Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng, sai môn Lịch sử lớp 12 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng, sai môn Lịch sử lớp 12 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
xay_dung_he_thong_cau_hoi_trac_nghiem_dung_sai_mon_lich_su_l.pdf
Nội dung tài liệu: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng, sai môn Lịch sử lớp 12 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông
- SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẮC GIANG TRƯỜNG THPT GIÁP HẢI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐÚNG – SAI MÔN LỊCH SỬ LỚP 12 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG” Tác giả: Ngô Minh Hiền Trường THPT Giáp Hải - TP Bắc Giang Năm học 2024 - 2025
- 1 Mẫu 02/SK CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai môn Lịch sử lớp 12 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông”. 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 06/9/2024. 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: Trong chương trình trước đây, môn Lịch sử lớp 12 (thực hiện từ năm 2008 – đến năm 2024) có một số điểm nổi bật về nội dung và hình thức thi tốt nghiệp như sau: Thứ nhất, nội dung còn nặng về lý thuyết, không có các tiết thực hành trong chương trình, chỉ có các tiết ôn tập. Nội dung chương trình và sách giáo khoa viết theo hướng thông sử, nhiều sự kiện, thời gian, ít tư liệu và kênh hình, chưa có sơ đồ hệ thống hoá kiến thức nên khô khan, khó học và ít hứng thú đối với học sinh cũng như khó dạy đối với giáo viên. Số lượng các tiết ôn tập hạn chế, chỉ có vài tiết ôn tập khi hết chủ đề lớn. Từ năm 2020, khi dịch Covid diễn ra phức tạp, Bộ GD-ĐT và Sở GD-ĐT có hướng dẫn điều chỉnh nội dung cốt lõi học trước, các giờ ôn tập, luyện tập học sau khi hoàn thành nội dung cốt lõi. Thứ hai, về hình thức bài thi tốt nghiệp: những năm đầu tiên, giống như các môn học khác, môn Lịch sử thi theo hình thức tự luận. Từ năm 2017, môn Lịch sử là một thành phần trong bài thi tổ hợp khoa học xã hội, thi hoàn toàn theo hình thức trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn với 4 phương án A, B, C, D, trong đó thí sinh chỉ được chọn 1 phương án đúng. Hình thức thi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn với 4 phương án A, B, C, D có ưu điểm là có thể đo được khả năng tư duy khác nhau của người học và có thể kiểm tra, đánh giá trên phổ rộng nhiều nội dung chương trình học, nhờ đó độ giá trị cũng cao hơn; độ tin cậy cũng cao hơn so với trắc nghiệm hai lựa chọn đúng/sai, có/không; tiết kiệm thời gian kiểm tra và khả năng khảo sát được số lượng lớn; giáo viên chấm bài nhanh hơn, khách quan hơn. Tuy nhiên, những
- 2 hạn chế của phương án, hình thức bài thi tốt nghiệp hoàn toàn gồm trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 4 phương án A, B, C, D khiến xác suất đánh ngẫu nhiên đạt điểm tối đa của học sinh là khá cao (25%), chưa kể khi kéo dài hình thức thi này trong nhiều năm sẽ bộc lộ khó khăn khi xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi, khó đo lường đầy đủ, chính xác các khả năng giải quyết vấn đề, phán đoán, suy luận và diễn đạt của thí sinh. Mặt khác, nội dung chương trình và kiểm tra, đánh giá, thi tốt nghiệp THPT trong chương trình cũ tập trung nặng về kiến thức, chưa coi trọng đánh giá năng lực. Từ thực tế đó, trong quá trình giảng dạy lớp 12 và ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông, ôn thi đại học cho học sinh, bên cạnh việc củng cố, hệ thống hoá kiến thức, giáo viên sẽ tham khảo, sưu tầm và biên soạn hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn với 4 phương án A, B, C, D cho học sinh luyện tập, làm các làm bài kiểm tra, thi thử, khảo sát để giúp học sinh rèn luyện và phát triển các kĩ năng cần thiết, đáp ứng yêu cầu của việc học tập và thi tốt nghiệp trung học phổ thông, xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng. Từ năm học 2022 – 2023, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 triển khai ở cấp THPT, đến năm học 2024 – 2025 triển khai đối với lớp 12. Đây là năm đầu tiên chương trình mới được thực hiện ở lớp 12, đồng thời cũng là năm đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo thay đổi hình thức thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Qua bước đầu giảng dạy và nghiên cứu, trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy việc thực hiện chương trình lớp 12 và việc chuẩn bị cho dạy học, ôn thi môn Lịch sử năm 2025 có một số thuận lợi và khó khăn. Về thuận lợi: - Nội dung chương trình đã có nhiều thay đổi, các chủ đề biên soạn đã ngắn gọn, súc tích hơn; một số chủ đề cập nhật kết quả nghiên cứu mới của ngành sử học, có tính thực tiễn, gần gũi, gắn liền với đời sống hiện tại nên giáo viên và học sinh thuận lợi hơn trong dạy và học. Các bộ sách giáo khoa được biên tập hấp dẫn với hệ thống kênh hình, kênh chữ rõ ràng, nhiều sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu phù hợp; tư liệu phong phú. Chương trình đã có xây dựng nội dung thực hành với thời lượng tương đối nhiều (chiếm 20% tổng thời lượng chương trình); hình thức, phương pháp dạy học thực hành được gợi mở đa dạng, chú trọng gắn với thực tiễn; tính mở, tính liên môn được đề cao. - Đa số các nhà trường, tổ chuyên môn, giáo viên đã bước đầu tiếp cận tốt chương trình, thay đổi quan điểm, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá học
- 3 sinh. 100% các giáo viên tham gia khảo sát đều đã dạy chương trình mới. Sở Giáo dục – Đào tạo cũng đã tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên về nội dung chương trình, cách thức biên soạn câu hỏi theo cấu trúc định dạng đề thi năm 2025. - Sự phát triển của công nghệ thông tin cho phép giáo viên ứng dụng công nghệ AI, khai thác học liệu số và sử dụng công cụ dạy học hiện đại nếu giáo viên tiếp cận và được bồi dưỡng năng lực công nghệ thông tin. Về khó khăn, qua khảo sát 18 giáo viên và 154 học sinh (chi tiết tại Phụ lục 1) cho thấy kết quả như sau: Bảng 1. Khảo sát giáo viên về những khó khăn của thầy cô trong quá trình dạy học, ôn thi TN THPT, ĐH, thi HSG môn Lịch sử cho học sinh trong chương trình GDPT 2018 Những khó khăn Tỉ lệ chọn Tài liệu tham khảo được chia sẻ từ nhiều nguồn song độ tin cậy chưa cao, chưa 88,9% phong phú. Hệ thống bài tập theo chương trình mới chưa nhiều, phải dành nhiều thời gian 94,4% để biên tập lại. Chương trình mới có sự thay đổi, một số nội dung rất mới mẻ 77,8% Cấu trúc đề thi, phương thức xét tuyển mới đòi hỏi phương pháp dạy học, ôn 77,8% thi thay đổi Đồng nghiệp nhóm, tổ chuyên môn chưa tích cực, hăng hái đầu tư, hợp tác, 22,2% chia sẻ chuyên môn, tài liệu Chất lượng học sinh chưa tốt, khả năng học tập, kĩ năng làm bài thi theo cấu 50% trúc mới khó khăn Bảng 2. Khảo sát giáo viên về những khó khăn của học sinh trong quá trình học, ôn thi và làm bài thi môn Lịch sử theo cấu trúc đề thi THPT năm 2025 Những khó khăn Tỉ lệ chọn Có ít tài liệu tham khảo, bài tập để ôn luyện. 50% Chưa có kĩ năng học, ôn thi và làm bài thi, nhất là dạng bài tập trắc nghiệm 88,9% đúng - sai. Chương trình mới có sự thay đổi, một số nội dung rất mới mẻ, khó với học 83,3% sinh. Cấu trúc đề thi, phương thức xét tuyển mới đòi hỏi phương pháp học tập, ôn thi 77,8% thay đổi Cha mẹ, thầy cô chưa phối hợp quan tâm đến học sinh. 11,1% Học sinh chưa xác định được mục tiêu học, lựa chọn môn thi TN hoặc môn liên 55,6% quan đến ngành nghề liên xét tuyển
- 4 Bảng 3. Khảo sát học sinh về những khó khăn của học sinh trong quá trình học, ôn thi và làm bài thi môn Lịch sử theo cấu trúc đề thi THPT năm 2025 Những khó khăn Tỉ lệ chọn Chưa có tài liệu tham khảo hoặc được chia sẻ từ nhiều nguồn song độ tin cậy 26% chưa cao, chưa phong phú. Chương trình mới có nhiều thay đổi so với bậc THCS, một số nội dung rất mới 46,8% mẻ, khó học Cấu trúc đề thi, phương thức xét tuyển tốt nghiệp, đại học có nhiều thay đổi đòi 58,4% hỏi cách học, ôn thi thay đổi Thầy cô chưa nhiệt tình, chưa tận tuỵ trong dạy học 2,6% Cha mẹ, nhà trường chưa quan tâm đến học sinh 1,3% Chưa biết phương pháp học tập môn Lịch sử hiệu quả 40,3% Chưa chăm chỉ, chưa tích cực học tập 31,8% Chưa xác định được mục tiêu học tập, chưa có định hướng nghề nghiệp rõ ràng 32,5% Bảng 4. Tỉ lệ % học sinh tự đánh giá về các năng lực học tập môn Lịch sử của mình Các năng lực học tập môn Lịch sử Rất tốt Tốt Bình Không thường tốt Nhận diện được các loại hình sử liệu, biết khai thác, 9,1 30,5 58,4 1,9 sử dụng sử liệu trong học tập Trình bày lại được dưới dạng nói, viết những điều đã 7,8 16,2 69,4 6,5 tìm hiểu qua các nguồn tư liệu lịch sử Biết giải thích được nguồn gốc, sự vận động của các 7,8 9,1 74,6 8,4 sự kiện, hiện tượng lịch sử từ đơn giản đến phức tạp Có thể so sánh, đánh giá, đưa ra nhận xét về vấn đề, 7,1 14,9 72,0 5,8 hiện tượng, nhân vật lịch sử Qua quá trình học tập, tự rút ra được bài học lịch sử và 8,4 26,6 60,3 4,5 vận dụng để lí giải những vấn đề của thực tiễn Có khả năng tiếp cận và xử lý thông tin, tái hiện lịch 5,8 20,1 67,5 6,5 sử một cách sáng tạo dưới nhiều hình thức; ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời Biểu đồ 1. Tỉ lệ học sinh sai sót khi làm bài kiểm tra, bài thi theo cấu trúc đề thi TN THPT môn Lịch sử năm 2025 qua khảo sát giáo viên
- 5 Biểu đồ 2. Tỉ lệ học sinh sai sót khi làm bài kiểm tra, bài thi theo cấu trúc đề thi TN THPT môn Lịch sử năm 2025 qua khảo sát học sinh Phân tích các số liệu kết quả khảo sát, có thể rút ra một số kết luận về những khó khăn của giáo viên và học sinh như sau: - Năm học 2024 – 2025 là năm đầu tiên thực hiện chương trình ở lớp 12, nhiều chủ đề cập nhật kiến thức vô cùng mới mẻ - đây là khó khăn đầu tiên đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian nghiên cứu để nắm bắt, hiểu chương trình, nội dung chủ đề dạy học. - Hình thức bài thi môn Lịch sử cũng có yếu tố mới mẻ, kết hợp trắc nghiệm nhiều lựa chọn với 4 phương án A, B, C, D (24 câu, chiếm 60%) và trắc nghiệm đúng – sai (4 câu, chiếm 40%). Đặc biệt, trong khi ở phần trắc nghiệm khách quan, mỗi câu trả lời đúng được 0,25 điểm thì cách tính điểm trong phần trắc nghiệm đúng - sai khiến thí sinh mất điểm rất nhiều nếu làm sai. Cách tính điểm đó là: ở mỗi câu, điểm tối đa của 01 câu hỏi là 1 điểm, trong đó: + Thí sinh lựa chọn chính xác 1/4 ý trong 1 câu hỏi được 0,1 điểm. + Thí sinh lựa chọn chính xác 2/4 ý trong 1 câu hỏi được 0,25 điểm.
- 6 + Thí sinh lựa chọn chính xác 3/4 ý trong 1 câu hỏi được 0,50 điểm. + Thí sinh lựa chọn chính xác 4/4 ý trong 1 câu hỏi được 1,0 điểm. Dạng câu hỏi này đòi hỏi thí sinh phải có hiểu biết và tư duy về lịch sử ở trình độ khá trở lên mới có thể đạt được điểm tối đa, hạn chế được việc dùng “mẹo” chọn đáp án từ các phương án nhiễu như của dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn. Xác suất đánh ngẫu nhiên đạt điểm tối đa là 1/16, nhỏ hơn 4 lần so với dạng thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn. Khảo sát cũng đã cho thấy có tới 94,4% giáo viên và 62,3% học sinh cho biết học sinh hay sai nhiều trong phần câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai. Đây là khó khăn cho giáo viên khi hướng dẫn học sinh kĩ năng làm sao để hạn chế sai sót trong dạng câu hỏi này. - Ở dạng câu hỏi trắc nghiệm đúng - sai, dữ kiện hỏi lại rất đa dạng bằng nhiều nguồn sử liệu khác nhau, không được trích dẫn nội dung trong các bộ sách giáo khoa. Vì vậy, giáo viên và học sinh lại càng khó khăn nhiều hơn trong việc dạy học và ôn thi. - Do chương trình mới ở lớp 12 thực hiện năm đầu nên tài liệu tham khảo rất hạn chế, sách tham khảo, bộ đề minh hoạ chưa được ban hành rộng rãi, giáo viên chưa được tập huấn nhiều về xây dựng bài tập trắc nghiệm đúng – sai (mới được Sở Giáo dục – Đào tạo tập huấn 02 buổi), còn lại một số ít giáo viên tích cực, tự tìm tòi và tham gia các nhóm cộng đồng để học hỏi thêm. - Ngoài ra, qua việc nắm bắt các thông tin của ngành giáo dục cho thấy, môn Lịch sử là môn học bắt buộc nhưng lại là môn thi lựa chọn trong kì thi Tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025. Trong khi đó, nhiều năm qua, những bất cập của môn Lịch sử cùng xu hướng ngành nghề khiến cho tâm lí học sinh và phụ huynh vẫn còn e ngại môn Lịch sử, ít lựa chọn để thi tốt nghiệp. Tỉ lệ học sinh đăng kí lựa chọn môn Lịch sử thi tốt nghiệp năm 2025 trong toàn tỉnh theo thống kê (tháng 2/2024) của Sở Giáo dục – Đào tạo Bắc Giang phần đông nằm ở khối GDTX và ngoài công lập, khối THPT đăng kí tỉ lệ ít hơn. Tỉ lệ này đã cao hơn các môn Hoá, Sinh của khoa học tự nhiên, song so với tổ hợp các môn khoa học xã hội như môn Địa lí hay GDCD thì môn Lịch sử chưa phải ưu tiên lựa chọn hàng đầu của học sinh khi thi tốt nghiệp. Số học sinh lựa chọn môn Sử chủ yếu là để kết hợp đăng kí xét tuyển đại học, đặc biệt như ở các trường trung bình chất lượng đầu vào còn thấp như THPT Giáp Hải. - Mặt khác, việc thực hiện Thông tư 29-TT/BGDĐT qui định về việc dạy thêm học thêm bên cạnh những ưu điểm thì cũng còn bộc lộ một số bất cập, nhất
- 7 là việc không cho giáo viên được dạy thêm đối với học sinh mình dạy chính khoá ở lớp (mặc dù phụ huynh đồng ý, học sinh có nguyện vọng được học nâng cao kiến thức) trong trường hợp giáo viên đó dạy tốt và được học sinh, phụ huynh tín nhiệm. Qui định này ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý, cuộc sống của giáo viên, học sinh và chất lượng dạy học ôn thi lớp 12, nhất là thi Đại học. - Cuối cùng, qua khảo sát học sinh tự đánh giá năng lực lịch sử của bản thân trong quá trình học tập cho thấy, đa số học sinh có được năng lực tìm hiểu lịch sử, còn năng lực nhận thức và tư duy lịch sử, năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học còn hạn chế. Đây là một trong những khó khăn, đồng thời cũng là yêu cầu khi thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nói chung và môn Lịch sử nói riêng. Trên đây là những thuận lợi và khó khăn của việc dạy học chương trình Lịch sử lớp 12 trước đây và việc dạy học, ôn thi môn Lịch sử lớp 12 cho học sinh hướng tới phương án thi tốt nghiệp năm 2025 theo cấu trúc mới, trong đó có phần câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến: Thứ nhất, căn cứ vào các văn bản: Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng chỉ đạo “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”; các Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông 2018; Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung, điều chỉnh chương trình môn Lịch sử từ môn lựa chọn thành môn bắt buộc trong nhà trường; các Quyết định 4068/QĐ-BGDĐT ngày 28/11/2023 về phương án tổ chức kì thi và xét công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông từ năm 2025; Quyết định 764/QĐ- BGDĐT ngày 8/3/2024 qui định về cấu trúc định dạng đề thi Kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ năm 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thứ hai, trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (bổ sung, điều chỉnh tại Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT), môn Lịch sử xây dựng theo định hướng nghề nghiệp ở cấp trung học phổ thông, có sứ mệnh giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực lịch sử, đồng thời góp phần hình thành, phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung được xác định trong Chương trình tổng thể. Môn Lịch sử hình thành, phát triển cho học sinh các năng lực lịch sử
- 8 như: tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tư duy lịch sử, năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống, góp phần định hướng cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp; phát triển tầm nhìn, củng cố các giá trị nhân văn, tinh thần cộng đồng, lòng khoan dung, nhân ái; góp phần hình thành, phát triển những phẩm chất của công dân Việt Nam, công dân toàn cầu trong xu thế phát triển đa dạng của thế giới hiện nay. Thứ ba, những hạn chế của phương án, hình thức bài thi tốt nghiệp hoàn toàn gồm trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (4 phương án A, B, C, D) khiến xác suất đánh ngẫu nhiên đạt điểm tối đa của học sinh là khá cao (25%), chưa kể khi kéo dài hình thức thi này trong nhiều năm sẽ bộc lộ khó khăn khi xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi, khó đo lường đầy đủ, chính xác các khả năng giải quyết vấn đề, phán đoán, suy luận và diễn đạt của thí sinh. Mặc dù từ năm 2025 khi Bộ Giáo dục – Đào tạo có sự thay đổi phương án thi tốt nghiệp trung học phổ thông theo hình thức kết hợp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn và trắc nghiệm đúng – sai, song vì là năm đầu tiên thực hiện chương trình mới, phương án và hình thức thi mới trong khi tài liệu tham khảo hầu như chưa có, kinh nghiệm của giáo viên và học sinh còn hạn chế, chưa được trải nghiệm trong thực tiễn; yêu cầu cần đạt của chương trình lại rất khái quát, chung chung, không chi tiết; tài liệu tham khảo chủ yếu là sách giáo khoa thì lại có tới 3 bộ sách khác nhau với nội dung có nhiều phần biên soạn khác biệt. Đặc biệt trong bài thi môn Lịch sử, phần trắc nghiệm khách quan lại có xác suất đánh ngẫu nhiên đạt điểm tối đa là 1/16 (nhỏ hơn 4 lần so với dạng thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn), trong khi mỗi ý sai lại bị trừ nhiều điểm hơn so với trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn. Đây là thách thức lớn cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học và ôn thi hướng tới phương án và hình thức thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025. Thực tiễn tại trường THPT Giáp Hải, dựa trên thống kê kết quả học sinh làm bài kiểm tra cuối học kì 2 ở một số lớp khối 10, 11 (năm học 2023 – 2024) cho thấy ở phần trắc nghiệm đúng - sai, tỉ lệ học sinh làm đúng và được điểm còn rất ít, cụ thể như sau: Lớp Sĩ Kiểm tra cuối học kì 2 (2023 – Số lượng Tỉ lệ% số 2024)
- 9 10A2 46 Đúng 100% 0 0 Đúng từ trên 75% - dưới 100% 9 19,6 Đúng từ trên 50% - 75% 14 30,4 Đúng từ 25% - 50% 21 45,7 Đúng dưới 25% 2 4,3 10A8 43 Đúng 100% 0 0 Đúng từ trên 75% - dưới 100% 10 23,2 Đúng từ trên 50% - 75% 13 30,2 Đúng từ 25% - 50% 17 39,5 Đúng dưới 25% 3 7 11A2 46 Đúng 100% 2 4,3 Đúng từ trên 75% - dưới 100% 4 8,7 Đúng từ trên 50% - 75% 14 30,4 Đúng từ 25% - 50% 22 47,8 Đúng dưới 25% 4 8,7 11A6 43 Đúng 100% 0 0 Đúng từ trên 75% - dưới 100% 3 7 Đúng từ trên 50% - 75% 10 23,3 Đúng từ 25% - 50% 23 53,5 Đúng dưới 25% 7 16,3 Qua thống kê cho thấy tỉ lệ học sinh bị sai từ từ 2-3 ý/ câu là chủ yếu, như vậy sẽ bị mất từ 0,75 – 0,9 điểm của mỗi câu đúng – sai. Đây là một lí do để giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh nhiều hơn nhằm đạt kết quả tốt nhất trong các bài kiểm tra, bài thi. Như vậy, có rất nhiều khó khăn cho giáo viên và học sinh trong dạy học và ôn thi theo chương trình mới môn Lịch sử ở lớp 12 và theo phương án, hình thức thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025. Thứ tư, khi thực hiện xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai cho môn Lịch sử lớp 12 trong quá trình dạy học và ôn thi cho học sinh, tôi nhận thấy những ưu điểm của giải pháp là giúp học sinh có thêm tài liệu học tập môn Lịch sử theo chương trình mới; cung cấp cho học sinh hệ thống bài tập trắc nghiệm đúng – sai để qua việc học tập và rèn luyện kĩ năng làm bài; hướng dẫn học sinh cách tự học, tự nghiên cứu tư liệu, tự nêu vấn đề và giải quyết vấn đề thông qua việc xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai. Từ đó sẽ phát triển các phẩm
- 10 chất, các năng lực tự chủ, tự học, giải quyết vấn đề, các năng lực lịch sử cho học sinh. Giải pháp cũng hỗ trợ giáo viên có thêm tài liệu tham khảo để tiếp cận với cấu trúc đề thi mới; chia sẻ kinh nghiệm để đồng nghiệp nâng cao hiệu quả dạy học và ôn thi cho học sinh trong các kì kiểm tra; hướng tới góp phần đáp ứng yêu của kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ năm 2025, thi học sinh giỏi các cấp. Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu trình bày sáng kiến kinh nghiệm: “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai môn Lịch sử lớp 12 theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông”. 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến Xây dựng được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai cho môn Lịch sử lớp 12 ở các chủ đề học tập năm học 2024 – 2025. Qua quá trình triển khai trong thực tiễn, các giải pháp của sáng kiến sẽ góp phần khắc phục một số khó khăn trong việc dạy học và ôn thi theo hình thức thi tốt nghiệp từ năm 2025, giúp học sinh có thêm tài liệu học tập môn Lịch sử theo chương trình mới; cung cấp cho học sinh hệ thống bài tập trắc nghiệm đúng – sai để rèn luyện kĩ năng làm bài, năng lực tự học, tự nghiên cứu; phát triển cho học sinh các năng lực lịch sử như tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tư duy lịch sử, giải quyết vấn đề Từ đó, hình thành những năng lực, phẩm chất chung cho học sinh cũng như năng lực đặc thù trong học tập lịch sử, góp phần giúp học sinh yêu thích môn học hơn. Giải pháp cũng nhằm hỗ trợ đồng nghiệp có thêm tài liệu tham khảo để tiếp cận với cấu trúc đề thi mới; chia sẻ kinh nghiệm với nhau để cùng nâng cao hiệu quả dạy học và ôn thi cho học sinh trong các kì kiểm tra, thi học sinh giỏi các cấp; hướng tới góp phần đáp ứng yêu của kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, thi đánh giá năng lực của các trường đại học từ năm 2025. Trên cơ sở áp dụng có hiệu quả tại đơn vị, tôi chia sẻ giải pháp của mình với giáo viên môn Lịch sử ở một số trường THPT khác trong tỉnh Bắc Giang như THPT Yên Dũng số 3, THPT Lục Ngạn số 3 (hiện nay là THPT Phượng Sơn), THPT Nhã Nam. Qua đó, cùng góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học môn Lịch sử của các nhà trường và tỉnh Bắc Giang. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến
- 11 7.1.1. Giải pháp 1: Xác định những năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh tương ứng với yêu cầu cần đạt ở mỗi chủ đề học tập của môn Lịch sử lớp 12. a. Nội dung Căn cứ vào mục tiêu về phát triển năng lực cho học sinh của giáo dục trung học phổ thông nói chung và yêu cầu cần đạt về năng lực lịch sử nói riêng, giáo viên cần xác định rõ các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh ở mỗi chủ đề học tập trong chương trình lịch sử lớp 12. Đây là bước đầu tiên, quan trọng trước hết, ảnh hưởng đến việc xây dựng, thực hiện kế hoạch bài dạy cũng như xây dựng hệ thống bài tập cho học sinh đạt hiệu quả. b. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp - Bước 1: Xác định các năng lực chung và năng lực lịch sử cần hình thành, phát triển cho học sinh trung học phổ thông, nhất là học sinh lớp 12 (lớp học cuối cấp trung học phổ thông). Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí... thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Các năng lực cốt lõi (năng lực chung): năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Ngoài ra, trong dạy học lịch sử còn cần hình thành cho học sinh các năng lực lịch sử từ thấp đến cao bao gồm: năng lực tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết thực tiễn. Mỗi năng lực lịch sử ở các cấp độ khác nhau sẽ phát huy được khả năng của học sinh, thông qua các phẩm chất cần thiết, có liên quan như chăm chỉ, trách nhiệm sẽ rèn luyện, bồi đắp cho học sinh có thể vươn tới việc hình thành các năng lực lịch sử cao hơn. - Bước 2: Xác định năng lực cần hình thành, phát triển cho học sinh qua từng chủ đề học tập, tương ứng với yêu cầu cần đạt của chương trình. Trong chương trình môn Lịch sử lớp 12 có 06 chủ đề học tập, bao gồm 01 chủ đề lịch sử thế giới, 01 chủ đề lịch sử khu vực và 04 chủ đề lịch sử dân tộc. Ở mỗi chủ đề, giáo viên cần bám vào hướng dẫn của Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông 2018; đặc
- 12 biệt là Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung, điều chỉnh một số nội dung của Thông tư 32/2018/TT- BGDĐT liên quan đến môn Lịch sử. Trên cơ sở các nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt của chủ đề học tập, giáo viên xác định các năng lực chung, năng lực đặc thù (năng lực lịch sử) cần hình thành, phát triển cho học sinh sao cho phù hợp. Việc xác định đúng yêu cầu cần đạt, các năng lực, đặc biệt là năng lực đặc thù môn lịch sử là rất quan trọng vì nó giúp giáo viên đưa ra yêu cầu phù hợp với học sinh, xây dựng được các câu hỏi bài tập nhằm phân hoá học sinh trong quá trình dạy học cũng như khiến cho học sinh không bị áp lực, phần đông cảm thấy “vừa sức”, song vẫn phát hiện được những học sinh giỏi, xuất sắc để tiếp tục bồi dưỡng, nâng cao năng lực lịch sử cho các em. c. Kết quả, sản phẩm được tạo ra khi thực hiện giải pháp Khi thực hiện giải pháp 1, tôi xây dựng hệ thống các chủ đề dạy học môn Lịch sử lớp 12 và xác định các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh dựa trên yêu cầu cần đạt của chương trình. Ví dụ cụ thể ở hai chủ đề 1 và chủ đề 4 như sau: Tên chủ Các năng lực Yêu cầu cần đạt Các năng lực lịch sử cần đề chung cần hình thành, phát triển cho hình thành, học sinh ở mỗi chủ đề phát triển cho học sinh Chủ đề - Các năng lực - Biết cách sưu - Năng lực tìm hiểu lịch sử: 1. Trật cốt lõi (năng tầm và sử dụng tài thông qua quá trình dạy học tự thế lực chung): liệu để tìm hiểu trong chủ đề 1, giáo viên giới năng lực tự chủ quá trình thành lập hướng dẫn học sinh nhận diện trong và và tự học, năng Liên hợp quốc. được các loại hình sử liệu: sau lực giao tiếp và - Nêu được bối hình ảnh, chữ viết hay tư liệu Chiến hợp tác, năng cảnh lịch sử và đa phương tiện (video, clip), tranh lực giải quyết quá trình hình phân biệt được sử liệu gốc hay lạnh vấn đề và sáng thành; mục tiêu, sử liệu thứ cấp thông qua tư tạo. nguyên tắc hoạt liệu sẵn có của sách giáo khoa động cơ bản; vai hoặc sưu tầm của giáo viên, trò của Liên hợp học sinh. Thông qua khai thác, quốc. sử dụng tư liệu, học sinh trình
- 13 - Biết cách sưu bày dưới hình thức viết hoặc tầm và sử dụng tài nói được các nội dung, sự kiện liệu để tìm hiểu về chính về chủ đề 1 như: tổ chức Trật tự thế giới hai Liên hợp quốc; trật tự hai cực cực I-an-ta. Ianta; xu thế đa cực và các xu - Trình bày được thế của quan hệ quốc tế sau quá trình hình Chiến tranh lạnh. thành và tồn tại; - Năng lực nhận thức và tư duy nguyên nhân dẫn lịch sử: giáo viên có thể hình đến sự sụp đổ của thành, phát triển năng lực này Trật tự thế giới hai cho học sinh thông qua một số cực I-an-ta. yêu cầu cụ thể như: - Nêu được xu thế + Giải thích được sự cần thiết phát triển chính phải thành lập tổ chức Liên của thế giới sau hợp quốc năm 1945. Chiến tranh lạnh. + Chọn và giải thích được lí do - Trình bày được tại sao mục tiêu chủ yếu của khái niệm đa cực; Liên hợp quốc là duy trì hoà xu thế đa cực bình, an ninh thế giới; nguyên trong quan hệ tắc hoạt động quan trọng của quốc tế sau Chiến Liên hợp quốc; vai trò quan tranh lạnh. trọng nhất của Liên hợp quốc. - Phân tích được + So sánh được sự khác biệt và tác động của sự giống nhau giữa tổ chức Liên sụp đổ Trật tự thế hợp quốc và Hội quốc liên giới hai cực I-an- hoặc các tổ chức khu vực như ta đối với tình ASEAN. hình thế giới. + Đưa ra được đánh giá cá - Vận dụng được nhân của học sinh về những những biểu hiện đóng góp to lớn hay hạn chế về thế giới sau của tổ chức Liên hợp quốc trên Chiến tranh lạnh cơ sở những điều đã học và để giải thích những điều đã quan sát, đã biết những vấn đề thời trong thực tiễn; nhận xét các
- 14 sự trong quan hệ đóng góp của Việt Nam đối quốc tế. với các hoạt động của Liên hợp quốc. Tự hào về vai trò và đóng góp của Việt Nam và có ý thức sẵn sàng đóng góp sự nghiệp chung của Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế. - Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Rút ra được bài học lịch sử từ quan hệ quốc tế và vận dụng được kiến thức lịch sử đã học để giải quyết mối quan hệ của cá nhân trong thực tiễn cuộc sống (mở rộng quan hệ xã hội, giải quyết mâu thuẫn tranh chấp ), chuẩn bị và định hướng nghề nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hoá Trên nền tảng đó, có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 và toàn cầu hoá; thấy được tầm quan trọng của tri thức lịch sử - văn hoá trong bối cảnh hội nhập, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời. Chủ đề - Các năng lực - Trình bày được - Năng lực tìm hiểu lịch sử: 4. Công cốt lõi (năng những nội dung thông qua quá trình dạy học
- 15 cuộc đổi lực chung): chính các giai trong chủ đề 4, giáo viên mới ở năng lực tự chủ đoạn của công hướng dẫn học sinh nhận diện Việt và tự học, năng cuộc Đổi mới đất được các loại hình sử liệu: Nam từ lực giao tiếp và nước từ năm 1986 hình ảnh, chữ viết hay tư liệu 1986 hợp tác, năng đến nay. đa phương tiện (video, clip), phân biệt được sử liệu gốc hay đến nay lực giải quyết - Trình bày được sử liệu thứ cấp thông qua tư vấn đề và sáng thành tựu cơ bản liệu sẵn có của sách giáo khoa tạo. của công cuộc Đổi hoặc sưu tầm của giáo viên, mới ở Việt Nam học sinh. Thông qua khai thác, về chính trị, kinh sử dụng tư liệu, học sinh trình tế, xã hội, văn hoá bày dưới hình thức viết hoặc và hội nhập quốc nói được các nội dung chính tế. về đường lối, thành tựu; nêu - Nêu được một số được một số bài học kinh bài học kinh nghiệm của công cuộc đổi nghiệm của công mới ở Việt Nam từ 1986 đến cuộc Đổi mới ở nay. - Năng lực nhận thức và tư duy Việt Nam từ năm lịch sử: giáo viên có thể hình 1986 đến nay. thành, phát triển năng lực này cho học sinh thông qua một số yêu cầu cụ thể như: + Giải thích được sự cần thiết phải tiến hành công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986. + Chọn và giải thích được lí do tại sao phải xoá bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; tại sao phải đổi mới toàn diện, đồng bộ nhưng trọng tâm là kinh tế. + Phân biệt được điểm giống và khác nhau về nội dung đường lối đổi mới qua từng
- 16 giai đoạn: 1986 – 1995, 1995 – 2005; 2006 – nay. Giải thích lí do có sự khác biệt đó. + Đưa ra được đánh giá cá nhân của học sinh về đường lối đổi mới của Đảng, những thành tựu của công cuộc đổi mới trên cơ sở những điều đã học và những điều đã quan sát, đã biết trong thực tiễn. + Biết so sánh và đánh giá, chỉ ra những bài học kinh nghiệm giữa công cuộc đổi mới ở Việt Nam với công cuộc cải tổ ở Liên Xô, cải cách – mở cửa ở Trung Quốc... - Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn: rút ra được bài học lịch sử từ công cuộc đổi mới, vận dụng được kiến thức lịch sử đã học để giải quyết thực tiễn cuộc sống, chuẩn bị và định hướng nghề nghiệp, lập nghiệp trong bối cảnh hội nhập; có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau trong bối cảnh hội nhập và cuộc cách mạng 4.0 7.1.2. Giải pháp 2: Xác định các nguyên tắc, kĩ năng và qui trình xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai môn Lịch sử lớp 12 theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025 của Bộ GD – ĐT. a. Nội dung
- 17 Khi thiết kế bất cứ dạng bài tập nào cho học sinh, giáo viên cần nắm vững các nguyên tắc, kĩ năng, qui trình xây dựng câu hỏi, bài tập để không chỉ củng cố, kiểm tra kiến thức của học sinh mà còn phải phân hoá được học sinh, đáp ứng yêu cầu khác nhau của nhiều đối tượng trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá. Trắc nghiệm đúng – sai và cách tính điểm theo qui định kì thi tốt nghiệp THPT 2025 là dạng câu hỏi mới có trong hình thức bài thi tốt nghiệp môn Lịch sử cũng như trong các bài kiểm tra ở nhà trường. Trong câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai, yêu cầu sử dụng sử liệu chính xác là rất quan trọng. Đó cũng là khó khăn đòi hỏi giáo viên phải đầu tư tìm tòi, nghiên cứu, đọc nhiều, hiểu sâu kiến thức, kết hợp với nắm vững nguyên tắc, kĩ năng, qui trình đặt câu lệnh thì mới có được bài tập chất lượng, hiệu quả phục vụ công tác dạy học, ôn thi. b. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp - Bước 1: Xác định và nắm vững một số lưu ý về nguyên tắc, kĩ năng khi xây dựng câu hỏi bài tập trắc nghiệm đúng –sai. Đây là bước đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng của câu hỏi. Nếu xác định được vấn đề cần hỏi mà không nắm vững nguyên tắc, kĩ năng xây dựng câu hỏi sẽ rất dễ dẫn đến câu hỏi bị sai lệch, không rõ nghĩa, khiến cho học sinh gặp khó khăn khi làm bài tập. Vì vậy, giáo viên cần nắm vững một số lưu ý khi xây dựng câu hỏi bài tập trắc nghiệm đúng – sai như sau: + Theo cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT, ở dạng câu trắc nghiệm đúng - sai, điểm tối đa của 01 câu hỏi là 1 điểm, trong đó: lựa chọn chính xác 1/4 ý trong 1 câu hỏi được 0,1 điểm; lựa chọn chính xác 2/4 ý trong 1 câu hỏi được 0,25 điểm; lựa chọn chính xác 3/4 ý trong 1 câu hỏi được 0,50 điểm; lựa chọn chính xác 4/4 ý trong 1 câu hỏi được 1,0 điểm. + Câu hỏi cần đảm bảo 2 phần: phần 1 là trích thông tin/tư liệu và yêu cầu; phần 2 là các ý a, b, c, d (câu lệnh). Ví dụ: - Phần 1: Đọc đoạn tư liệu sau đây, sau đó lựa chọn đúng hoặc sai ở mỗi ý a, b, c, d. “[Năm 1960] Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc
- 18 thuộc địa. Đó là một sự kiện chính trị quan trọng. Tuyên ngôn đã khẳng định các nước thực dân đã vi phạm nguyên tắc quan trọng nhất của luật pháp quốc tế; khẳng định rõ ràng cơ sở pháp lý quốc tế của cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức”. (Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Hồng Quân, Liên hợp quốc và Lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.46) - Phần 2: các câu lệnh (ý ): a. Đoạn trích phản ánh vai trò của Liên hợp quốc trong việc trực tiếp giải phóng các dân tộc thuộc địa. b. Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân là đóng góp quan trọng nhất của Liên hợp quốc. c. Các nước thực dân phương Tây đã vi phạm nguyên tắc tôn trọng độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết của các dân tộc. d. Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ ở Việt Nam (1954 – 1975) đã vi phạm vào Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân của Liên hợp quốc. + Đoạn tư liệu nên ưu tiên sử dụng sử liệu gốc (sơ cấp) hoặc nếu chọn sử liệu thứ cấp thì cũng chọn nguồn tin cậy, có giá trị khoa học cao, viết nguồn trích dẫn rõ ràng theo qui định (tác giả, tên tác phẩm trích dẫn, nhà xuất bản, địa điểm xuất bản, năm xuất bản, trang). Nếu là tư liệu trích từ các trang điện tử thì cũng cần ghi rõ tác giả, tên bài viết, tên trang điện tử, ngày đăng bài. Trong trường hợp sử dụng các đoạn tư liệu là sử liệu thứ cấp, chỉ nên sử dụng những đoạn đánh giá, phân tích, tổng hợp hoặc kết luận có tính đúng đắn, khoa học. Không sử dụng sử liệu thứ cấp như là một nguồn sử liệu có tính chất bằng chứng. Ngoài ra, giáo viên có thể tự biên soạn đoạn thông tin tư liệu, song cần đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với nội dung vấn đề cần hỏi, hạn chế tối đa đánh giá chủ quan của người ra câu hỏi. Tư liệu cho câu hỏi rất đa dạng, có thể là: sử liệu thành văn; sử liệu lời nói; đoạn niên biểu, trục thời gian; tranh ảnh; bản đồ, lược đồ; biểu đồ, bảng biểu, số liệu thống kê, + Không lấy một đoạn nội dung viết nào đó của các bộ sách giáo khoa để làm tư liệu hỏi. Trong trường hợp muốn sử dụng một đoạn tư liệu đã được trích dẫn ở
- 19 một sách giáo khoa nào đó, không được ghi trích dẫn từ nguồn sách giáo khoa đó, mà cần trích dẫn đúng nguồn ban đầu của đoạn tư liệu. + Bốn ý a,b,c,d phải đảm bảo phân hoá, đánh giá được năng lực lịch sử của học sinh (tìm hiểu lịch sử; nhận thức và tư duy lịch sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng) qua các mức độ nhận thức (biết, hiểu, vận dụng, vận dụng cao). Ý đưa ra đòi hỏi thí sinh phải có hiểu biết và tư duy về lịch sử ở trình độ khá trở lên mới có thể đạt được điểm tối đa, hạn chế việc dùng “mẹo” chọn đáp án từ các phương án nhiễu như của dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn. Các ý a,b,c,d có thể đúng hết hoặc sai hết, không nhất thiết phải có tối thiểu 1 ý đúng hoặc 1 ý sai. + Độ dài của các ý a,b,c,d nên có sự tương đồng. Trong trường hợp các ý có câu ngắn dài khác nhau, để có tính thẩm mĩ, ý ngắn nên đặt trước ý dài, hoặc ngược lại. Hạn chế những ý mang tính đánh đố về khái niệm, nặng về lí luận, đường lối hoặc ý đưa ra mơ hồ, gây tranh cãi. Trong các ý, tránh các từ thể hiện sự tuyệt đối như: luôn luôn, tất cả, mọi, toàn thể, hoàn toàn, - Bước 2: Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai cho từng chủ đề tương ứng với yêu cầu cần đạt và năng lực cần hình thành, phát triển cho học sinh. + Cần căn cứ vào yêu cầu cần đạt của chương trình, các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh, nội dung của từng chủ đề (đã xác định trong giải pháp 1) để biên soạn câu hỏi bài tập cho phù hợp. + Trong trường hợp ra đề kiểm tra, cần phân loại học sinh rõ ràng, có thể ra đề kiểm tra vượt trên yêu cầu cần đạt, nhưng tỉ lệ nhìn chung không nên quá 30% tổng số câu của đề. + Qui trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai như sau: Thứ nhất: Căn cứ vào các năng lực được lựa chọn → lựa chọn nội dung kiến thức. Cụ thể là: Với mỗi chỉ báo cốt lõi đã được lựa chọn và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của chỉ báo đó đã được xác định, ta tìm nội dung kiến thức, kĩnăng phản ánh tốt nhất chỉ báo và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của chỉ báo đó để đưa vào câu hỏi. Tiến trình trên dẫn đến quy trình lựa chọn nội dung (kiến thức, kĩ năng) đưa vào câu hỏi đánh giá như sau:

