Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp chủ nhiệm

pdf 45 trang An Diệp 02/03/2026 420
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp chủ nhiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfung_dung_cong_nghe_thong_tin_trong_to_chuc_gio_sinh_hoat_lop.pdf

Nội dung tài liệu: Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp chủ nhiệm

  1. 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp chủ nhiệm 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 10/2023 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm Sinh hoạt lớp (SHL) là hoạt động giáo dục tập thể, một hình thức tổ chức tự quản cho học sinh (HS) và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết. Thông qua các giờ SHL, các em học sinh có thể bày tỏ, chia sẻ tâm tư, tình cảm và tự đánh giá, nhận xét thẳng thắn, tích cực góp phần xây dựng tập thể lớp đoàn kết, mỗi thành viên được phát triển toàn diện. Học sinh trong lớp được liên kết lại với nhau, giáo viên gắn bó với học sinh trong một cộng đồng thu nhỏ để giải quyết những vấn đề của cuộc sống thực hàng ngày ở nhà trường, lớp học. Học sinh được mở rộng các mối liên hệ, tăng cường sự hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau, khắc phục lối sống hẹp hòi, cục bộ, bè phái trong tập thể lớp. Đây cũng là dịp để học sinh được tham gia nhiều hoạt động, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết cho bản thân. Các em phải được vừa học vừa chơi, được thể hiện năng lực của mình... - Tổ chức giờ SHL thường làm: Ở trường THPT Yên Thế, giờ SHL khối 10 được tổ chức theo phân phối chương trình của môn hoạt động trải nghiệm và là một môn học bắt buộc. Cũng giống như các môn học khác, giờ SHL được tổ chức trên lớp học với thời gian 45 phút. Nhiều giáo viên chủ nhiệm (GVCN) thường tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo quy trình sau: Bước 1: Lớp trưởng điều hành diễn biến của giờ SHL. Bước 2: Các tổ trưởng lần lượt lên nhận xét hoạt động của tổ mình phụ trách và chấm thi đua các thành viên của tổ. Bước 3: Các lớp phó phụ trách học tập, phụ trách văn-thể, lên nhận xét các hoạt động được phân công phụ trách trong tuần. Bước 4: Bí thư chi đoàn triển khai công tác Đoàn. Bước 5: Lớp trưởng đánh giá chung.
  2. 2 Bước 6: Giáo viên chủ nhiệm lớp: Đánh giá tình hình học tập, việc chấp hành nội qui, nề nếp, rèn luyện đạo đức, tác phong, việc xây dựng các phong trào thi đua của lớp trong tuần. Biểu dương những học sinh tích cực trong các hoạt động học tập, rèn luyện đạo đức, phẩm chất, tham gia sinh hoạt các phong trào. Phê bình, nhắc nhở, xử lí những học sinh vi phạm nội quy, nề nếp, quy định của trường, lớp. Sau đó GVCN sẽ triển khai các công việc trọng tâm trong tuần tới - Tình trạng: Qua thực tiễn công tác và nghiên cứu công tác chủ nhiệm lớp tôi nhận thấy nhiệm vụ giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho HS trong các nhà trường đã được quan tâm nhiều hơn. Đóng vai trò quan trọng trong đó là đội ngũ GVCN lớp, những người có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của học sinh. Đa số GVCN lớp đã thực hiện sáng tạo, hiệu quả việc giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn một số GVCN chưa có những cách thức thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả. Một số tiết sinh hoạt được tổ chức với nội dung, hình thức tổ chức truyền thống chưa linh hoạt, sáng tạo, không thu hút lôi cuốn học sinh, chưa đạt kết quả giáo dục như mong muốn. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ và phổ biến của CNTT trong đời sống ảnh hưởng nhiều tới người dân nói chung và học sinh nói riêng. Đối với học sinh, luôn có tâm lý thích khám phá và tìm hiểu cái mới, thì các hình thức tổ chức giờ SHL như trên nếu lặp lại nhiều lần sẽ không còn hấp dẫn, lôi cuốn các em dẫn tới hiệu quả giáo dục hạn chế. - Nhược điểm, hạn chế của giải pháp cũ: Giờ SHL thường bị thu gọn lại không hết 45 phút và diễn ra đơn điệu, cứng nhắc, học sinh thường chỉ nghe GVCN cũng như ban cán sự lớp nhận xét, thường là phê bình, nêu những khuyết điểm của học sinh nên những em mắc lỗi trong tuần rất sợ tiết SHL. Chưa tạo được cho học sinh có cơ hội giao tiếp thuận lợi trong không khí hào hứng của lớp học. Trong giờ học, học sinh ít được phát biểu ý kiến và không có nhu cầu muốn hoạt động và không muốn được bộc lộ năng lực vốn có của mình. Đồng thời cũng khó phát hiện các em đã có kỹ năng gì và chưa có kỹ năng gì? Chính vì vậy mà tiết SHL không phát huy tác dụng giáo dục cho học sinh, gây sự nhàm chán trong các em. Học sinh tham gia tiết học một cách thụ động, chỉ ngồi nghe là chủ yếu, không khơi gợi được tính chủ động, sáng tạo, không hứng thú với giờ học, ngay cả đối với những học sinh được tuyên dương. GVCN chưa thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc hướng dẫn để học sinh tự tổ chức thực hiện. Phần lớn thời gian là giáo viên (GV) nhận xét, phê bình, nhắc nhở, xử lí học sinh vi phạm, thường chê học trò nhiều hơn là khen ngợi khiến giờ học diễn ra căng thẳng. Giờ SHL chưa thực sự nâng cao được hiệu quả giáo dục và phát huy hết mục tiêu của giờ học. Những học sinh hay bị phê bình sẽ có thái độ không hài lòng, phản ứng không tích cực hoặc tự ty, thiếu ý chí phấn đấu. Một bộ phận nhỏ học sinh thiếu hợp tác với cán sự lớp và GVCN cũng như giáo viên bộ môn. Như vậy việc giáo dục đạo đức và kỹ năng sống lại càng khó khăn, không đạt hiệu quả như mong muốn.
  3. 3 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Sự tác động của xu hướng toàn cầu hóa cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ 4.0, đang đặt ra những yêu cầu to lớn về chất lượng nguồn lực con người. Đó là yêu cầu về sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và nhân cách của con người Việt Nam nói chung, đặc biệt là lứa tuổi HS THPT nói riêng. Hiện nay đa số HS đã được định hướng đúng đắn về động cơ học tập, được giáo dục rèn luyện các phẩm chất, năng lực, kĩ năng cần thiết trong cuộc sống. Tuy nhiên, xu hướng hội nhập ấy cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến lứa tuổi HS, khiến cho một bộ phận HS còn vi phạm về kỉ luật, pháp luật, mờ nhạt về lí tưởng, ước mơ và thiếu các kĩ năng sống... Chính vì vậy việc giáo dục, bồi dưỡng kĩ năng sống cho HS trong nhà trường là hết sức cần thiết. Về phía giáo viên: Chưa có phương pháp tổ chức giờ SHL hay và lôi cuốn HS, giờ SHL còn nặng về hình thức kiểm điểm HS vi phạm và xử lí HS vi phạm nội quy. GVCN chưa đưa ra được hình thức khen ngợi HS, khích lệ tinh thần kịp thời cho HS. GVCN chưa biết phát huy năng lực, phẩm chất của người học nên hiệu quả giáo dục chưa thực sự cao. Về phía học sinh: Trong năm học 2023 – 2024, tôi được phân công làm công tác chủ nhiệm lớp 10A1. Lớp 10A1 tôi chủ nhiệm với sĩ số 40 trong đó HS nam: 25, nữ: 15, dân tộc: 30 (trong đó: Nùng: 22, Tày: 4, Cao Lan: 3, Dao: 1, Kinh: 10). Đa số các em đều ở các xã như: Đồng Hưu, Tân Hiệp, Tam Hiệp, Xuân Lương, Tiến Thắng, Hồng Kì, Đồng Vương, An Thượng, Tân Trung ( Tân Yên), Đồng Tiến, Đồng Lạc. HS trong lớp 10A1 là đối tượng đại trà, đa số là dân tộc chiếm 75%, gia đình chủ yếu ở các xã, đi lại còn gặp nhiều khó khăn nhưng các em luôn có ý thức đi học đúng giờ và đầy đủ. Thực hiện nề nếp nghiêm túc, chăm chỉ trong rèn luyện và học tập,... Phụ huynh học sinh (PHHS) trong lớp phần lớn làm nông nghiệp và một số đi làm tại các công ty. Trong số đó có nhiều phụ huynh quan tâm đến việc học tập cũng như rèn luyện đạo đức, lối sống, kĩ năng cần thiết của các con. Tuy nhiên, nhiều học sinh trong lớp chủ nhiệm có hoàn cảnh đặc biệt, các em chưa thực sự hòa đồng cùng các bạn, chưa tự tin trước mọi người, mặc cảm về hoàn cảnh, còn hạn chế về mặt quan tâm - chia sẻ. Một số gia đình, do hoàn cảnh riêng nên phụ huynh học sinh ít có điều kiện và thời gian quan tâm tới các con, chưa chú trọng tới việc rèn luyện, học tập của các con, còn giao phó cho nhà trường, GVCN lớp. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ và phổ biến của CNTT trong đời sống ảnh hưởng nhiều tới người dân nói chung và học sinh nói riêng. Đối với học sinh, luôn có tâm lý thích khám phá và tìm hiểu cái mới, thì các hình thức tổ chức giờ SHL như trên nếu lặp lại nhiều lần sẽ không còn hấp dẫn, lôi cuốn các em dẫn tới hiệu quả giáo dục hạn chế. Bản thân tôi nhận thấy cần phải tăng cường các hình thức, phương pháp tổ chức giờ sinh hoạt phong phú hơn và hiện đại hơn nữa để nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn kỹ năng sống cho học sinh.
  4. 4 Do đó, tuần đầu tháng 9, tôi thực hiện SHL theo cách truyền thống thì kết quả thấy rằng giờ SHL HS thể hiện sự chán nản. Do vậy đến cuối tháng 9/2023, tôi đã tiến hành khảo sát về mức độ hứng thú của các em đối với giờ SHL ở lớp 10A1 như sau: Phiếu khảo sát mức độ hứng thú với giờ Sinh hoạt lớp của lớp 10A1 KHẢO SÁT MỨC ĐỘ HỨNG THÚ VỚI GIỜ SINH HOẠT LỚP 1. Em có hay phát biểu trong giờ Sinh hoạt lớp không? Phát biểu nhiều. Có phát biểu nhưng không nhiều. Không phát biểu 2. Em có hứng thú khi đến giờ Sinh hoạt lớp không? Hứng thú với giờ học. Không hứng thú với giờ học. Theo kết quả khảo sát (ngày 25/9/2023) học sinh 10A1 mà tôi trực tiếp làm công tác chủ nhiệm về việc em có hay phát biểu và có hứng thú với giờ học SHL hay không, kết quả thu được như sau: Số học sinh Mức độ phát biểu Mức độ hứng thú khảo sát Phát Có phát biểu Không Hứng Không biểu nhưng không phát thú hứng thú nhiều nhiều biểu 0 6 34 5 35 40 (15%) (85%) (12,5%) (87,5%) Khảo sát thực tế trước khi áp dụng biện pháp thông qua phiếu hỏi: Tuần một của tháng 9, GV thực hiện điều tra qua phiếu về khả năng sử dụng CNTT với 40 học sinh của HS lớp 10A1, kết hợp phỏng vấn một số kỹ năng cần thiết: Giao tiếp, chia sẻ, tìm kiếm và xử lí thông tin ; nhận thức về một số giá trị trong cuộc sống: Yêu thương, trách nhiệm. MẪU PHIẾU KHẢO SÁT “CÙNG NHAU CHIA SẺ” (Trước khi thực hiện giải pháp - tháng 9/2023) Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin, mức độ hứng thú của em về giờ SHL HỌ TÊN: Lớp:
  5. 5 Các ứng Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin dụng Chưa sử dụng Sử dụng được nhưng Sử dụng thành được chưa thành thạo thạo Zalo 0 (100%) 0 (100%) 40 (100%) Facebook 0 (100%) 0 (100%) 40 (100%) Padlet 40 (100%) 4 (10%) 0 Canva 40 (100%) 5 (12,5%) 0 Quizizz 40 (100%) 8 (20%) 0 Qua khảo sát tôi nhận thấy, phần lớn các em trong lớp chưa có hứng thú với giờ SHL và ngại phát biểu, ngại chia sẻ, ngại nói lên suy nghĩ của mình trong giờ học. Đồng thời khả năng ứng dụng CNTT của các em còn nhiều hạn chế. Đồng thời, tôi cũng tìm hiểu một số nguyên nhân HS chưa hứng thú với giờ SHL như sau: Nội dung giờ SHL khô cứng, đơn điệu, nhàm chán, lặp đi lặp lại, không thực sự gắn với nhu cầu của học sinh. Một số học sinh chưa tích cực thì càng lo lắng và không thích giờ sinh hoạt bởi các em có thể bị phê bình trước lớp, bị phạt trực nhật, viết bản kiểm điểm, nặng hơn có thể sẽ phải mời phụ huynh đến gặp GVCN. Giáo viên quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, không đặt mình vào vị trí của học sinh để hiểu các em. Vậy làm thế nào để gây được hứng thú cho HS, không làm cho giờ SHL bị căng thẳng hoặc nhàm chán, lôi cuốn HS vào những hoạt động tích cực trong giờ học? Đây là một câu hỏi gợi nhiều trăn trở đối với các thầy cô giáo làm công tác chủ nhiệm. Là một giáo viên tham gia giảng dạy tại trường trung học, ngoài công tác chuyên môn có lẽ công tác chủ nhiệm cũng gắn bó với tôi trong suốt những năm qua. Tôi nhận thấy việc thay đổi nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động trong giờ SHL cho phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh là đòi hỏi tất yếu đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm. Nếu như các bộ môn văn hóa đều có chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, tài liệu tham khảo..., thì tiết học SHL lại không có một tài liệu hướng dẫn cụ thể nào nên GVCN cũng gặp nhiều khó khăn. Bản thân các em học sinh cũng chưa có nhận thức đúng đắn về vai trò của giờ học này. Chính vì thế thái độ học tập của các em chưa tích cực, đặc biệt không mấy hứng thú. Từ những hạn chế và nguyên nhân trên, tôi muốn thay đổi cách thức tổ chức giờ SHL hiệu quả, tạo hứng thú cho HS và đặc biệt thông qua các ứng dụng như Canva, Padlet,
  6. 6 Quizizz, trong giờ SHL theo chủ đề sẽ giúp các em phát triển các kỹ năng của bản thân. Vì vậy tôi thực hiện biện pháp “Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp chủ nhiệm”. Biện pháp này góp phần rèn thêm được những kĩ năng cơ bản, giúp phát huy được năng lực phẩm chất của học sinh đáp ứng theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Mục đích của giải pháp sáng kiến: Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp chủ nhiệm như sau: - Khắc phục những hạn chế của giải pháp cũ thường làm hướng dẫn các em tìm hiểu các ứng dụng CNTT được sử dụng trong giờ SHL nhằm phát huy năng lực và phẩm chất của người học theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. - Các em sẽ được rèn luyện về đạo đức, nhân cách, giá trị sống và kỹ năng sống thông qua các chủ đề SHL, nội dung chủ đề như một thông điệp gửi đến các em. Từ đó các em sẽ tự phấn đấu, tự rèn luyện để trở thành người được phát triển toàn diện. - Từ việc ứng dụng CNTT vào các chủ đề cụ thể giúp cho GV có thể giáo dục HS về đạo đức, giá trị sống và trang bị được một số kĩ năng cần thiết cho các em trong cuộc sống, hướng các em tới những giá trị nhân văn cao đẹp: biết sống yêu thương, biết sống trách nhiệm, có kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin Đồng thời giúp HS tiếp cận với một số ứng dụng CNTT nhanh chóng trong thời đại công nghệ 4.0, qua đó phát huy khả năng tư duy sáng tạo của HS. Bước đầu có thể hướng nghiệp cho các em tìm hiểu những ngành nghề liên quan đến lĩnh vực CNTT. * Kết luận: Việc tổ chức giờ SHL phụ thuộc vào mục tiêu và chủ đề từng giờ SHL, kết hợp với các biện pháp trong quá trình tổ chức giờ SHL cho học sinh để hình thành cho các em những kiến thức cơ bản cần thiết, rèn luyện các kĩ năng cần thiết, hình thành thái độ hành vi đúng đắn, khơi dạy ở các em sự hứng thú với giờ SHL, luôn cảm thấy có nhu cầu tự học, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến 7.1.1. Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và sử dụng một số ứng dụng CNTT. * Về phương pháp thực hiện nội dung Ngay từ đầu năm học GV đã xây dựng kế hoạch các chủ đề sinh hoạt theo từng tháng. Trong các giờ sinh hoạt lớp theo chủ đề GV sử dụng một số ứng dụng CNTT. Từ việc ứng dụng CNTT vào các chủ đề cụ thể giúp cho GV có thể giáo dục HS về đạo đức, kĩ năng sống và trang bị được một số kĩ năng cần thiết cho các em trong cuộc sống, hướng các em tới những giá trị nhân văn cao đẹp: biết sống yêu thương, biết sống trách nhiệm, có kĩ năng thể hiện sự tự tin, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, Đồng thời giúp HS tiếp cận với một số ứng dụng CNTT nhanh chóng trong thời đại công nghệ 4.0, qua đó phát huy khả năng tư duy sáng tạo của HS. Bước đầu có thể hướng nghiệp cho các em tìm hiểu những ngành nghề liên quan đến lĩnh vực CNTT
  7. 7 như một số ứng dụng: Canva, Padlet, Quizizz, Sway, website Powtoon, Capcut, Mentimeter Thông qua phiếu hỏi về khả năng sử dụng CNTT, kết hợp phỏng vấn một số kỹ năng cần thiết: Giao tiếp, chia sẻ, tìm kiếm và xử lí thông tin ; nhận thức về một số giá trị trong cuộc sống: Yêu thương, trách nhiệm. * Các bước tiến hành Giáo viên tìm hiểu HS thông qua phiếu hỏi: Khảo sát về mức độ hứng thú với giờ SHL và khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ SHL. Giáo viên tìm hiểu một số kỹ năng cần thiết của học sinh lớp chủ nhiệm cần được rèn luyện và phát triển kỹ năng đó. Giáo viên chủ động xây dựng và lựa chọn các chủ đề SHL theo tháng phù hợp với lứa tuổi học sinh, phù hợp với sự đang phát triển của HS về thể chất cũng như tâm lí lứa tuổi để rèn luyện kỹ năng cần thiết cho HS. Giáo viên tiến hành hướng dẫn HS tìm hiểu một số ứng dụng, cách đăng nhập và thao tác thực hiện trên các ứng dụng. * Kết quả thực hiện Một số ứng dụng đã được sử dụng trong biện pháp (hình ảnh giao diện và tìm hiểu của học sinh về các ứng dụng tại Phụ lục 1): - Ứng dụng Canva: Là công cụ thiết kế đồ họa trực tuyến dễ sử dụng với nguồn tài nguyên phong phú giúp người dùng sáng tạo ra những sản phẩm có tính thẩm mĩ cao: Thiệp, poster, banner, logo, video - Ứng dụng Padlet: Padlet là một bức tường ảo cho phép người dùng bày tỏ suy nghĩ về một chủ đề nào đó một cách dễ dàng. Ngoài ra, Padlet còn là một công cụ rất hữu ích trong giảng dạy. Giúp giáo viên có thể giảng bài trên lớp và thu thập ý kiến từ học sinh. Giao diện “đẹp mắt”, dễ sử dụng. Ứng dụng phù hợp cho mọi độ tuổi, nhất là các bạn học sinh, sinh viên, giảng viên thường sử dụng nó để tương tác sau giờ học. - Ứng dụng Quizizz: Quizizz là một ứng dụng được dùng để kiểm tra kiến thức ở các môn học cũng như kiến thức xã hội thông qua hình thức trả lời trắc nghiệm. Các câu hỏi trắc nghiệm trong Quizizz thuộc nhiều danh mục với cấp độ khác nhau để học sinh thử sức, đánh giá trình độ của bản thân; hoặc giáo viên, phụ huynh có thể truy cập bộ câu hỏi do người khác chia sẻ để sử dụng trong giảng dạy, kèm cặp con em mình. Nhìn chung, Quizizz phù hợp với cả việc học tại nhà và trên lớp. - Ứng dụng Powtoon: Tạo video sinh động và bài thuyết trình miễn phí với PowToon. PowToon là 1 trong những website tạo video tốt nhất hiện nay với template có sẵn và nhiều công cụ giúp xử lý video toàn diện tạo video chất lượng cao, nhanh và thể hiện phong cách riêng, giúp thu hút sự chú ý của người xem nhờ hình ảnh và âm thanh sinh động.
  8. 8 7.1.2. Giải pháp 2: Xây dựng các bước tổ chức giờ sinh hoạt lớp theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin * Về nội dung: Qua tìm hiểu thực trạng, phân tích yêu cầu, mục tiêu cũng như dựa theo kế hoạch giáo dục của nhà trường, kế hoạch chủ nhiệm, tôi đã tìm hiểu và đề xuất các bước tổ chức giờ SHL như sau: Bước 1: Xác định các chủ đề, mục đích giáo dục thông qua các chủ đề Bước 2: Lựa chọn các ứng dụng phù hợp cho từng chủ đề Bước 3: Tổ chức thực hiện (Phổ biến kế hoạch, yêu cầu, giao nhiệm vụ, hướng dẫn cách sử dụng ứng dụng, cách thức nộp sản phẩm ) Bước 4: Kết quả thực hiện * Kết quả thực hiện: Trong các bước trên, có thể giúp HS rèn luyện và phát triển các kĩ năng sống, cụ thể như: Bước 1: Giúp HS rèn luyện và phát triển kĩ năng trao đổi thông tin để xác định chủ đề, xác định nhiệm vụ, phân công nhiệm vụ làm việc nhóm,... Bước 2: Rèn cho các em kĩ năng tìm kiếm, phân tích, xử lí, tổng hợp thông tin,... để có thể lựa chọn ứng dụng phù hợp với nội dung chủ đề. Bước 3: Học sinh sẽ được rèn luyện các kĩ năng tìm kiếm, tìm sự hỗ trợ, thể hiện sự tự tin khi trình bày, kĩ năng trao đổi thông tin, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng hợp tác, phân tích, tổng hợp,... Bước 4: Khi trình bày kết quả học tập, HS sẽ được rèn các kĩ năng trình bày trước đám đông, giao tiếp, thuyết trình, phản biện,... 7.1.3. Giải pháp 3: Lựa chọn và xây dựng chủ đề sinh hoạt lớp theo tháng và thu thập số liệu * Về nội dung: Lựa chọn và xây dựng chủ đề sinh hoạt lớp Để xây dựng các chủ đề SHL theo tháng, bản thân tôi dựa theo các kế hoạch giáo dục của nhà trường, kế hoạch chủ nhiệm lớp,... đã lựa chọn những chủ đề phù hợp với HS lớp chủ nhiệm. Qua nội dung các chủ đề giúp các em hình thành và phát triển được các kĩ
  9. 9 năng cần thiết cho bản thân mình, bên cạnh đó còn giúp các em sống biết yêu thương, biết chia sẻ. Một số chủ đề đã được thực hiện: Tháng 9: Chủ đề “Kết nối” sử dụng ứng dụng Powtoon. Tháng 10: Chủ đề “Lời yêu thương” sử dụng ứng dụng Canva và Padlet. Tháng 11: Chủ đề “Nhớ ơn thầy cô”. Tháng 12: Chủ đề “Tự hào Quân đội Nhân dân Việt Nam” sử dụng ứng dụng Quizizz. Tháng 3: Chủ đề “Chào mừng ngày quốc tế phụ nữ 8-3”. * Cách tổ chức giờ SHL theo chủ đề: Chủ đề tháng 10: “Lời yêu thương” Để hướng tới ngày 20/10, ngày lễ kỉ niệm nhằm tôn vinh phụ nữ, ca ngợi và tỏ lòng biết ơn đối với người phụ nữ. Trong tiết sinh hoạt lớp tuần học thứ 02 và 03 của tháng 10, GVCN đã tổ chức thực hiện chủ đề “Lời yêu thương”. Thông qua việc thực hiện chủ đề này GV muốn hướng các em tới giá trị sống yêu thương, giáo dục các em sống có ý thức trách nhiệm với gia đình và xã hội. Mô tả các bước thực hiện chủ đề tháng 10: Bước 1: - Xác định các chủ đề giáo dục: Chủ đề “Lời yêu thương”. - Mục đích giáo dục thông qua chủ đề: Giáo dục giá trị yêu thương. Bước 2: Lựa chọn các ứng dụng phù hợp: Ứng dụng Canva, Padlet. Bước 3: Tổ chức thực hiện: - GV phổ biến kế hoạch, yêu cầu cần thực hiện: Trong tiết sinh hoạt lớp tuần một của tháng 10, GV phổ biến kế hoạch và yêu cầu cần thực hiện: Mỗi một HS sẽ thiết kế một tấm thiệp trên nền tảng ứng dụng Canva với chủ đề chào mừng ngày 20/10 để gửi tặng, chúc mừng mẹ, bà, chị, cô giáo, - GV hướng dẫn học sinh cách sử dụng ứng dụng Canva: + Truy cập + HS chọn mẫu thiệp theo ý tưởng của cá nhân (chèn chữ, hình ảnh )
  10. 10 Chọn Thiết kế sẽ hiện ra các kiểu khung nền khác nhau, phù hợp nội dung. Trên tấm thiệp HS đã thiết kế nội dung, các em tiếp tục nhấn chuột trái vào Chia sẻ góc phải màn hình, kéo chuột xuống dưới chọn Tải xuống. Sau đó chọn Làm phẳng tệp PDF, tiếp tục chọn Tải xuống
  11. 11 + In thiệp (Xuất bản- các em đã có tấm thiệp ở dạng ảnh). + Chia sẻ sản phẩm trên Padlet (Phụ lục 2). - Quy định thời gian hoàn thành sản phẩm, cách thức nộp sản phẩm + Thời gian nộp sản phẩm: Trong tuần thứ hai của tháng 10 (từ ngày 11/10 – 14/10). + Để HS có thể chia sẻ những sản phẩm của mình, GV sẽ giới thiệu cách thức truy cập vào trang Padlet bằng 2 cách sau: Cách 1: Truy cập theo đường link GV gửi. Cách 2: HS quét mã QR để truy cập trang Padlet - GVCN nhận xét, góp ý các sản phẩm của HS. Bước 4: Kết quả thực hiện GVCN đã hướng dẫn các em HS hoàn thành sản phẩm làm thiệp trên ứng dụng Canva chúc mừng bà, mẹ, chị của mình. Các em tích cực, hăng hái tham gia thiết kế thiệp và đưa sản phẩm lên ứng dụng Padlet theo đúng yêu cầu của GVCN. Đến ngày 20/10 GVCN share lên nhóm zalo phụ huynh để phụ huynh có thể đón nhận những tình cảm của các con mà hàng ngày các con còn ngại, chưa dám bày tỏ trực tiếp với mẹ, bà của mình. Qua hoạt động này GV giúp cho các em có thể thể hiện được sự biết ơn, tình cảm yêu thương của bản thân mình tới những người mình thương yêu nhất. Đồng thời GV cũng hướng tới giáo dục các em ý thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình và xã hội.
  12. 12 Từ hoạt động các em tự làm thiệp để chúc mừng bà, mẹ, người thân yêu của mình, thì các em học sinh nam cũng đã biết tổ chức chúc mừng các cô giáo và các bạn nữ trong lớp với những món quà nhỏ nhưng chứa đựng trong đó là những tình cảm tốt đẹp và sự quan tâm đến cô giáo và các bạn cùng lớp. Qua hoạt động này đã hướng các em biết quan tâm đến các bạn trong lớp, thể hiện tinh thần đoàn kết, một tập thể vững mạnh. Cũng trong ngày hôm đó, tôi cũng đã nhận được được rất nhiều lời chúc của các em không chỉ ở trên lớp mà thông qua cả tin nhắn điện thoại, facebook và zalo. Như vậy GV đã bước đầu thành công trong việc giáo dục các em hướng tới giá trị sống tốt đẹp, đó là giá trị yêu thương và kĩ năng tìm kiếm, trao đổi, hoạt động nhóm. Khơi gợi trong các em những cảm xúc tích cực. Đồng thời tạo cơ hội cho HS tiếp cận với CNTT bước đầu định hướng nghề nghiệp GV tiến hành khảo sát lấy ý kiến qua việc bình chọn mức độ hứng thú của HS về chủ đề “Lời yêu thương”. Đa số HS thấy rất hứng thú với chủ đề mà GV đưa ra (Phụ lục 2). Chủ đề tháng 12: “Tự hào Quân đội Nhân dân Việt Nam” Hướng đến kỉ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22/12, trong tháng 12 GVCN đã thực hiện chủ đề “Tự hào Quân đội Nhân dân Việt Nam”. Với mục đích giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống đấu tranh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, đồng thời giúp các em có hiểu biết về những trang lịch sử hào hùng, những chiến công oanh liệt của quân đội và nhân dân ta. Từ đó hướng các em đến giá trị trách nhiệm của bản thân với xã hội, với đất nước và phát triển các kĩ năng của bản thân. Mô tả hoạt động này được GV tiến hành như sau: Bước 1: - Xác định các chủ đề giáo dục: Chủ đề “Tự hào Quân đội Nhân dân Việt Nam”. - Mục đích giáo dục thông qua chủ đề: Giáo dục truyền thống, giá trị trách nhiệm. Bước 2: Lựa chọn các ứng dụng phù hợp: Ứng dụng Quizizz. Bước 3: Tổ chức thực hiện. - GV phổ biến kế hoạch, yêu cầu cần thực hiện: Trong giờ sinh hoạt lớp tuần ba của tháng 12, GVCN chuẩn bị bộ câu hỏi trắc nghiệm với chủ đề “Tự hào Quân đội Nhân dân Việt Nam” trên nền tảng ứng dụng Quizizz. HS sẽ chuẩn bị ĐTDĐ có kết nối mạng để tham gia trả lời. GV thiết kế bộ câu hỏi phù hợp với nội dung, chủ đề cần thực hiện. - GV hướng dẫn học sinh cách sử dụng ứng dụng Quizizz: HS sẽ sử dụng ĐTDĐ đăng nhập bằng 2 cách: Cách 1. Nhập mã do GV cung cấp
  13. 13 Cách 2: Sử dụng đường link để truy cập vào ứng dụng Quizizz Bước 4: Kết quả thực hiện Với việc sử dụng ứng dụng Quizizz để trả lời các câu hỏi, các em đã rất tích cực, hào hứng tham gia tìm hiểu về ngày thành lập QĐNDVN. Qua hoạt động này GV đã giáo dục học sinh về truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam, giúp các em khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, được bồi dưỡng lòng yêu nước nồng nàn, yêu chủ nghĩa xã hội, sống có trách nhiệm, có lí tưởng, cố gắng trong việc học tập, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân để hoàn thành mục tiêu. GV tiến hành khảo sát lấy ý kiến qua việc bình chọn mức độ hứng thú của HS về chủ đề, đa số HS hứng thú với chủ đề mà GV đưa ra (Phụ lục 2). * Kết quả thực hiện giải pháp Để minh chứng cho hiệu quả của biện pháp, GV sử dụng đánh giá định tính và định lượng. - Đánh giá định tính Thông qua quan sát thái độ, ý thức tham gia các hoạt động, hành vi, thái độ, mức độ chủ động, tích cực trong các hoạt động; theo dõi các biểu hiện của HS trong quá trình rèn luyện và học tập. Trao đổi với PHHS về thái độ giao tiếp, sự quan tâm, các kĩ năng sống cần thiết, của học sinh khi ở nhà. Khảo sát ý kiến của các thầy, cô bộ môn trong lớp về biểu hiện của các em trong các giờ học cụ thể, mức độ tích cực tham gia các hoạt động học, khả năng sẵn sàng chia sẻ, trình bày ý kiến của các em, khả năng tự tin khi thuyết trình, mạnh dạn trong giao tiếp, khi nhận dự án từ các thầy cô thì các em biết trao đổi, tìm kiếm thông tin, xử lí thông tin, Kết quả nhận thấy: Giải pháp đã mang lại hiệu quả tích cực trong công tác chủ nhiệm lớp. Học sinh có rất nhiều tiến bộ tư duy nhận biết vấn đề và giải quyết vấn đề có logic, nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo, tích cực, chủ động và tự tin trình bày ý kiến,.... Như vậy,
  14. 14 giải pháp đã giúp các em rèn luyện và phát triển một số kỹ năng sống cần thiết cho bản thân. - Đánh giá định lượng Sau khi thực hiện giải pháp chủ đề tháng 10 và tháng 12, tác giả tiến hành khảo sát, thu thập số liệu đối với lớp chủ nhiệm theo mẫu phiếu sau: Từ kết quả khảo sát về mức độ hứng thú với giờ SHL của HS lớp 10A1, GV thu được số liệu và thống kê như sau: KẾT QUẢ KHẢO SÁT Mức độ hứng thú của học sinh lớp 10A1 với giờ sinh hoạt lớp Mức độ hứng Không Bình thường Hứng thú Rất hứng thú hứng thú thú Tháng 9/2023 21 (52,5% ) 13 (32,5% ) 6 (15% ) 0 (Trước khi áp dụng giải pháp) Tháng 3/2024 0 0 6 (15%) 34 (85%) (Sau khi áp dụng giải pháp) Từ bảng số liệu cho thấy sau khi áp dụng giải pháp, số HS hứng thú và rất hứng thú với giờ SHL tăng từ 15% tới 100%, điều đó cho thấy việc ứng dụng CNTT khi tổ chức giờ SHL theo chủ đề giúp các em phát triển được kỹ năng sống cho bản thân và làm cho các em say mê - hứng thú với giờ SHL. Từ kết quả khảo sát về mức độ hứng thú của HS với chủ đề ứng dụng CNTT trong tổ chức giờ SHL. GV thu được số liệu và thống kê như sau: KẾT QUẢ KHẢO SÁT Mức độ hứng thú của học sinh với chủ đề ứng dụng CNTT trong tổ chức giờ SHL Những chia sẻ thêm của Không Bình Rất hứng em về Chủ đề GD Hứng thú hứng thú thường thú các chủ đề (Không bắt buộc)
  15. 15 Kết nối 0 2 (5%) 8 (20%) 30 (75%) 5 31 6 Lời yêu thương 0 1 (2,5%) 8 (20%) (77,5%) 31 9 Nhớ ơn thầy cô 0 1 (2,5%) 8 (20%) (77,5%) Tự hào Quân 2 17 đội Nhân dân 0 3 (7,5%) 20 (50%) (42,5%) Việt Nam Chào mừng 1 21 ngày quốc tế 0 4 (10%) 15 (37,5%) (52,5%) phụ nữ 8-3 Từ bảng số liệu trên cho thấy qua việc áp dụng giải pháp, HS đã có khả năng sử dụng tương đối thành thạo một số ứng dụng phổ biến như: zalo, facebook, padlet, canva, quizizz, Dựa trên việc sử dụng thành thạo các ứng dụng đó các em có thể tạo ra một số sản phẩm sáng tạo, độc đáo. Mức độ hứng thú với việc ứng dụng CNTT trong giờ SHL cũng đã có sự thay đổi tích cực so với trước khi áp dụng giải pháp; đa số HS thích các chủ đề mà GV đưa ra. Kết quả cuối học kì I: 100% HS lớp chủ nhiệm đạt hạnh kiểm tốt, đạt nhiều thành tích trong các hoạt động đoàn, trong các buổi ngoại khóa, các cuộc thi văn nghệ, ; về nề nếp lớp thường được xếp ở vị trí số 1,2 trong khối. Điều này chứng tỏ việc áp dụng sáng kiến đã đem lại lợi ích thiết thực. Đồng thời cũng khẳng định tính khả thi cao. Từ kết quả khảo sát về một số kỹ năng của HS trong giờ SHL theo chủ đề khi ứng dụng CNTT, GV thu được số liệu và thống kê như sau: KẾT QUẢ KHẢO SÁT Một số kỹ năng của học sinh trong giờ SHL theo chủ đề khi ứng dụng CNTT Bình Chủ đề GD Chưa tốt Tốt Rất tốt thường Kĩ năng tìm 0 0 15 (37,5%) 25 (55%) kiếm sự hỗ trợ Kĩ năng trình 0 2 (5%) 18 (45%) 20 (50%) bày Kĩ năng giao 0 0 20 (50%) 20 (50%) tiếp
  16. 16 Kĩ năng xử lí 0 3 (7,5%) 15 (37,5%) 22 (55%) thông tin Kĩ năng tự tin 0 0 22 (55%) 18 (45%) Kĩ năng trao đổi 0 0 25 (62,5%) 15 (37,5%) thông tin Kĩ năng làm việc nhóm, hợp tác, 0 0 12 (30%) 28 (70%) phân tích, tổng hợp,... Kết quả trên cho thấy nhờ áp dụng giải pháp các em không chỉ sử dụng tốt các ứng dụng CNTT trong giờ SHL mà các em còn được rèn luyện và phát triển các kĩ năng như: Kĩ năng trao đổi thông tin, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng xử lí tin, kĩ năng trao đổi, kĩ năng tự tin, kĩ năng làm việc nhóm, hợp tác, phân tích, tổng hợp,... Qua các chủ đề SHL, bản thân GVCN cũng hiểu các em hơn, các em biết nói lời yêu thương với những người thân yêu của mình. Các em không còn e ngại khi muốn nói lời xin lỗi, lời cảm ơn, lời yêu thương, các em thấy giá trị của cuộc sống này và luôn phấn đấu học tập tốt để trở thành người có đức và có tài. Các chủ đề có ứng dụng CNTT này được HS đón nhận một cách tích cực và đạt hiệu quả, GV tạo được không khí vui vẻ, thoải mái đồng thời giáo dục các em biết hướng tới những giá trị nhân văn của cuộc sống, biết quan tâm tới người thân trong gia đình, thầy, cô, bạn bè, biết chia sẻ với những người xung quanh, đồng thời rèn luyện và phát triển cho các em một số kĩ năng sống cần thiết. Ngoài ra giải pháp góp phần tạo được cơ hội để các em có hứng thú tìm hiểu một số ngành nghề liên quan đến lĩnh vực CNTT, bước đầu giúp các em định hướng, lựa chọn nghề nghiệp của mình trong tương lai. MẪU PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP “CHÚNG MÌNH ĐÃ LÀM ĐƯỢC” Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin, mức độ hứng thú của em về giờ SHL HỌ TÊN: Lớp: Các ứng Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin dụng Chưa sử dụng Sử dụng được nhưng Sử dụng thành thạo được chưa thành thạo và hứng thú Zalo 0 0 40 (100%)
  17. 17 Facebook 0 0 40 (100%) Padlet 0 1 (2,5%) 39 (97,5%) Canva 0 2 (5%) 38 (95%) Quizizz 0 0 40 (100%) Sau khi khảo sát tôi tiến hành tổng hợp, phân tích số liệu và đối sánh với kết quả trước khi thực hiện giải pháp. Ứng dụng CNTT trong tổ chức giờ SHL theo chủ đề nhằm giáo dục kĩ năng sống cho HS, tôi đã dạy thể nghiệm tại lớp chủ nhiệm 10A1. Đồng thời áp dụng tổ chức giờ SHL với lớp 10A2, 10A3 tại trường THPT Yên Thế. Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu thì tôi áp dụng thử tại trường THPT Mỏ Trạng, trường THPT Bố Hạ, trường THPT Tân Yên 2, trường THPT Việt Yên 2. Được đồng nghiệp đánh giá cao về cách ứng dụng CNTT trong tổ chức giờ SHL theo chủ đề. Đa số HS hứng thú với giờ SHL, các em được rèn luyện các kĩ năng cần thiết như: Kĩ năng tự tin, giao tiếp, chia sẻ, tìm kiếm và xử lí thông tin, So sánh về mức độ hứng thú với giờ SHL của lớp 10A1 đã thực hiện SHL theo chủ đề có ứng dụng CNTT với lớp 10A2, 10A3 khi GVCN thực hiện SHL theo truyền thống. STT Không hứng Bình thường Hứng thú Rất hứng thú thú 10A1 0 0 6 (15%) 34 (85%) 10A2 33 (82,5%) 6 (12,5%) 1 (2,5%) 0 10A3 35 (81,4%) 6 (13,9%) 2 (4,7%) 0 Như vậy qua bảng số liệu trên cho thấy lớp mà có sự thay đổi về phương pháp tổ chức giờ SHL thì tạo cho HS được khả năng tìm tòi kiến thức mới, kích thích được mức độ hứng thú và rất hứng thú của HS. Các lớp tổ chức SHL truyền thống thì mức độ không hứng thú giờ SHL chiếm hơn 80%. Đồng thời tôi cũng đã tiến hành khảo sát về khả năng sử dụng các ứng dụng CNTT với lớp 10A2 trước khi thực hiện giải pháp thì kết quả thu được như sau: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT “CÙNG NHAU CHIA SẺ” (Trước khi thực hiện giải pháp - tháng 9/2023) Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin, mức độ hứng thú của em về giờ SHL HỌ TÊN: Lớp:
  18. 18 Các ứng Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin dụng Chưa sử dụng Sử dụng được nhưng Sử dụng thành được chưa thành thạo thạo Zalo 0 (100%) 0 (100%) 40 (100%) Facebook 0 (100%) 0 (100%) 40 (100%) Padlet 40 (100%) 0 0 Canva 35 (87,5%) 5 (12,5%) 0 Quizizz 37 (92,5%) 3 (7,5%) 0 Tôi cũng đã tiến hành khảo sát về khả năng sử dụng các ứng dụng CNTT trước khi thực hiện giải pháp với lớp 10A3 thì kết quả thu được như sau: MẪU PHIẾU KHẢO SÁT “CÙNG NHAU CHIA SẺ” (Trước khi thực hiện giải pháp - tháng 9/2023) Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin, mức độ hứng thú của em về giờ SHL HỌ TÊN: Lớp: Các ứng Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin dụng Chưa sử dụng Sử dụng được nhưng Sử dụng thành được chưa thành thạo thạo Zalo 0 (100%) 0 (100%) 40 (100%) Facebook 0 (100%) 0 (100%) 40 (100%) Padlet 43 (100%) 0 0 Canva 40 (93,02%) 3 (6,98%) 0 Quizizz 38 (88,37%) 5 (11,63%) 0 Như vậy qua bảng số liệu cho thấy mức độ sử dụng chưa thành thạo và chưa sử dụng được với các ứng dụng trên của HS chiếm tỉ lệ gần 90%. Đồng thời cũng cho thấy trong mỗi cá nhân HS được rèn luyện một số kĩ năng cần thiết phục vụ trong học tập và trong cuộc sống. Sau khi thực hiện giải pháp tại lớp 10A2, 10A3. Tôi tiến hành khảo sát đánh giá về khả năng sử dụng các ứng dụng của HS trong giờ SHL và kết quả thu được như sau:
  19. 19 MẪU PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP “CHÚNG MÌNH ĐÃ LÀM ĐƯỢC” Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin, mức độ hứng thú của em về giờ SHL- lớp 10A2 HỌ TÊN: Lớp: Các ứng Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin dụng Chưa sử dụng Sử dụng được nhưng Sử dụng thành thạo được chưa thành thạo và hứng thú Zalo 0 0 40 (100%) Facebook 0 0 40 (100%) Padlet 0 2 (5%) 38 (95%) Canva 0 1 (2,5%) 39 (97,5%) Quizizz 0 0 40(100%) MẪU PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP “CHÚNG MÌNH ĐÃ LÀM ĐƯỢC” Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin, mức độ hứng thú của em về giờ SHL- lớp 10A3 HỌ TÊN: Lớp: Các ứng Khả năng sử dụng một số ứng dụng công nghệ thông tin dụng Chưa sử dụng Sử dụng được nhưng Sử dụng thành thạo được chưa thành thạo và hứng thú Zalo 0 0 43 (100%) Facebook 0 0 43 (100%) Padlet 0 1 (2,3%) 42 (97,67%) Canva 0 1 (2,3%) 42 (97,67%) Quizizz 0 0 43 (100%)
  20. 20 Tôi tiến hành khảo sát về mức độ hứng thú với các chủ đề được thực hiện trong giờ SHL với lớp 10A2, 10A3. Kết quả như sau: KẾT QUẢ KHẢO SÁT Mức độ hứng thú của học sinh với chủ đề ứng dụng CNTT trong tổ chức giờ SHL- lớp 10A2 Những chia sẻ thêm của Không Bình Rất hứng em về Chủ đề GD Hứng thú hứng thú thường thú các chủ đề (Không bắt buộc) Kết nối 0 0 8 (20%) 32 (80%) 2 31 4 Lời yêu thương 0 1 (2,5%) 8 (20%) (77,5%) Nhớ ơn thầy cô 0 0 10 (25%) 30 (75%) 10 Tự hào Quân 2 đội Nhân dân 0 2 (5%) 20 (50%) 18 (45%) Việt Nam Chào mừng 1 21 ngày quốc tế 0 3 (7,5%) 16 (40%) (52,5%) phụ nữ 8-3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT Mức độ hứng thú của học sinh với chủ đề ứng dụng CNTT trong tổ chức giờ SHL- lớp 10A3 Những chia sẻ thêm của Không Bình Rất hứng em về Chủ đề GD Hứng thú hứng thú thường thú các chủ đề (Không bắt buộc)