực hiện chương trình GDPT 2018 với khối 10 trong năm học 2022- 2023), chuẩn bị các đồ dùng dạy học và một trong những việc quan trọng tạo những con người có khả năng nhạy bén, linh hoạt ứng biến và thuyết phục người khác bằng khả năng tư duy và lập luận của mình. 2
  4. Điều đó có nghĩa việc phát triển tư duy phản biện là năng lực quan trọng của mỗi con người trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay. Địa lí là một bộ môn có tính đặc thù - Địa lí cung cấp cho học sinh nhiều thông tin, kiến thức và kĩ năng gắn liền với thực tế. Nó giúp cho học sinh hoàn thiện thêm những tri thức về địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế - xã hội trên thế giới và Việt Nam. Địa lí là môn học gắn liền với thực tiễn cuộc sống, giúp học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng đã có vào thực tiễn. Và quan trọng hơn nữa là ngày càng có nhiều luồng thông tin khác nhau liên quan đến con người, tự nhiên và kinh tế - xã hội diễn ra khắp mọi nơi trên thế giới. Điều quan trọng là học sinh phải biết phân tích, lựa chọn thông tin phù hợp, đưa ra chính kiến của bản thân và có hành động phù hợp trước một vấn đề mang tính thời sự. Trong phương pháp tư duy thế kỉ XXI, tư duy phản biện là hướng tư duy được đề cao. Lời khuyên của Einstein dành cho nền giáo dục là: “giáo dục không phải là học thuộc những điều hiển nhiên, giáo dục là huấn luyện khả năng tư duy”, “điều quan trọng là đừng bao giờ ngừng đặt câu hỏi”. Với chương trình địa lí khối 12, ngoài những kiến thức về tự nhiên Việt Nam, các em sẽ có thêm nhiều cơ hội để hiểu biết về các vấn đề kinh tế Việt Nam. Trong hệ thống chương trình giáo dục phổ thông, ngoài việc đảm bảo cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức đặc thù của bộ môn; môn Địa lí còn đóng vai trò quan trọng trong việc rèn luyện và phát triển các năng lực thiết yếu của người học như: Năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề, tự học, sử dụng công nghệ thông tin... (Năng lực chung); năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ; sử dụng bản đồ; sử dụng tranh ảnh... (năng lực chuyên biệt). Chính vì vậy, việc phát triển các năng lực cần thiết cho người học thông qua môn Địa lí là một yêu cầu tất yếu. Ở các nền giáo dục tiên tiến, môn Địa lí được xem là một trong những môn học có thế mạnh để rèn luyện tư duy phản biện cho người học. Chính vì vậy, việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh phổ thông qua dạy học Địa lí nhất là phần Địa lí kinh tế Việt Nam là việc làm cần thiết, phù hợp với mục tiêu bồi dưỡng phẩm chất, năng lực người học qua môn học. Mặt khác, trong chương trình Địa lí lớp 12 THPT, phần Địa lí kinh tế Việt Nam được coi là một phần kiến thức rất quan trọng, chiếm một khối lượng kiến thức khá lớn; đồng thời đây là nội dung tương đối rộng và phức tạp trong chương trình Địa lí lớp 12 cũng như trong ôn thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi học sinh giỏi, đặc biệt là thi học sinh giỏi Quốc gia. Vì vậy, việc học và nắm chắc kiến thức cơ bản cũng như bản chất của các đơn vị kiến thức phần Địa lí kinh tế Việt Nam sẽ là cơ sở quan trọng để học sinh có thể học và vận dụng những kiến thức này khi học sang các chuyên đề học tập khác cũng như có thể đáp ứng tốt được các hình thức kiểm tra, đánh giá của các kỳ thi hiện nay (thi HS giỏi tỉnh, Quốc gia...). Thực tế cũng cho thấy, khả năng phản biện của học sinh THPT còn tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được khai thác. Nhiều học sinh muốn phản biện hoặc đã từng phản biện nhưng chưa được giáo viên tạo điều kiện hoặc chưa được các bạn trong lớp hưởng ứng. Với nhiều lí do khác nhau đã khiến cho việc hình thành tư duy phản biện trong mỗi HS chưa thành thói quen, thành kĩ năng. Điều này khiến cho việc dạy học 3
  5. Địa lí ở trường phổ thông chưa thực sự tạo được sức hút với nhiều học sinh; cho nên việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lên một mức đáng kể. Không những thế, đặt trong bối cảnh chung của ngành giáo dục hiện nay, phát huy khả năng phản biện của học sinh trong dạy học nói chung và dạy học Địa lí nói riêng còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Vì những lí do trên, chúng tôi thấy rằng việc lựa chọn áp dụng sáng kiến: “Tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh” là một việc làm rất cần thiết. Qua việc thử nghiệm dạy ở cả các lớp cơ bản, các lớp chuyên Sử-Địa, các đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí (từ tháng 09 năm 2022) tại trường THPT Chuyên Bắc Giang và một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (từ tháng 11 năm 2022) đã bước đầu có những kết quả nhất định. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Các giải pháp của sáng kiến là tài liệu tham khảo rất phù hợp cho giáo viên Địa lí khi giảng dạy và ôn thi học sinh giỏi môn Địa lí, là tài liệu tham khảo bổ ích cho học sinh lớp 12 khi học phần Địa lí kinh tế Việt Nam cũng như khi bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi các cấp. Cụ thể: Giải pháp 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận về tư duy phản biện để từ đó sáng kiến tập trung đánh giá vai trò của tư duy phản biện đối với học sinh, khi học môn Địa lí nói chung và phần Địa lí kinh tế Việt Nam nói riêng. Trên cơ sở tìm hiểu về lý thuyết phát triển năng lực phản biện trong dạy học Địa lí, chúng tôi hệ thống hóa những lý thuyết cần thiết, ngắn gọn, dễ hiểu về đặc điểm của kiến thức phần Địa lí kinh tế Việt Nam. Trọng tâm của giải pháp này là chúng tôi xây dựng hệ thống lí thuyết về tư duy phản biện (khái niệm, đặc điểm, các kĩ năng của tư duy phản biện, tầm quan trọng của tư duy phản biện đối với HS); Giải pháp này nhằm mục đích cho GV định hình rõ ràng về mặt lý thuyết mà không cảm thấy khó khăn, phức tạp hay hoang mang như khi đọc các tài liệu khác. Giải pháp 2: Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của tư duy phản biện trong dạy học Địa lí ở trường THPT. Vì vậy; sáng kiến tập trung đánh giá thực trạng rèn luyện và phát triển tư duy phản biện cho học sinh ở các trường phổ thông nói chung và trong môn địa lí nói riêng. Trọng tâm của giải pháp này là chúng tôi tìm hiểu đặc điểm của chương trình, sách giáo khoa phần Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT; đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của HS lớp 12 THPT; thực trạng việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh thông qua dạy học môn địa lí ở trường THPT. Đây sẽ là cơ sở, là tài liệu hữu ích để GV có thể tham khảo trước khi tiến hành tổ chức một phương pháp dạy học mới bất kỳ trong quá trình giảng dạy bộ môn tại trường THPT. Quá trình này cũng sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của cả GV và HS. Giải pháp 3: Đề xuất qui trình và các biện pháp để tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua phát triển tư duy phản biện cho học sinh. 4
  6. Ở giải pháp này, chúng tôi đề ra một số yêu cầu đối với việc phát triển tư duy phản biện học sinh trong dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT, đặc biệt trong giải pháp có đưa ra các nội dung/tình huống có thể phát triển tư duy phản biện trong phần Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT. Bên cạnh đó, việc đưa ra quy trình phát triển tư duy phản biện cho học sinh và các cách phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT cũng là những nội dung trọng tâm của giải pháp. Giải pháp này nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua các cách làm việc tại lớp, các bài tập rèn luyện theo mức độ từ dễ đến khó. Bằng việc kết hợp như vậy, học sinh sẽ biết phân tích, đánh giá, nhận xét khi gặp một sự vật - hiện tượng địa lí. Đây là một kĩ năng cực kì cần thiết để làm các câu hỏi liên quan đến nội dung Địa lí kinh tế Việt Nam trong quá trình học tập hàng ngày cũng như trong các đề thi học sinh giỏi các cấp. Dạy học theo 3 giải pháp này nhằm khuyến khích được tinh thần tự học, tự sáng tạo của học sinh, học sinh có hứng thú trong học tập, tự giác và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Từ đó học sinh có thể phát triển năng lực phản biện, áp dụng nó một cách hiệu quả khi học sang các nội dung kiến thức ở giai đoạn khác cũng như có thể vận dụng kỹ năng này để học các môn học khác. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Các giải pháp áp dụng sáng kiến Trong phạm vi sáng kiến này, chúng tôi đã đưa ra ba giải pháp hoàn toàn mới để có thể đạt được các mục tiêu phát triển tư duy phản biện cho HS mà sáng kiến hướng tới. * Giải pháp 1: Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho HS. Với hệ thống lý thuyết chung về phát triển tư duy phản biện giúp cho GV có cái nhìn rất hệ thống về tư duy phản biện. Còn đối với HS, đặc biệt là HS lớp chuyên và HS trong đội tuyển HSG (tỉnh, Quốc gia,...) các em có thể tự đọc tài liệu, tự lấy ví dụ liên hệ về các dạng phản biện từ những nội dung kiến thức Địa lí thuộc phần Địa lí kinh tế Việt Nam mà HS đã được học, từ đó giúp các em định hình và giải quyết vấn đề một cách dễ dàng, không còn nhớ máy móc, một chiều mà sẽ biết nhìn nhận, đánh giá vấn đề từ nhiều góc độ, biết phân tích, nhận xét và tổng hợp kiến thức. Đây chính là mục tiêu hướng tới của phát triển tư duy phản biện cho học sinh mà sáng kiến chúng tôi hướng tới. Kết quả giải pháp 1: Hệ thống toàn bộ cơ sở lí luận về việc tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho HS. (Chi tiết tại phụ lục số 1) * Giải pháp 2: Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho HS. Với hệ thống cơ sở thực tiễn về phát triển tư duy phản biện giúp cho GV có cái nhìn rất hệ thống về khả năng áp dụng giải pháp vào dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam 5
  7. lớp 12 THPT. Còn đối với HS, đặc biệt là HS lớp chuyên và HS trong đội tuyển HSG (tỉnh, Quốc gia,...) các em có thể hiểu hơn về chương trình, về đặc điểm SGK Địa lí 12, về những vấn đề tâm lí lứa tuổi của bản thân,.. để từ đó có khả năng thích ứng khi được tiếp nhận những phương pháp học tập mới tại trường THPT. Kết quả giải pháp 2: Hệ thống toàn bộ cơ sở thực tiễn về việc tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho HS. (Chi tiết tại phụ lục số 2) * Giải pháp 3: Đề xuất qui trình và các biện pháp để tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua phát triển tư duy phản biện cho học sinh. Trong giải pháp này, tác giả đưa ra các yêu cầu đối với việc phát triển tư duy phản biện cho HS trong dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT; từ đó đưa ra qui trình và các cách phát triển TDPB cho HS; xác định những nội dung Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT góp phần phát triển năng lực phản biện cho học sinh. Kết quả giải pháp 3: Nhóm tác giả đã đưa ra các yêu cầu đối với việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh; xác định cụ thể các nội dung thuộc Địa lí kinh tế Việt Nam có thể phát triển tư duy phản biện; đề xuất qui trình gồm 5 bước và 4 biện pháp (4 cách) để phát triển tư duy phản biện trong quá trình dạy học Địa lí cho học sinh lớp 12 THPT. Mỗi một nội dung, một biện pháp, nhóm tác giả đều lấy ví dụ minh họa cụ thể. Cùng với việc giới thiệu giáo án minh hoạ để thực nghiệm giải pháp thì nhóm tác giả cũng đưa ra đề kiểm tra đánh giá hiệu quả của giải pháp sau mỗi bài giảng thực nghiệm. Để hỗ trợ cho việc bồi dưỡng các đội tuyển HSG các cấp, nhóm tác gỉả cũng đã hệ thống hoá một số câu hỏi tự luận thường xuyên xuất hiện trong đề thi học sinh giỏi các cấp, nhất là thi HSG cấp Quốc gia và HSG cấp Tỉnh. (Chi tiết tại phụ lục số 3) Chúng tôi cùng các đồng nghiệp đã áp dụng sáng kiến trong hoạt động dạy cho lớp 12 tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; dạy theo các giải pháp của sáng kiến cho lớp 12 cơ bản, lớp 10, 11, 12 chuyên Sử-Địa; bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp Quốc gia môn Địa lí tại trường THPT Chuyên Bắc Giang. Sau khi ứng dụng sáng kiến, nhóm tác giả đã nhận được những phản hồi tích cực từ các đồng nghiệp cùng sự ghi nhận tính hiệu quả của sáng kiến trong việc nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng bồi dưỡng đội tuyển, tiết kiệm thời gian các buổi rèn kĩ năng làm bài cho học sinh khi học tập phần Địa lí kinh tế Việt Nam. * Kết quả khi áp dụng 03 giải pháp của sáng kiến: Để phân tích, đánh giá kết quả học tập đạt được của HS các lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi lấy kết quả học tập kỳ học (năm học) trước đó của HS làm cơ sở để đánh giá kết quả học tập ban đầu của HS các nhóm lớp. Chúng tôi đã áp dụng giảng dạy thực nghiệm các giải pháp của sáng kiến đối với 06 lớp 12 THPT (không chuyên) cùng với việc dạy 06 lớp đối chứng - lớp giảng dạy không áp dụng giải pháp của sáng kiến mà dạy theo phương pháp truyền thống - 6
  8. tại Trường THPT Chuyên Bắc Giang và 05 trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong năm học 2022 - 2023. Sau khi thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra HS. Theo đó, các tiêu chí đánh giá được xây dựng theo 3 mức độ, điểm trung bình tương ứng với các mức độ như sau: Điểm < 5 Đ Từ 5 Đ đến <8 Đ ≥ 8 đ đến 10 Đ Mức độ đạt / không Không đạt Đạt Tốt đạt theo tiêu chí Sau khi thống nhất cách đánh giá tính hiệu quả của giờ dạy tại các lớp thực nghiệm theo giáo án minh hoạ theo giải pháp của sáng kiến (Phụ lục số 3), chúng tôi đã nhận được kết quả đánh giá cụ thể của các đồng nghiệp hỗ trợ ứng dụng sáng kiến từ các trường gửi về (Kết quả tổng hợp chi tiết thể hiện tại Phụ lục số 5). Từ các bảng thống kê kết quả của quá trình thực nghiệm, chúng tôi đã tổng hợp các bảng thống kê để có “Bảng tổng hợp so sánh kết quả bài kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng” như sau: Các mức độ Tiêu chí Lớp thực nghiệm – 255 học sinh Không đạt Đạt Tốt Tiêu chí 1 0% (0HS) 61,96 % (158 HS) 38,04% (97 HS) Tiêu chí 2 0% (0HS) 45,1% (115 HS) 54,9% (140 HS) Tiêu chí 3 6,27% (16 HS) 43,92 % (112HS) 49,81% (127 HS) Lớp đối chứng – 252 học sinh Không đạt Đạt Tốt Tiêu chí 1 11,9% (30 HS) 82,54 % (208HS) 5,56 % (14 HS) Tiêu chí 2 13,89 % (35 HS) 75,79 % (191 HS) 10,32 % (26 HS) Tiêu chí 3 37,31 % (94 HS) 50,79 % (128 HS) 11,9 % (30 HS) Qua bảng thống kê trên ta thấy, ở mức “đạt” và mức “tốt” của các tiêu chí 1, 2, 3; kết quả của lớp thực nghiệm luôn cao hơn so với lớp đối chứng, còn ở mức “không đạt” thì tỉ lệ của lớp thực nghiệm thấp hơn rất nhiều so với lớp đối chứng. Điều đó có thể nói, việc ứng dụng sáng kiến: “Tổ chức dạy học Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT thông qua việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh” cho thấy học sinh đã hứng thú với môn Địa lí hơn và nội dung bài học đã phần nào tạo sức cuốn hút hơn cho học sinh. Vì vậy, khi học sinh được phát huy tư duy phản biện sẽ giúp cho các em đạt kết quả cao hơn sau mỗi bài học. Dựa trên cơ sở này, giáo viên cũng thuận lợi hơn trong việc thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp dạy học tích cực mà hiện nay chúng ta đang hướng tới. Riêng tại trường THPT Chuyên Bắc Giang, giải pháp của sáng kiến đã được chúng tôi bắt đầu ứng dụng lần đầu từ tháng 9 năm 2022. Sau một năm học, giải pháp được ứng dụng tại các lớp chuyên Sử- Địa K30, K31; K30 Anh, Pháp, Văn, Trung và Đội tuyển HSG cấp tỉnh, HSG cấp Quốc gia môn Địa lí. Kết quả sau khi ứng dụng 7
  9. sáng kiến đã cho thấy có sự tiến bộ cả về chất lượng cũng như sự hứng thú của học sinh với môn Địa lí. Cụ thể: So sánh hứng thú, sự tích cực của HS trước và sau khi áp dụng giải pháp (kết quả đo lường bằng việc phỏng vấn HS của 6 lớp: Sử - Địa K30, K31, K30 Anh, K30 Pháp K30 Văn, K30 Trung và HS đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh với tổng số 217 HS): Thái độ, hứng thú và sự tích cực với Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng nội dung bài học giải pháp giải pháp Rất hứng thú 12% 20% Có hứng thú một chút 35% 60% Không hứng thú 38% 20% Rất không hứng thú 15% 0% Có thể thấy, giải pháp đưa ra đã có hiệu quả rất tốt trong việc làm thay đổi hứng thú, sự tích cực, chủ động của HS trong giờ học Địa lí. Từ sự thay đổi về nhận thức của học sinh khi học môn Địa lí lớp 12 nói chung và đặc biệt là phần Địa lí kinh tế Việt Nam nói riêng dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ về kết quả học tập của bộ môn. Kết quả giáo dục đại trà sau năm học 2021- 2022 và kỳ 1 của năm học 2022- 2023 thì tất cả học sinh tại các lớp được giảng dạy theo giải pháp sáng kiến có điểm trung bình bộ môn đều đạt 100% khá, giỏi. Trong công tác bồi dưỡng HSG cấp tỉnh môn Địa lí lớp 12, việc áp dụng giải pháp sáng kiến vào quá trình bồi dưỡng đội tuyển đã đóng góp một phần không nhỏ vào thành tích mà các đội tuyển đã đạt được trong 2 năm học vừa qua. Kết quả đạt được không chỉ đảm bảo về số lượng giải mà chất lượng giải cũng được tăng lên. Cụ thể: So sánh Năm học 2021-2022 Năm học 2022-2023 Số giải (*) Đạt 06/09 giải Đạt 06/09 giải Chất lượng - 01 giải Nhất (điểm đứng thứ ba - 01 giải Nhất (điểm đứng thứ giải Tỉnh) nhất Tỉnh) - 01 giải Nhì - 01 giải Nhì - 02 giải Ba - 02 giải Ba - 02 giải Khuyến khích - 02 giải Khuyến khích (*) Cơ cấu số giải của HS trường Chuyên theo qui định riêng của Sở GD&ĐT, tối đa chỉ được 6/9 HS đi thi có giải. 7.1.2. Các bước đã được thực hiện khi áp dụng sáng kiến - Bước 1. Giới thiệu sáng kiến đến các đồng chí đang thực hiện nhiệm vụ giảng dạy Địa lí và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí tại trường THPT Chuyên Bắc Giang và các đồng chí đang giảng dạy Địa lí tại các trường THPT Ngô Sĩ Liên; THPT Lạng Giang số 1; THPT Lạng Giang 3; THPT Giáp Hải, THPT Yên Dũng 2. - Bước 2. Tổ chức trao đổi, thảo luận trong nhóm dạy; xây dựng kế hoạch áp dụng sáng kiến; đã trao đổi đồng thời nhờ các đồng chí trong nhóm chuyên môn và các đồng nghiệp tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang ứng dụng sáng kiến trong giảng dạy, cụ thể: 8
  10. Số Chức Trình độ Nội dung công việc hỗ trợ Họ và tên Đơn vị công tác TT danh chuyên môn Ứng dụng sáng kiến để Trường THPT Hoàng Thị Thanh Giáo giảng dạy trên lớp và các 1 Chuyên Bắc Thạc sĩ Quyên viên đội tuyển - Kiểm nghiệm Giang hiệu quả của sáng kiến Ứng dụng sáng kiến để Trường THPT Giáo giảng dạy trên lớp và các 2 Nguyễn Thị Lưu Chuyên Bắc Thạc sĩ viên đội tuyển - Kiểm nghiệm Giang hiệu quả của sáng kiến Ứng dụng sáng kiến để Trường THPT Giáo giảng dạy trên lớp và các 3 Hà Thị Lan Chuyên Bắc Thạc sĩ viên đội tuyển - Kiểm nghiệm Giang hiệu quả của sáng kiến Ứng dụng sáng kiến để Trường THPT Giáo 4 Lê Thị Thu Thuỷ Thạc sĩ giảng dạy và kiểm nghiệm Ngô Sỹ Liên viên hiệu quả của sáng kiến Ứng dụng sáng kiến để Đinh Thị Hồng Trường THPT Giáo 5 Cử nhân giảng dạy và kiểm nghiệm Thắm Lạng Giang số 1 viên hiệu quả của sáng kiến Ứng dụng sáng kiến để Trường THPT Giáo 6 Hoàng Thị Huyền Cử nhân giảng dạy và kiểm nghiệm Giáp Hải viên hiệu quả của sáng kiến Ứng dụng sáng kiến để Trường THPT Giáo 7 Phan Đức Tráng Cử nhân giảng dạy và kiểm nghiệm Lạng Giang số 3 viên hiệu quả của sáng kiến Ứng dụng sáng kiến để Trường THPT Giáo 8 Nguyễn Thị Khoa Cử nhân giảng dạy và kiểm nghiệm Yên Dũng số 2 viên hiệu quả của sáng kiến - Bước 3: Tổ chức ứng dụng sáng kiến vào giảng dạy Địa lí cho HS các lớp 12 cơ bản, các lớp chuyên Sử-Địa, các Đội tuyển HSG cấp tỉnh, HSG cấp Quốc gia môn Địa lí tại trường THPT Chuyên Bắc Giang bắt đầu từ tháng 09/2022 và ứng dụng sáng kiến vào giảng dạy tại một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ tháng 11/2022 (THPT Ngô Sĩ Liên, THPT Lạng Giang số 3, THPT Lạng Giang số 1, THPT Yên Dũng số 2, THPT Giáp Hải). - Bước 4: Tổ chức rút kinh nghiệm sau khi áp dụng sáng kiến để giảng dạy Địa lí cho HS các lớp 12 THPT và trong công tác bồi dưỡng HSG Địa lí ở các năm học tiếp theo. Sau khi hoàn thành nội dung trong 03 giải pháp đưa ra, chúng tôi cùng các đồng nghiệp ứng dụng sáng kiến trong việc dạy học môn Địa lí cho HS các lớp 12 cơ bản, lớp 10, 11, 12 chuyên Sử-Địa và dạy chuyên đề ôn thi HSG môn Địa lí các cấp tại trường THPT Chuyên Bắc Giang và một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang theo 04 bước đã trình bày để tiếp tục hoàn thiện, phát triển sáng kiến áp dụng cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh tại trường THPT Chuyên Bắc Giang cũng như tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm học tiếp theo. 9
  11. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến Nhóm giải pháp đã tác động tích cực tới hứng thú học tập của học sinh. Sáng kiến đã được chúng tôi và đồng nghiệp áp dụng vào thực tế giảng dạy cho học sinh lớp 12 cơ bản, các lớp chuyên Sử-Địa, các Đội tuyển HSG cấp tỉnh, HSG cấp Quốc gia môn Địa lí từ tháng 9 năm 2022 tại trường THPT Chuyên Bắc Giang. Để đánh giá và khẳng định khả năng áp dụng rộng rãi và tính hiệu quả của sáng kiến đối với nhiều đối tượng người học cũng như tính phổ thông của sáng kiến; chúng tôi đã phối hợp với các đồng nghiệp ở một số trường THPT trong địa bàn tỉnh Bắc Giang hỗ trợ chúng tôi trong việc ứng dụng sáng kiến vào giảng dạy cho HS lớp 12. Sáng kiến đã được thử nghiệm áp dụng tại một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang như trường THPT Ngô Sĩ Liên, THPT Lạng Giang số 3, THPT Lạng Giang số 1, THPT Yên Dũng số 2, THPT Giáp Hải. Kết quả của việc áp dụng các giải pháp mà nhóm tác giả đã đề ra trong sáng kiến đã được minh chứng qua có sự tiến bộ vượt bậc về kết quả học tập, thái độ, sự hứng thú và tích cực trong học tập của học sinh và sự tăng lên cả về chất lượng và số lượng giải mà các đội tuyển học sinh giỏi đã đạt được (đã nêu ở phần kết quả của sáng kiến). Từ thực tiễn áp dụng trên đây, có thể khẳng định nhóm các giải pháp này hoàn toàn có khả năng áp dụng rộng rãi tại tất cả các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cũng như trên phạm vi cả nước. Nhóm giải pháp này sẽ góp phần thiết thực vào việc đổi mới PPDH, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong tình hình hiện nay. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến: Sau khi áp dụng các giải pháp nêu trên ở tại trường THPT Chuyên Bắc Giang và một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã cho thấy hiệu quả của sáng kiến đạt được như sau: 7.3.1. Lợi ích kinh tế Khi thực hiện áp dụng sáng kiến trên đây vào thực tiễn dạy học Địa lí tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và trong công tác bồi dưỡng các đội tuyển HSG môn Địa lí, có thể thấy ngay một số lợi ích về mặt kinh tế mà nó mang lại, đó là: - Tiết kiệm thời gian, công sức của giáo viên khi tổ chức giảng dạy môn Địa lí trên lớp, rèn kĩ năng làm bài cho HSG môn Địa lí. - GV có thể sử dụng phần cơ sở lí luận và thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm này để tiếp tục xây dựng các giải pháp rèn luyện, phát triển tư duy phản biện cho HS sang nghiên cứu những chuyên đề kiến thức Địa lí khác. - GV có thể sử dụng các ví dụ, các giáo án minh hoạ, các câu hỏi và bài tập đã được giới thiếu trong sáng kiến để củng cố kiến thức và kĩ năng cho HS trong quá trình giảng dạy và ôn luyện trong học tập bộ môn Địa lí... - Việc áp dụng sáng kiến này vừa đáp ứng được phương pháp dạy học theo hướng tích cực vừa phù hợp với nội dung giảng dạy của môn Địa lí trong điều kiện xã hội tràn ngập thông tin và mạng Internet như hiện nay. - Những giải pháp được nêu trong sáng kiến có thể trở thành tư liệu tham khảo để HS tự học, tự rèn tại nhà. Qua đó tiết kiệm được chi phí đi lại, các khoản chi cho việc mua tài liệu tham khảo 10
  12. - Thực hiện sáng kiến này chính là một điều kiện, một cơ hội để GV tự tìm hiểu tài liệu, cập nhật thông tin tri thức mới, củng cố kiến thức chuyên môn từ đó nâng cao năng lực, phẩm chất cá nhân. Việc GV không ngừng tự trau dồi nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ ở một khía cạnh nào đó cũng có thể xem là tiết kiệm kinh phí cho công tác tập huấn, đào tạo lại. 7.3.2. Lợi ích xã hội - Việc phát triển tư duy phản biện giúp cho GV và HS vượt ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, thói quen có sẵn; hướng đến cái mới, thoát ra khỏi những rào cản của định kiến; tìm hiểu, phát hiện những ý tưởng, giá trị mới của vấn đề; tạo tâm thế sẵn sàng tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ trong suy nghĩ và hành động; có ý thức nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc nhìn mới, đưa lại kết quả mới, kích thích khả năng sáng tạo. - Sáng kiến giúp cho mỗi GV và ngay cả cá nhân từng HS cũng có ý thức hơn trong việc lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác khi tranh luận; dám thừa nhận cái chưa đúng, sẵn sàng thừa nhận cái đúng của người khác. - Với tư duy phản biện, giáo dục - đào tạo ngày càng chuyển từ phương pháp truyền thống sang phương pháp hiện đại với việc: lấy người học và tư duy sáng tạo của họ làm trung tâm; chuyển từ hình thức học chủ yếu trên lớp sang hình thức tổ chức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa; chuyển từ cung cấp tri thức, kỹ năng là chủ yếu sang cung cấp phương pháp nghiên cứu, học tập là chủ yếu; chuyển từ đánh giá tri thức là chủ yếu sang đánh giá năng lực là chủ yếu; v.v... nhằm giáo dục, đào tạo những lớp người mới tích cực, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. - Sáng kiến kinh nghiệm này cũng là tài liệu tham khảo hữu ích, giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, đóng góp hiệu quả cho công tác giáo dục mũi nhọn. * Cam kết: Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN, ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN 11
  13. PHỤ LỤC SỐ 1 TÌM HIỂU CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỊA LÍ KINH TẾ VIỆT NAM LỚP 12 THPT THÔNG QUA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH 1. Khái niệm về tư duy phản biện Trước hết, chúng ta cần có cái nhìn đúng đắn về “phản biện”. Phản biện là đưa ra những suy nghĩ, quan điểm và lý lẽ về một vấn đề để chứng minh vấn đề đó đúng hay sai. Có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tư duy phản biện. Hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chung và thống nhất nào về tư duy phản biện. Tư duy phản biện tiếng Anh là Critical Thinking còn được gọi là tư duy phân tích hay tư duy phê phán, là một quá trình tư duy nhằm chất vấn các giả định hay giả thiết. Bạn biết cách phải suy nghĩ như thế nào khi đứng trước một điều gì đó. Khi nhìn vào một vấn đề, chúng ta đánh giá được nó là sai hay đúng. Nguồn gốc của khái niệm tư duy phản biện có thể tìm thấy trong tư tưởng của phương Tây đối với phương pháp tư duy theo lối Socrat của người Hy lạp cổ, còn ở phương Đông, là trong kinh Vệ đà của nhà Phật. Trong phạm vi bộ khung khái niệm triết học của lý thuyết phản biện xã hội, tư duy phản biện thường được hiểu là ước muốn kết hợp những quan điểm mới hay những quan điểm cũ đã biến cải vào cách tư duy và hành động của chúng ta, cũng như ước muốn thúc đẩy khả năng phản biện nơi người khác. Còn theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “tư duy phản biện hay là tư duy phân tích là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm”. Theo Tiến sĩ Jennifer Moon trong quyển Critical Thinking- An exploration of theory and practice, Tư duy phản biện là khả năng đánh giá vấn đề theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh khác nhau một cách logic và sáng tạo. Cụ thể, khi đứng trước bất kì vấn đề nào trong cuộc sống, những người có tư duy phản biện tốt luôn có cách nhìn nhận, phân tích những dữ kiện mà bản thân thu thập được cũng như sẵn sàng học hỏi từ nhiều nguồn khác nhau để đưa ra những đánh giá khách quan về tình huống đang gặp phải. Những người này thường được nhận diện với các đặc điểm như biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của mọi người xung quanh, đưa ra được nhiều dẫn chứng thuyết phục để chia sẻ kinh nghiệm của cá nhân cũng như có tinh thần học hỏi rất cao. Khi đứng trên phương diện giáo dục, giáo sư B. Bloom với tháp phân loại Bloom chia quá trình học thành 6 bậc khác nhau là kĩ năng ghi nhớ, thấu hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá, chế tạo thì tư duy phản biện (TDPB) được ông định nghĩa là sự kết hợp của 3 kĩ năng cao nhất là phân tích, đánh giá, chế tạo. Edward Glaser, đồng tác giả của một trắc nghiệm tư duy phản biện được sử dụng rộng rãi nhất thế giới là Watson-Glaser CriticalThinking Appraisal phát biểu về tư duy phản biện như sau: “(1) là thái độ sẵn lòng quan tâm suy nghĩ chu đáo 12
  14. về những vấn đề và chủ đề xuất hiện trong cuộc sống cá nhân; (2) là sự hiểu biết về phương pháp điều tra và suy luận có lý; và (3) là một số kỹ năng trong việc áp dụng các phương pháp đó. Tư duy phản biện đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ để khảo sát niềm tin hay giả thuyết bất kỳ có xem xét đến các bằng chứng khẳng định nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến”. Như vậy, tư duy phản biện hay tư duy phân tích/tư duy phê phán là bậc cao hơn của tư duy, là khả năng đánh giá vấn đề theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh khác nhau một cách logic và sáng tạo; Là khả năng nhìn nhận, phân tích những dữ kiện, sàng lọc thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và đưa ra những đánh giá khách quan về các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và trong thực tiễn đời sống. Ngày nay, tư duy phản biện là một kỹ năng sống được đề cao trong nhà trường, doanh nghiệp cũng như trong đời sống, trong việc phát triển kỹ năng tư duy, đàm phán, phân tích vấn đề. Những cá nhân có kỹ năng tư duy phản biện thường có quan điểm cá nhân nổi trội và được đánh giá cao giữa tập thể. 2. Đặc điểm của tư duy phản biện Tư duy phản biện (TDPB) thể hiện ở khả năng nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề của con người trong cuộc sống, học tập và công việc. Người có TDPB thường có các đặc điểm sau: - Biết lắng nghe ý kiến, quan điểm của người khác. - Biết tôn trọng ý kiến của mọi người xung quanh. - Biết học hỏi, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. - Biết nhìn nhận, phân tích các thông tin, dữ kiện mà bản thân thu thập được. - Biết đánh giá khách quan về những tình huống mà mình đang gặp phải. - Đưa ra được nhiều dẫn chứng thuyết phục để chia sẻ kinh nghiệm của cá nhân mình. - Là những người có tinh thần học hỏi rất cao. Họ tự nảy ra câu hỏi và tự mình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó. Họ không thích học tập một cách thụ động từ người khác. * Người có tư duy phản biện thường có khả năng: - Hiểu sự gắn kết logic giữa các quan điểm. - Nhận dạng, phát triển và đánh giá các lập luận. - Tìm ra những sự không nhất quán và lỗi sai phổ biến trong cách lập luận. - Giải quyết vấn đề một cách có hệ thống. - Nhận dạng sự liên quan và tầm quan trọng của các ý tưởng. - Xem xét mọi vấn đề, mọi thông tin liên quan trước khi đưa ra quyết định. Xem xét cách lập luận và sự đúng đắn trong quan điểm, niềm tin của người khác. Chúng ta cần hiểu rằng, người có TDPB không chỉ là người có khả năng tích lũy thông tin. Người có trí nhớ tốt và biết nhiều kiến thức chưa chắc là người có TDPB tốt. Người có TDPB tốt có khả năng suy luận ra những hệ quả từ những gì họ biết và sử dụng thông tin để giải quyết vấn đề, đồng thời tìm kiếm những nguồn thông tin liên quan để tăng hiểu biết của mình về vấn đề đó. Họ tự đặt câu hỏi và tự mình đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đó. Họ không thích học tập một cách thụ động từ người khác Chúng ta không được nhầm lẫn giữa TDPB với việc thích tranh cãi hay chỉ trích người khác. Mặc dù các kỹ năng tư duy phản biện có thể được sử dụng để vạch trần những thiếu sót và sai lầm trong lập luận, nhưng kỹ năng này đóng vai trò quan trọng 13
  15. trong việc tạo ra những lập luận đúng đắn và mang tính xây dựng. Tư duy phản biện giúp chúng ta thu nạp kiến thức, tăng mức độ thấu hiểu lý thuyết đã biết, củng cố cách lập luận, nâng cao hiệu quả xử lý công việc và giải quyết vấn đề. Tư duy phản biện cần được hiểu là một loại tư duy để đánh giá, nó bao gồm sự phê phán và cả tư duy sáng tạo. Để hiểu tốt một vấn đề mà chỉ phát hiện lỗi trong ý tưởng và lập luận của người khác là chưa đủ. Điều quan trọng là những kết luận thận trọng chỉ đưa ra khi được xây dựng trên cơ sở các luận cứ vững chắc. Vì thế, cần phải thường xuyên suy nghĩ về mọi yếu tố có liên quan, tìm kiếm thêm những thông tin mới, chứ không chỉ là những gì đã được phơi bày. Hơn nữa, còn phải xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác nhau, phải tiên đoán những khả năng có thể xảy ra trong tương lai, điều đó cũng có nghĩa là cần phải có khả năng tư duy sáng tạo. 3. Các kĩ năng của tư duy phản biện Các kỹ năng cốt lõi của tư duy phản biện là quan sát, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích và tri nhận tổng hợp. 3.1. Kỹ năng quan sát Kỹ năng quan sát là cách nhìn nhận hiện tượng, sự vật một cách chi tiết, có phân tích và phục vụ cho mục đích rõ ràng. Khác với bản năng quan sát thông thường, kỹ năng quan sát không nhìn mọi thứ một cách ngẫu nhiên, mà quan sát có chủ đích, rồi ghi nhớ, xâu chuỗi những điều liên quan để vận dụng giải quyết vấn đề một cách tối ưu và nhanh chóng. 3.2. Kỹ năng diễn giải Kỹ năng diễn giải diễn đạt và giải thích, nói rộng và nói rõ ý nghĩa của vấn đề một cách lôgic, sáng tạo dựa trên sự hiểu biết, các chứng cứ, lập luận rõ ràng, minh bạch, chặt chẽ; giúp cho người nghe hiểu rõ, nắm được bản chất của vấn đề. Trên phương diện lý luận, kỹ năng phân tích có thể gom vào một chữ - “hỏi.” Người phân tích là người biết đặt câu hỏi, như chuyên viên điều tra. Nghe bất cứ điều gì cũng có thể đặt câu hỏi. Nói tóm tắt là “Hỏi cho ra lẽ”. Trong các chương trình giảng dạy về điều tra cho nhân viên an ninh, ký giả, luật sư, v.v người ta dạy một công thức hỏi giản dị - 5W1H-what, where, when, who, why và how. Chuyện gì xảy ra, ở đâu, lúc nào, xảy ra với ai, tại sao xảy ra, xảy ra cách nào. 3.3. Kĩ năng suy luận Là từ những tri thức, những thông tin đã có/đã biết về sự vật hiện tượng, người ta rút ra các phán đoán mới về đặc điểm, tác động của sự vật hiện tượng này lên sự vật hiện tượng khác, hoặc rút ra/dự báo sự biến đổi sự vật hiện tượng trong tương lai. 3.4. Kĩ năng đánh giá Là khả năng phán xét giá trị hoặc sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp. (Hỗ trợ đánh giá bằng lý do/lập luận). Kĩ năng đánh giá đòi hỏi chúng ta không chỉ là đưa ra ý kiến của bản thân mình mà còn đòi hỏi chúng ta biết so sánh, suy xét các ý kiến; đánh giá giá trị của các ý kiến; phải có khả năng giải thích tại sao sử dụng những lập luận trên để bảo vệ quan điểm của mình. 14
  16. 3.5. Kĩ năng giải thích Là khả năng làm cho người khác hiểu rõ các thông tin, các đặc điểm của sự vật hiện tượng, nhằm năng cao sự hiểu biết của con người về sự vật hiện tượng đó. Để người khác hiểu rõ về vấn đề, người giải thích cần đưa ra các khái niệm, hiểu hiện, các đặc điểm của vấn đề/tình huống/sự vật hiện tượng; có so sánh với các sự vật hiện tượng khác, chỉ ra sự khác biệt, mặt tốt xấu, nguyên nhân, hậu quả, biện pháp khắc phục vấn đề 3.6. Kĩ năng tri nhận tổng hợp Là quá trình bản thân tự nhận thức, tự tổng hợp các thông tin, kiến thức liên quan đến các đối tượng, đến vấn đề và tự nhận thức về nó chứ không phải do các yếu tố bên ngoài chi phối, tác động. Kĩ năng tri nhận tổng hợp đề cao ý thức tự giác, chủ động tìm tòi kiến thức, tính ham học hỏi của cá nhân, của chính con người đó để tìm hiểu về các sự vật hiện tượng xung quanh mình. Đây là kĩ năng cao nhất của quá trình tư duy. Bởi con người tự ý thức, tự xuất hiện nhu cầu, tự tổng hợp thông tin, tự kiểm tra đánh giá thông tin và tự khẳng định lại sự hiểu biết/ ý kiến đánh giá của bản thân về đối tượng. Như vậy, quá trình tư duy phản biện đòi hỏi những khả năng sau: • Nhận ra vấn đề, tìm ra được những phương tiện khả thi giải quyết những vấn đề đó. • Xác định được vấn đề nào là quan trọng/thứ yếu và biết ưu tiên giải quyết vấn đề quan trọng. • Thu thập những thông tin thiết yếu và sắp xếp theo một trật tự nhất định. • Nhận ra những thông tin quan trọng có liên quan đến vấn đề cần giải quyết. • Lĩnh hội thấu đáo và dùng ngôn ngữ một cách rõ ràng, chính xác, sáng suốt. • Diễn giải các dữ liệu nhằm đánh giá các minh chứng và luận điểm. • Nhận thức được sự tồn tại (hay không tồn tại) của những mối quan hệ logic giữa các ý kiến, nhận định. • Rút ra những kết luận và khái quát hóa được đảm bảo. • Đưa những kết luận và khái quát hóa ấy ra kiểm nghiệm. • Xây dựng lại mô hình niềm tin của mình trên cơ sở những trải nghiệm rộng hơn. • Đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng về những điều cụ thể trong đời sống hàng ngày. Sơ đồ quá trình tư duy phản biện Phát hiện Thu thập, sắp xếp Lĩnh hội, đánh giá thông tin, tìm ra mối vấn đề thông tin giải quyết vấn liên hệ giữa các ý kiến/nhận định về vấn đề. đề Đưa ra các nhận định/đánh giá Kiểm nghiệm các Đưa ra kết luận chính xác về vấn đề. kết luận về vấn đề. về vấn đề 15
  17. 4. Tầm quan trọng của tư duy phản biện đối với học sinh. Tư duy phản biện có vai trò rất quan trong đối với học sinh. Nhờ có tư duy phản biện (TDPB), học sinh học tập một cách hiệu quả, rèn luyện kĩ năng sống cũng như giải quyết vấn đề xảy ra trong thực tiễn cuộc sống thường ngày. Năng lực tư duy phản biện giúp HS: - Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. - Tổng hợp kiến thức, kết luận vấn đề một cách khoa học, chính xác. - Tạo nền tảng đề phát triển khả năng sáng tạo của học sinh - Giúp học sinh nâng cao bản lĩnh, tự tin trước các các vấn đề. 16
  18. PHỤ LỤC 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỊA LÍ KINH TẾ VIỆT NAM LỚP 12 THPT THÔNG QUA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH 1. Một số đặc điểm của chương trình, sách giáo khoa phần Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT 1.1. Mục tiêu chương trình Địa lí 12 THPT phần Địa lí kinh tế Việt Nam 1.1.1. Mục tiêu về kiến thức Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và kể cả chương trình giáo dục phổ thông mới (chương trình giáo dục phổ thông 2018) cung cấp cho HS các kiến thức phổ thông, cơ bản về: - Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp với các nội dung cụ thể về đặc điểm nền nông nghiệp nhiệt đới; vấn đề phát triển nông nghiệp; vấn đề phát triển ngành thuỷ sản và lâm nghiệp; vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. - Một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp gồm: Cơ cấu ngành công nghiệp; vấn đề phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm; vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp. - Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ gồm: Vấn đề phát triển ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc; vấn đề phát triển thương mại, du lịch. - Địa lí các vùng kinh tế (các vấn đề kinh tế đặt ra với 7 vùng kinh tế; Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở biển Đông và các đảo, quần đảo; Các vùng kinh tế trọng điểm). 1.1.2. Về kĩ năng Củng cố và phát triển các kỹ năng: - Nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng địa lí, xây dựng biểu đồ, sử dụng và khai thác bản đồ, số liệu thống kê liên quan đến địa lí kinh tế của nước ta. - Thu thập, trình bày các thông tin địa lí về một số đặc điểm liên quan đến sự phát triển và phân bố của các ngành, các vùng kinh tế ở Việt Nam - Vận dụng kiến thức ở mức độ nhất định để giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí đang diễn ra ở Việt Nam. 1.1.3. Về thái độ, hành vi Góp phần hình thành cho HS các thái độ, hành vi: - Củng cố thêm lòng yêu quê hương, đất nước, sẵn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Có thái độ đúng đắn trước vấn đề kinh tế của quốc gia, địa phương. - Quan tâm đến những vấn đề liên quan đến Địa lí như sự phát triển kinh tế của các vùng; sự phát triển và phân bố của các ngành kinh tế của nước ta. - Có ý thức và hành động thiết thực trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và có quan điểm đúng đắn khi phân tích, nhận định về một vấn đề kinh tế cụ thể khi tìm hiểu về một ngành hay một vùng kinh tế. 17
  19. 1.1.4. Năng lực chuyên biệt trong môn Địa lí Môn địa lí góp phần hình thành cho HS các năng lực chuyên biệt sau: - Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ (đặc trưng nhất ở môn Địa lí). - Năng lực học tập ngoài thực địa. - Năng lực sử dụng bản đồ. - Năng lực sử dụng số liệu thống kê. - Năng lực sử dụng ảnh, hình vẽ, video, mô hình 1.2. Cấu trúc chương trình, SGK Địa lí 12 THPT phần Địa lí kinh tế Việt Nam Trọng tâm của phần Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 được chia theo các đơn vị kiến thức lớn, gồm các nội dung chính sau: - Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp với các nội dung cụ thể về đặc điểm nền nông nghiệp nhiệt đới; vấn đề phát triển nông nghiệp; vấn đề phát triển ngành thuỷ sản và lâm nghiệp; vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. - Một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp gồm: Cơ cấu ngành công nghiệp; vấn đề phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm; vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp. - Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ gồm: Vấn đề phát triển ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc; vấn đề phát triển thương mại, du lịch. - Địa lí các vùng kinh tế (các vấn đề kinh tế đặt ra với 7 vùng kinh tế; Vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở biển Đông và các đảo, quần đảo; Các vùng kinh tế trọng điểm). Bên cạnh việc giúp HS có kiến thức về Địa lí kinh tế Việt Nam còn củng cố và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng quan trọng như đọc bản đồ, vẽ và nhận xét biểu đồ, phân tích hình ảnh, sơ đồ, nhận xét bảng số liệu... Ngoài ra, những nội dung của phần Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 còn giúp học sinh có thái độ đúng đắn trước các vấn đề kinh tế của đất nước, khu vực và địa phương 1.3. Những ưu thế của phần Địa lí kinh tế Việt Nam lớp 12 THPT trong việc phát triển tư duy phản biện 1.3.1. Nội dung môn Địa lí gắn liền với các vấn đề thực tiễn Có thể nói, gắn liền với thực tiễn là nội dung được thể hiện rõ nhất trong môn Địa lí. Theo Đinh Văn Nhật, PPDH Địa lí, Trường Đại học SPHN: “Nhìn tổng quát, ta có thể nói địa lí là một môn học gắn liền với cuộc sống một cách rộng rãi nhất, nó đề cập đến rất nhiều vấn đề, phạm vi của nó rất xa mà cũng rất gần, nó có quan hệ trực tiếp hàng ngày đến sinh hoạt và hoạt động của học sinh”. Nội dung phần Địa lí kinh tế lớp 12 THPT thể hiện đặc điểm nổi bật của kinh tế Việt Nam. Đây là các kiến thức không chỉ thể hiện đặc điểm chung của lãnh thổ Việt Nam (khi tìm hiểu về các ngành kinh tế) mà còn có các nét riêng trong từng khu vực, gắn với từng địa phương (khi tìm hiểu về các vùng kinh tế). Việc gắn nội dung môn học với thực tiễn đã tạo điều kiện để HS vận dụng tri thức địa lí vào việc tìm hiểu và giải quyết các vấn đề của thực tiễn và ngược lại các vấn đề thực tiễn sẽ giúp GV tạo bối cảnh, tình huống để giúp các em phát huy khả năng phản xạ, quan sát, xem xét, 18
  20. đối sánh các giả thuyết khoa học để nhận diện vấn đề một cách thấu đáo, khoa học (giúp HS phát triển TDPB). 1.3.2. Hệ thống kênh hình khá phong phú tạo thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát triển tư duy phản biện Ngoài kênh chữ, hệ thống kênh hình trong chương trình/sách giáo khoa địa lí nói chung và chương trình/SGK địa lí 12 THPT nói riêng cùng cuốn Atlat Địa lí Việt Nam rất phong phú, đa dạng bao gồm các loại bản đồ, lược đồ, sơ đồ, bảng số liệu, tranh ảnh... cũng tạo điều kiện cho việc phát triển tư duy, nhất là TDPB của HS. Nhìn chung, hầu như trong các bài phần Địa lí kinh tế Việt Nam THPT lớp 12, bài nào cũng có kênh hình. Đây là nguồn dữ liệu phong phú giúp giáo viên tổ chức, thiết kế ra các ý tưởng dạy học nhằm huy động tối đa khả năng tưởng tượng, phán đoán, trải nghiệm, thử vai... để có những giả thuyết khoa học, từ đó có những phương án giải quyết vấn đề tối ưu nhất. 2. Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của HS lớp 12 THPT 2.1. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi Lứa tuổi HS lớp 12 THPT thuộc lứa tuổi thanh niên, khoảng từ 16-18 tuổi. Lứa tuổi này có những đặc trưng riêng về tâm lí và trình độ nhận thức: Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn. Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ. Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em. Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế. Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS lớp 12 THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này. Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người. 2.2. Đặc điểm hoạt động học tập Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với HS lớp 12 THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em. Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao. Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt. HS đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập. Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình. Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học, lựa chọn nhóm môn học có liên quan phù hợp với mục đích của chính bản thân mình. Rất hiếm xảy ra trường hợp HS có thái độ như nhau với các môn học, học đều tất cả các môn học. 19