8 Đề ôn luyện giữa học kì II môn Ngữ văn 12

pdf 9 trang An Diệp 11/05/2026 50
Bạn đang xem tài liệu "8 Đề ôn luyện giữa học kì II môn Ngữ văn 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdf8_de_on_luyen_giua_hoc_ki_ii_mon_ngu_van_12.pdf

Nội dung tài liệu: 8 Đề ôn luyện giữa học kì II môn Ngữ văn 12

  1. LUYỆN ĐỀ ĐỀ 01 Đọc đoạn trích sau: KĨ NGHỆ LẤY TÂY Chương III. Mày không muốn nhận tao làm chồng Bà này tên ở khai sinh là gì không rõ; cái xã hội các me ở Thị Cầu cứ gọi là bà Kiểm Lâm thì tôi cũng đành cứ gọi là bà Kiểm Lâm. Bà ta đã sẵn lòng kéo ghế mời tôi, mặc dầu lúc ấy đã quá mười một giờ. Tại sao người làm báo xưa nay vẫn bị người ta chế là kẻ đi bới móc để tống tiền, mà khi nghe xong chức nghiệp với mục đích của tôi, bà Kiểm Lâm đã không nghi ngại gì cả? Ngồi ở giường, hai tay thấm bông vào một bát dấm rồi đập vào cổ, má, trán, mũi, bà cứ kể lể các chuyện của bà một cách dễ dàng và thực thà khiến tôi cảm động rồi kính phục một người có can đảm nói những cái cũng chẳng sang trọng gì mà chẳng sợ ai khinh. - Hạng người chúng tôi là hạng bỏ đi, ông ạ. Dù xã hội không khinh chăng nữa, chúng tôi cũng đã tự biết phận mình. Bây giờ, nghèo hèn, tôi cũng chẳng còn sợ ai cười, chỉ cố chí làm giầu để sau này có thể ở ác được lại với những kẻ đã khinh mình tôi mà thôi. Nhưng mà cứ phú quý giật lùi ông ạ. Xuất thân lấy chồng xi-vin(1) hẳn hoi. Sau chồng về Tây, phải giang hồ lưu lạc, lâm đến cảnh đi lấy chồng cô-lô-nhần(2). Bây giờ thì đến với các anh lính lê dương cũng không xong. Xưa kia, giữa lúc đương xuân, nào có phải đâu tôi không lấy nổi một tấm chồng ta danh giá! Hỡi bạn độc giả! Con đường “công danh” của những thợ đàn bà trong kỹ nghệ lấy Tây này thật là gập ghềnh, khuất khúc lầy lội và quanh co. Phái đàn ông ta, không ai lại có thể đỗ cử nhân trước, rồi đỗ thành chung sau, rồi đỗ sơ học sau cùng. Nhưng cái công danh của một người đàn bà đi lấy Tây có thể ví như thế được đấy. Vì mỗi một người chồng – nói đúng ra, mỗi một đời chồng – cũng có giá trị như một cái giấy chứng chỉ để tiện việc kiếm chồng, nghĩa là sinh nhai. Bà Kiểm Lâm đã lâu không dám về thăm bố mẹ giàu ở làng. Phải, cứ thế, trước kia làm gì chẳng lấy được người chồng hẳn hoi. Con gái một nhà quyền thế vì lắm của, lại đẹp, như thế ai dám bảo ế chồng. Ngay bây giờ, cái mặt phong trần của bà cũng vẫn còn phảng phất những nét đẹp hồi xuân xưa. Bà ta có thể hưởng một cuộc đời bình tĩnh. Khốn nỗi sự đau khổ của loài người đã muốn rằng bà ta lại đa tình, đã có một quả tim đáng quý vì biết thổn thức trước một sự đáng yêu. Trong lúc đương xuân và còn hưởng mọi sự giàu sang, cô gái trẻ đã yêu một người. Gia cảnh đôi bên không cân nhau, việc dạm hỏi không thành, người đàn bà đã đau khổ. Thế rồi một buổi chiều Một bức thư tuyệt mệnh! - Không, tôi đã nghĩ: chẳng tội gì mà quyên sinh! Chỉ cốt để bố mẹ tưởng là mình chết rồi thì thôi, có muốn thương cũng không thương được nữa. Thế rồi thì là cái đời giang hồ. Bà Kiểm lâm gục đầu xuống bàn một lúc lâu. Tôi tưởng bà ta khóc. Nhưng khi bà ta ngẩng lên, nét mặt chỉ thoáng mấy nét bơ thờ Một người đáng thương làm sao! Cái quả tim đã già cằn rồi, bây giờ không còn thổn thức được nữa. Cô thiếu nữ đa cảm khi xưa nay đã đến nỗi hoá ra một “con quái vật” trên đời! Vì rằng một người đàn bà hết nước mắt có thể gọi là một con quái vật được. - Thế câu chuyện xảy ra vừa rồi thì nguyên do bởi đâu? - À, tại nó chứ không phải tại tôi chút nào cả. Vẫn hay chúng tôi lấy họ là vì tiền chứ không bao giờ vì tình nhưng họ cũng nhiều khi quá lắm. Có khi sẵn tiền, họ tìm đến bọn trẻ hơn mình. Hết tiền lại đòi quay về, làm thế nào mình có thể ừ được? - Không có lẽ người lính lê dương nào cũng lại thế cả? - Phải, cũng có nhiều anh trung hậu lắm chứ. Nhưng cái số tôi nó thế, chỉ gặp những đồ không ra gì mà thôi. Làm thế nào? Anh chàng vừa rồi là một người Đức đấy. Mà ở nước anh ta, anh ta là quân giết người rồi bỏ xứ sở ra đi. Chao ôi! Ông bảo chúng tôi có gan không? Ngủ với cả những quân đã giết người! Mặt nó đẹp đẽ thế mà linh hồn nó rất xấu. Giọng nói của bà Kiểm Lâm khẽ dần Bà hầu như châu đầu vào tôi. Một đêm kia, bác lính lê dương đã khêu to ngọn đèn cúi xuống nhìn kỹ vợ và hỏi: - Tao đẹp lắm phải không? - Đẹp thật. - Thế mà tao xưa kia đã giết một người! - Đừng nói dối! - Nói dối à? Mày có muốn biết rõ cái độc ác của tao không?
  2. Thế là bác lính lê dương nghiến răng, cau mặt lại nhìn vợ trừng trừng. Cái mặt đẹp trai bỗng chốc hoá ra mặt một kẻ đầu trâu mặt ngựa, trông rất ghê gớm. Bà Kiểm Lâm đã sợ hãi, rú lên một tiếng rồi quay đi. - Ông có đời nào tin được rằng một người đẹp đẽ, có thể khiến mình đến say mê mà bỗng chốc làm mình sợ hãi được không? Tôi, tôi đã thấy một cái mặt một cái mặt hai cái mặt như thế đấy! Đến đây, bà trỏ ba đứa con ngồi ở giường ngây ra nghe chuyện từ nãy mà rằng: - Từ lần ấy, tôi cứ nơm nớp sợ rằng có một ngày, nổi ghen lên, anh ta sẽ giết chết ba đứa con của ba chồng cũ của tôi. Tội gì bây giờ sẵn có cớ bỏ, tôi lại không cự tuyệt! 12 giờ. Gió thổi mạnh nhưng mà may không mưa. Tôi đứng lên, xin một lần sau sẽ đến. Tiễn tôi ra khỏi cửa, bà Kiểm Lâm lại thêm rằng: - Ông chớ tưởng tôi cạn tàu ráo máng với người ta quá. Dẫu rằng để cho mình bị đánh đập, tôi cũng là người khôn. Nếu cứ nhận, có phen họ giết mình. Vì rằng lấy chồng là vì tiền, như thế họ tha thứ mình được Nếu tôi ừ thì biết đâu họ chẳng giết tôi chứ không phải chỉ có đánh! Mới hay có thể có những kẻ nghĩ sâu xa khác thường! (Vũ Trọng Phụng, phóng sự, tập I, NXB Văn học 2016, tr.558-561) Chú thích: (1). Xi-vin: Dân sự (2). Cô-lô-nhần: Lính thuộc địa Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Đoạn phóng sự trên viết về vấn đề gì? Câu 2. Chỉ ra một số biện pháp đặc trưng của thể loại phóng sự được Vũ Trọng Phụng sử dụng trong đoạn trích. Câu 3. Hình tượng nhân vật me Tây Kiểm Lâm hiện lên như thế nào qua đoạn phóng sự? Câu 4. Nhận xét về thái độ và sự đánh giá của người viết trong đoạn trích. Câu 5. Sử dụng kiến thức về lịch sử, bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX để lí giải vì sao một bộ phận phụ nữ Việt Nam lại lựa chọn con đường “lấy Tây” để làm “kế sinh nhai”? ĐỀ 2 ĐỀ 02 Đọc đoạn trích sau: [...] Và lúc ấy là những lúc đầy tớ nói xấu chủ nhà. Đấng sinh ra muôn loài cũng không bảo nổi những ông lang băm đừng nói khoác, những kẻ mắc bệnh hoa liễu đừng kêu rên, những anh bồi săm đừng khinh người như rác, ông sư chớ mơ màng thịt chó, và đầy tớ nhịn nói xấu chủ nhà. Thằng bé ho lao tả cảnh: - Lần đầu tôi đi ở đã gặp bước không may. Lúc mặc cả công, con mẹ chủ đã bằng lòng trả cho tôi mỗi tháng năm hào. Tôi phải gánh đầy ba bể nước, bổ hết hai mươi tạ củi. Nước gánh đầy bể rồi, củi chất chật bếp rồi là bà chủ kiếm chuyện chửi mắng suốt ngày cho mình không ở được nữa mà phải xin thôi. Lúc xin thôi nó kêu rằng "tự nhiên không có chuyện gì " mà giở quẻ xin thôi thế là quân đi nếm cơm vạn kiếp cũng không khá được ! Cố nhiên nó không trả tiền công. Các bác ạ, các hạng chủ nhà đều như thế đấy. Lúc cần thì nó tìm người, lúc hết việc nó kiếm chuyện đuổi ra. Mà nó quỵt tiền công hết thẩy! Tôi hỏi nó xem trong cái đời đi ở của nó, nó có những ngày sung sướng nào không. - Chỉ có một lần. Năm ngoái tôi ở với một nhà vợ chồng trẻ tuổi. Chồng làm ông tham, không hôm nào là chịu về nhà ngủ trước 3 giờ đêm. Mỗi lần đi chơi khuya về, cậu ấy dặn tôi mở cửa xong là thế nào cũng phải đánh vỡ một cái chén hoặc một cái đĩa. Cậu ấy sai tôi phải làm để tôi có cớ đánh vỡ. Hễ thấy tôi làm đánh xoảng một cái là cậu ấy quát tháo ầm nhà lên. Ra oai thế để chặn họng vợ. Bà vợ cuối tháng mà trừ lương thì ông chồng dúi cho mà bù vào. Về sau bà vợ cũng đâm ra cờ bạc, cũng đi suốt ngày, gần đến lúc chồng đi làm về, dúi tiền cho tôi đi mua cơm, mua canh và các món xào ở hiệu cao lâu. Gặp những hôm có giỗ cũng thế, sai đi mua các món ăn hiệu, mua cả xôi, mua cả chè. Thành thử mình chỉ ngủ suốt ngày, chả phải làm gì cả. Thật làm với hạng chủ thế mới sướng. Anh chàng trọc đầu vội cướp lời: - Thế kể cũng đã sướng nhưng chưa bằng tôi. Khi ra tỉnh lần đầu, tôi đã được vào làm nhà một lão thầu khoán. Lúc đầu mặc cả thì là kéo xe, nhưng mà về sau xe cũng chả phải kéo mấy nữa. Chỉ có việc dắt chó đi rong chơi ngoài đường. Lão mua ba con chó Nhật Bản, mỗi con đáng giá trăm bạc cả, cho ăn toàn là những thịt bò với súp. Tôi chỉ suốt ngày tắm rửa cho chó mà thôi. Chỉ khổ một nỗi là thằng chủ có tính gàn, bắt mình lấy giấy bản chùi đít cho chó.
  3. Thằng nhỏ ho lao hỏi vặn: - Như thế thì đã nước gì mà sướng ? Anh ta để chúng tôi lấy làm lạ một lúc rồi nói tiếp: - Vì ông chủ nuôi chó thì tử tế mà nuôi bố thì lại không tử tế. Ông cụ già thì ăn mặc quần áo nâu cũng như tôi, mà phải còm cõm làm thợ vườn suốt ngày. Một lần ông già tai ác ấy chửi tớ, đánh tớ. Tức quá, tớ nghĩ được một cách: đem cứt chó để lên đầu cái phản dưới bếp là chỗ của ông cụ ngủ. Thế là lão già trúng kế, tìm ngay xe điếu vụt cả ba con chó. Tớ lên mách chủ thì lão chủ tớ chửi tiên sư ông cụ, tức là chửi bố. Từ độ ấy trở đi thì chính tớ cũng chả cần đếm xỉa đến bố ông chủ là gì nữa. Các bác bảo như thế lại không sung sướng à? Tôi hỏi: - Thế sao không ở cái nhà ấy cho đến mãn kiếp ? - Kìa, tôi đã nói là lão chủ sai tôi mang thuốc phiện lậu rồi không may bị bắt... ... Trước lúc đó vài giờ đồng hồ, tôi đã phải đứng tần ngần mà tự hỏi:"Ta sẽ làm gì cái bọn này? " Bây giờ tôi lại phải tần ngần tự hỏi: "Ta sẽ làm gì những câu chuyện ấy ?". Thật vậy, những câu chuyện ấy thật là lạ lùng, thật là không ai có thể tưởng là có thật được, thật là nhơ bẩn, thật là chướng tai. Một thằng nhỏ không biết thêu dệt như một nhà văn thì chuyện của một thằng nhỏ kể có thể tin là đúng chín mươi phần trăm sự thực. Mà đứng trước những sự thực không đáng viết lên mặt giấy, ta phải hãi hùng kinh ngạc về loài người. Tiểu thuyết kể những điều mà loài người bảo là không có thật. Sự đời, trái lại, lại có những điều mà tiểu thuyết không dám tin. Ấy thế rồi tôi đâm ra khinh hết cả loài người, vì tôi tin rằng không một ai trong bọn chúng ta lại trông rõ được thực trạng cuộc đời. Thật vậy, bao nhiêu sách vở của loài người, cốt để dạy cho nhau biết mà thôi, vậy mà vẫn công toi cả. Những điều người ta dạy bảo nhau bằng sách ? Đó là những điều mơ hồ, những điều lầm lẫn, những sự văn chương. Văn chương là một sự, sự đời là một sự khác. (Trích Đầy tớ nói xấu chủ nhà, Cơm thầy cơm cô, Toàn tập Vũ Trọng Phụng - Phóng sự - NXB Hội Nhà Văn.) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định hình thức trần thuật trong đoạn trích. Câu 2. Chỉ rõ hiện thực đời sống được nói đến trong đoạn phóng sự. Câu 3. Nêu tác dụng của những yếu tố bình luận ngoại đề được người viết sử dụng trong đoạn trích. Câu 4. Nhận xét về hình tượng chủ thể trần thuật trong đoạn phóng sự trên. Câu 5. Đoạn trích giúp anh/chị hiểu như thế nào về con người, xã hội Việt Nam thời kì trước năm 1945? ĐỀ 3 ĐỀ 03 Đọc đoạn trích sau: Nếu có những chữ này kẻ thật đẹp vào một cái bảng để trước chỗ chúng tôi ngồi có lẽ những người đi đường mới thèm để ý và chúng tôi mới thoát khỏi nạn ngồi giơ mặt cho ruồi bâu. Theo lời mụ làm nghề đưa người ở, tôi đã ra góc phố Amiral Courbet từ 7 giờ. Thoạt đầu chỉ có bọn bẩy đứa chúng tôi ở hàng cơm ra. Về sau, cứ mỗi lúc lại thấy một vài đứa nữa, không biết từ đâu mà chui ra, dễ ở trên cao rơi xuống cũng chưa biết chừng, cũng đến họp ở ngã tư này, như ruồi thấy mùi mật vậy. Vì chưng tôi không cần có việc nên tôi thản nhiên mà nhìn bọn người đến tranh cơm cướp áo nhau trong bọn họ. Còn cái thằng Quít đã thức suốt đêm với tôi hôm qua ở hàng cơm thì mỗi lúc thấy một ai, bất cứ đực hay cái, đến giữ chỗ, là lại càu nhàu: - Giời ơi! Lại cứ thêm thêm mãi thì bao giờ cho tôi mới có việc đây! Thật vậy, bất cứ ở bực thang nào trong xã hội, một kẻ đồng nghiệp cũng là một kẻ đáng ghét. Mụ vú già cũng cấm cảu chửi một câu bâng quơ: - Tiên nhân nhà nó ra! Cứ ùn mãi người lên thế này! Cả đám người ấy ngồi tản mạn thành từng tốp nho nhỏ. Trẻ với trẻ, già với già, đàn bà với đàn bà, con trai với con trai. Mà mụ đưa người thì không ngồi, chỉ đi đi lại lại, nhìn người này, nhìn người nọ như một viên võ quan lúc điểm binh và mấp máy cái mồm, không hiểu là đếm hay là đánh giá những kẻ chịu lụy mụ. Người ta nói chuyện rì rầm huyên thuyên lên, cái đó đã cố nhiên. Người ta lại chửi nhau cho vui, và bắt chấy cho nhau cắn đỡ đói.
  4. Tôi thấy mụ trùm ế hàng mà tôi lo cho bọn khốn nạn kia. Còn chính mụ, mụ lại ra ý sung sướng, tôi chưa hiểu vì lẽ gì. Rồi tôi nghĩ đến bọn thất nghiệp ở Cảng, hẹn nhau một chỗ nhất định, họp đông hơn đám biểu tình. Đằng này, Hà thành không có sự tổ chức, đám dân hạ lưu chia nhau ra khắp các phố, thành thử những người lịch sự tưởng Hà thành lịch sự, mà các nhà xã hội học - cũng tưởng là Hà thành không có chuyện gì bi thương... Chính ra, nó rất là thương tâm... Nó đã cất tiếng gọi dân quê bỏ những nơi đồng khô cỏ héo để đến đây chết đói một lần thứ hai sau khi bỏ cửa bỏ nhà. Nó đã làm cho giá con người phải ngang hàng với giá loài vật; nó đã làm cho một bọn trẻ đực vào nhà Hỏa lò và một bọn trẻ cái làm nghề mãi dâm! Muốn bán mười sáu người! Cả buổi sáng hôm nay không có một khách hàng nào muốn mua. Vậy 16 kẻ kia đáng giá như thế nào? Đó là tại bán đắt nên ế hàng hay là bán rẻ mà cũng vẫn ế? (Chương 2: Muốn bán mười sáu người, Cơm thầy cơm cô, Toàn tập Vũ Trọng Phụng - Phóng sự - NXB Hội Nhà Văn.) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Nêu sự việc chính được thuật lại trong văn bản. Câu 2. Liệt kê một số ví dụ về lời miêu tả, lời kể, lời bàn luận – trữ tình trong đoạn phóng sự. Câu 3. Nêu tác dụng của ngôi kể, điểm nhìn được sử dụng trong văn bản. Câu 4. Người viết bày tỏ thái độ gì qua văn bản? Câu 5. Những câu văn cuối đoạn trích: “Vậy 16 kẻ kia đáng giá như thế nào? Đó là tại bán đắt nên ế hàng hay là bán rẻ mà cũng vẫn ế?” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? ĐỀ 4 ĐỀ 04 Đọc đoạn trích sau: Hôm nay vừa đầy tám ngày, ngày nào trong nhà ông Quyết cũng thấy họ mạc kéo đến tấp nập. Có gì đâu? ông ta phải sửa xôi mới. Với làng Th. của ông Quyết cũng như với nhiều làng khác, xôi mới vẫn là một lễ long trọng. Hễ làng chưa làm lễ ấy, các nhà không ai được ăn, hoặc cúng, hay bán thứ gì bằng nếp. Người nào phạm vào điều đó sẽ bị bắt vạ tức thì. Là vì theo tục thôn quê, nghề gì cũng có tiên sư, tiên sư của nghề làm ruộng là ông Thần nông. Muốn đền cái ơn dạy dân cấy gặt và muốn cầu cho suốt năm mưa thuận, gió hòa, hàng năm, đến mùa lúa chín, người ta phải tế ông ấy bằng ba mâm xôi bằng gạo nếp mới, ý nghĩa của lễ xôi mới là vậy. Cho được tỏ lòng thành kính đối với quỷ thần, làng lại bắt buộc gạo ấy phải do người làng làm ra, không được mua sẵn ở chợ, sợ rằng gạo chợ không được tinh khiết. Bởi vậy, làng đã để riêng một mẫu ruộng tốt, mỗi năm, chiếu theo ngôi thứ giao cho bốn người cầy cấy. Rồi khi gặt lúa, mỗi người phải thổi cho làng một nồi gạo xôi. Ruộng ấy, năm nay đến lượt ông Quyết được cấy một phần. Việc thờ không phải chuyện chơi. Trước kia, mỗi lần cày ruộng, gieo mạ, cấy lúa, làm cỏ, lần nào ông cũng phải sửa cỗ xôi con gà ra đình lễ thánh để trình công việc của mình, và lần nào ông cũng được có anh em họ hàng giúp hết mọi việc, không phải thuê mướn một buổi nào hết. Cố nhiên, được người làm giúp, nhà chủ vẫn phải tốn hơn thuê người làm mướn, vì phải cung đốn bà con một bữa cơm rượu xứng đáng với hảo tâm của họ. Nhưng ở nhà quê, nếu không được thế, sẽ bị người ta chê cười, cho nên dù có phí tổn ông cũng chẳng quản. Bây giờ việc thờ đã sắp đến ngày hoàn thành, số người làm giúp lại đông gấp mấy, thời kỳ làm giúp cũng dài gấp mấy khi trước. Bắt đầu từ hôm lúa chín, bên nội, bên ngoại đã có hơn hai chục người gồng quang xách liềm ra ruộng, cắt lúa cho ông. Ấy là chưa kể những người ở nhà làm đồ uống rượu...Cái chỗ tôi trọ chỉ cách nhà ông một bức rào thưa. Quang cảnh linh đình của nhà ông vẫn tự do hiện vào mắt tôi. Liền trong tám ngày, tôi thấy ngày nào vợ ông cũng phải hai lần gồng thúng đi chợ để mua đồ ăn. Mỗi bữa thường thường có bảy tám mâm uống rượu. Trong nhà không đủ chỗ ngồi, người ta phải ngồi la liệt ngoài sân. Những lúc họ mạc say sưa, tiếng cười tiếng nói vang như cái chợ. - Việc này bác cháu cũng phải tốn đến dăm chục. Mấy anh sang giã gạo nhờ ở nhà tôi trọ nói với tôi như thế khi họ nghỉ việc lên chỗ tôi ở để hút thuốc lào. Ngạc nhiên tôi hỏi: - Nghe nói lệ làng chỉ có một nồi gạo xôi thôi mà! Ông ấy tiêu gì mà hết đến bấy nhiêu tiền? Họ đáp: - Vâng! Theo lệ làng cháu, mỗi người cấy ruộng xôi mới chỉ phải nộp làng một nồi xôi. Nhưng mà việc gì cũng vậy, một "tang" mười "ngoại" là thường, có khi còn hơn thế nữa. Để cháu xin nói cho ông nghe: "Phần ruộng của làng chia cho bác cháu năm nay, tất cả là hai sào rưỡi. Nếu như gặp năm được mùa, số ruộng ấy cũng được mười lăm nồi thóc, thừa đủ để thổi xôi làng. Nhưng lỡ phải năm mất mùa, nó chỉ được một hai nồi thì làm thế nào?
  5. Vì thế, bác cháu đã phải thuê thêm hơn hai sào nữa, dự phòng chỗ hao hụt đó. Rủi cho bác cháu, năm nay tiếng rằng được mùa, nhưng mà các ruộng lúa nếp, ruộng nào cũng bị chuột ăn. Từ khi lúa mới có đòng, bác cháu đã phải đốc xuất người nhà ra ruộng đuổi chuột. Có khi bố con cắt canh mà thức suốt đêm ở các bờ ruộng. Vậy mà nó vẫn ăn hủy ăn hoài, mười phần mất đến chín phần, hơn bốn sào gặt về phơi giã, quạt sạch, chỉ được mười ba nồi thóc, ông tính thế có hại không! Nếu là xôi thường, một nồi gạo chỉ xay độ một nồi thóc là đủ. Nhưng là xôi thờ, bác cháu phải cho xay tám nồi thóc tất cả. Bởi vì, xay rồi còn giã, giã rồi còn phải lựa những hạt đớn, hạt gãy bỏ đi. Tám nồi thóc lấy một nồi gạo, cũng không còn thừa mấy nỗi. Vả lại, từ hạt thóc làm ra hạt gạo, có phải dễ đâu? Luôn tám hôm nay, hôm nào họ mạc giúp đáp cũng phải chè chén. Chúng cháu tính ra mỗi ngày hà tiện cũng hết độ bốn đồng. Thế mà gạo đã được đâu? Còn phải giã thêm hai, ba ngày nữa. Giã đến khi nào hạt gạo bóng nhoáng, cám ở trong gạo trắng như vôi mới thôi! Tôi lấy làm lạ, lại hỏi nữa: - Lệ làng bắt phải như thế hay sao? Họ lắc đầu nói tiếp: - Không! Chẳng có lệ ngạch nào bắt. Chỉ vì một lớp bốn người cùng phải thổi xôi, người nào cũng sợ xôi của mình thua kém xôi của người ta, thì sẽ mang tiếng với làng, cho nên ai cũng phải cố. Trước kia làng cháu đã có lắm người chỉ sửa một "vấn" xôi mới mà mất cơ nghiệp ông ạ. Rồi họ kết luận: - Bác cháu lo xong việc này cũng không còn gì. Hôm qua đã phải bán một cái chum đựng nước lấy tiền mua rượu. Thì ra hạt gạo xôi mới có khi là cả gia tài của người ta. (Trích “Việc làng”, Ngô Tất Tố, NXB Hội Nhà văn 2022.) Thực hiện yêu cầu: Câu 1. Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận biết văn bản trên thuộc thể loại phóng sự? Câu 2. Liệt kê các sự việc chính theo trình tự được thuật lại trong văn bản. Câu 3. Đoạn văn sau thể hiện đặc điểm nào của người nông dân xưa? Đặc điểm ấy có những mặt tích cực và hạn chế như thế nào? “- Không! Chẳng có lệ ngạch nào bắt. Chỉ vì một lớp bốn người cùng phải thổi xôi, người nào cũng sợ xôi của mình thua kém xôi của người ta, thì sẽ mang tiếng với làng, cho nên ai cũng phải cố. Trước kia làng cháu đã có lắm người chỉ sửa một "vấn" xôi mới mà mất cơ nghiệp ông ạ.” Câu 4. Xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo và thông điệp của văn bản. Câu 5. Theo anh/chị, lễ xôi mới có những mặt tích cực và hạn chế gì? Vì sao? ĐỀ 5ĐỀ 6 ĐỀ 06 Đọc văn bản: Trời đã quá trưa. Tôi vừa về đến nhà trọ, đã thấy người nhà ông Lũy đã sang mời. Lần này là ba. Sáng ngày đã hai lần rồi.[..] Vì tôi trọ học ở gần nhà ổng thành ra quen ổng. Người ta bảo với tôi rằng: Ổng rất thật thà chăm chỉ. Trước đó chừng mười lăm năm, ổng còn làm nghề cày thuê, vợ ổng thì chuyên đi ở vú sữa. Cái chính sách tiết kiệm, trong một thời kỳ khá dài, đã đưa nhà ổng lên đến bậc có máu mặt, lưng vốn ở nhà đã có gần mẫu ruộng và nửa con trâu. Trong mấy năm nay, vợ ổng đã không còn sữa, ổng cũng không được khỏe mạnh như xưa, cho nên cả hai đều tự hưu trí để cùng trông nom nhà cửa ruộng nương. Nhờ trời hồi ấy luôn luôn được mùa, vận ổng lại càng tấn tới, trong chuồng lúc nào cũng có lợn lớn, thóc lúa đủ ăn từ vụ nọ đến vụ kia. Trong cái hạnh phúc của loài người, ổng không mong gì hơn thế, nếu như làng ổng không có cái đình. Khổ vì cái làng Đ.Tr. nhà ổng tuy không phải làng văn vật, nhưng mà rất có trật tự. Bao giờ cũng vậy, ngồi chỗ trong đình làng ấy cũng như ngồi chỗ ở các rạp hát, vẫn chia ra rất nhiều lô: trên nhất là chiếu phẩm hàm, rồi đến các chiếu chức dịch, trai đinh phải ngồi vào lớp cuối cùng. Ông tuy ngoài năm chục tuổi, nhưng vẫn là hạng bạch đinh, mỗi khi ra đình, chỉ được ngồi với bọn bố cu, bố đĩ. Điều đó, ổng rất lấy làm bất mãn. Nhiều lần làng khuyết lý trưởng, phó lý, ổng đã dốc lòng định mưu lấy chút danh phận. Chỉ vì ổng không biết một thứ chữ nào, cho nên không được như nguyện. Năm nay, mái đình làng ấy có mấy chỗ dột. Dân làng cũng mong chữa lại, nhưng mà tiền công của làng chỉ vừa đủ để các hào lý đi việc quan, không còn thừa mà mua ngói. Các ông kỳ dịch liền gọi ổng ra giữa đình, để bán cho ổng cái chức “lý cựu” lấy một trăm bạc chi tiêu vào công việc tu bổ. Lúc đầu ổng cũng phân vân, vì sợ cái của “không tân mà cựu” sẽ không được ai quý trọng. Mấy ông kỳ dịch nói rất bùi tai, họ bảo người ta bỏ hàng năm, bảy trăm, một nghìn để làm ông lý, ông phó. Đằng này, ông chỉ tốn một trăm bạc, không vất vả gì, mà rồi cũng được ngồi ngang với họ, ăn biếu ăn xén như họ. Ấy là một dịp hiếm có,
  6. không nên bỏ qua. Nghe vậy, ổng cũng cho là rất có lý và đã bàn kỹ với vợ. Vợ ổng cũng muốn được làm bà Cựu, nên cũng khuyên ổng cố lo. Từ nửa tháng trước, ổng đã bán trâu, bán ruộng, được hơn trăm bạc, để nộp cho làng. Thế là công việc mười phần đã xong chín phần, chỉ còn khao làng một bữa, thì sẽ thành danh ông Cựu. Đáng lẽ bữa khao ấy ổng định hoãn đến tháng mười, đợi cho lúa gạo của nhà, đỡ phải vay mượn mất lãi. Nhưng mấy ông hương lý không nghe. Họ nói để lâu không tiện, dân làng đã vậy, còn quỷ thần. ừ thì cái áo còn lo được, huống chi cái giải! Trước một lần, sau cũng một lần, lo lúc nào thì xong lúc ấy. Ôíng nghĩ vậy, nên mới cố mua bát họ hơn sáu chục đồng để lo cho yên. Cứ ý bà Cựu, thì cuộc khao này chỉ cốt cho đủ lệ làng, không mời khách khứa nào cả. Ông Cựu không chịu. Bây giờ ổng đã làm bậc lý cựu trong làng, không thể xử cách nhom nhem được. Bởi vậy, ổng định làm thật linh đình. Nhà chật. Trừ khu bếp đun, toàn thể dinh cư chỉ có bốn gian một chái nhà tranh. Ngày thường, với gia đình ổng như thế cũng là rộng. Lúc nào có việc, nó không đủ chỗ để chứa làng xóm họ mạc. Từ chiều hôm qua, ông đã sai mổ con lợn, để nhờ bà con dựng hộ gian rạp. Bấy giờ đã nửa tháng tám, công việc ngoài đồng xong rồi, cả làng ai cũng rỗi rãi. Tôi tuy chưa sang nhà ông, cũng nghe nói số người giúp đáp đông lắm. Mẹ nào con ấy, chị nào em ấy, người ta kéo vào từng lũ. Cái anh người nhà sang mời khoe rằng: - Bữa chiều hôm qua, tất cả năm chục mâm cỗ. Con lợn bảy yến, chỉ ăn một lượt là hết. Sáng nay ông Cựu lại cho giết ba con nữa, hai con để họ hàng ăn cơm, một con để đem lễ thờ, rồi biếu dân làng. Và hắn nói thêm: - Nhưng cũng chưa đủ. Chiều nay còn mời các lão và tư văn, thế nào cũng phải vài ba con nữa. [ ..] Năm hôm sau nữa, tôi gặp bà Cựu cắp nón đi ra cổng làng, với một dáng điệu không vui: Chào ông ở nhà, cháu đi làm đây. Và không đợi tôi hỏi, bà ấy vội vàng cắt nghĩa: - Cháu sang Hà Nội làm vú già ông ạ. Có gần mẫu ruộng và nửa con trâu đã bán hết cả, lại còn nợ thêm hơn bảy chục đồng, nếu không đi làm thì lấy gì mà đóng họ? (Trích Góc chiếu giữa đình, trong Việc làng, Ngô Tất Tố) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định ngôi kể và điểm nhìn trong đoạn trích. Câu 2. Theo đoạn trích, nhân vật ông Lũy quyết mua chức “lý cựu” là do nguyên nhân nào?. Câu 3. Chỉ ra và phân tích những yếu tố tạo nên giọng điệu của đoạn trích phóng sự. Câu 4. Xác định chủ đề, cảm hứng chủ đạo và thông điệp của văn bản. Câu 5. Theo anh/chị, những nội dung được đề cập đến trong đoạn trích có còn ý nghĩa đối với thực tiễn hiện nay không? Lí giải ý kiến của anh/chị. ĐỀ 7 ĐỀ 07 Đọc văn bản: Cuộc hội ngộ trên đồi A1 Đúng 15h30 ngày 3/5, sau chặng bay gần 1 giờ đồng hồ từ Hà Nội lên TP Điện Biên Phủ, Đại tá, cựu chiến binh Lê Quyên (92 tuổi, trú quận Cầu Giấy, Hà Nội) không giấu được xúc động khi đón ông ở sảnh sân bay là những người đồng đội tại chiến trường Điện Biên năm xưa. "- 1954, chúng ta chiến đấu và chiến thắng, A1, đồi A1 đấy! - Tôi đánh đồi A1 2 lần, khi 23 tuổi. - Còn tôi thì 24 tuổi, lúc bấy giờ là tiểu đội trưởng " Câu chuyện của những người lính gặp lại nhau sau 70 năm rộn vang một góc sân bay Điện Biên trong những ngày tháng 5 lịch sử. Nhưng vì lý do sức khỏe, ông Quyên không thể nán lại lâu cùng đồng đội, họ hẹn nhau sẽ hàn huyên vào chiều hôm sau. Giữ đúng lời hẹn, 14h ngày 4/5, 10 cựu chiến sĩ Điện Biên có mặt ở Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau 1 ngày nghỉ ngơi, sống trong bầu không khí của mảnh đất Điện Biên anh hùng, cựu binh Lê Quyên hăng say kể chuyện chiến trường. Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Thanh Hóa, tháng 3/1950 khi đang ngồi trên ghế nhà trường, ông Quyên nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, tham gia bộ đội.
  7. "Khi còn đi học, tôi được nghe câu chuyện về "trai thời loạn, gái thời bình". Tức là trai thời loạn không đi vào chiến trận để giải phóng đất nước, để ghi chiến công thì đến khi hòa bình gặp các bạn gái sẽ rất xấu hổ", người cựu binh dí dỏm nói về "động cơ" nhập ngũ khiến những đồng đội bật cười. Theo lời ông Quyên, ông đặt chân đến chiến trường Điện Biên Phủ vào cuối tháng 1/1954, khi đã "kéo pháo vào trận địa". Ngày 25/1/1954, quân ta chuẩn bị "đánh nhanh, thắng nhanh" trong 2 ngày 3 đêm, tận dụng thời cơ Pháp chưa hoàn thiện trận địa. "Tôi nhớ mãi hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp được quân y dùng lá ngải cứu bọc xung quanh đầu để giảm đau sau một đêm trăn trở suy nghĩ về việc có đánh hay không. Sau cuộc họp Đảng ủy ngày 26/1/1954, Đại tướng quyết định hoãn tấn công, phương án tác chiến được đổi thành "đánh chắc, tiến chắc". Bộ đội lui về địa điểm tập kết, kéo pháo ra, chuẩn bị lại theo cách đánh mới", ông Quyên kể. Ông Quyên và nhiều cựu binh đều cho rằng, trận đồi A1 là trận đánh ác liệt nhất của Chiến dịch Điện Biên Phủ. "30 quả đồi mà địch chiếm đóng thì đa số ta chỉ đánh trong một đêm là giải quyết được, nhưng riêng đồi A1 khiến chúng ta tổn thất rất nhiều", người cựu binh trầm giọng. Theo lời ông Quyên, trong đợt tấn công thứ nhất, quân ta thắng lợi giòn giã. Mở đầu đợt tấn công thứ hai, đêm 30/3/1954, quân ta đồng loạt đánh vào 5 ngọn đồi ở phía đông Mường Thanh là A1, C1, C2, D, E. Đêm ấy, ta diệt gọn 3 cứ điểm C2, D, E, còn đồi C1, A1 hai bên giằng co, mỗi bên giữ một nửa, riêng đồi A1 kéo dài 39 ngày đêm. "Hàng trăm khẩu pháo của ta và địch cùng bắn vào đồi A1 khiến tai của các chiến sĩ rơi vào trạng thái "điếc", không nghe thấy gì. Hiệp đồng và chỉ huy chiến đấu chỉ bằng quan sát ánh lửa đầu nòng súng của người chỉ huy", ông Quyên kể. Cũng trong trận đánh này, ông Lê Quyên bị sức ép của pháo địch làm chảy máu tai, mảnh đạn cũng phạt qua đỉnh đầu. Khi máu chảy lênh láng xuống mặt ông mới biết mình bị thương. Trận đánh đó, quân ta chỉ chiếm được một nửa quả đồi A1, địch phản kích dữ dội khiến quân ta thương vong nhiều, sau đó buộc phải rút về thực hiện chiến thuật vây lấn. Sau những trận đánh giằng co, theo ông Quyên, quân ta bí mật đào một đường hầm đi sâu vào trong lòng đồi A1 và bố trí khoảng 1 tấn thuốc nổ để đến đúng "giờ G" cho nổ, nhằm đánh sập hầm ngầm cố thủ của địch ở đồi A1 cùng một số lô cốt trên sườn phía Tây và Tây Nam của vị trí đó. Hành động này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm nhanh gọn các mục tiêu còn lại trong trung tâm phòng thủ của địch trên cao điểm A1. "Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, tôi khi đó là Đại đội trưởng quay trở về huấn luyện đơn vị tiến lên chính quy hiện đại. Đến cuối năm 1965, cả tiểu đoàn chuyển sang quân khu Việt Bắc để huấn luyện chiến sĩ, tân binh đi B bổ sung cho các chiến trường miền Nam", cựu binh 92 tuổi kết thúc câu chuyện của mình. (Theo ar869056.html) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Chỉ rõ yếu tố thời sự trong đoạn phóng sự trên. Câu 2. Những nhân vật lịch sử nào đã được nhắc đến trong đoạn trích? Câu 3. Việc kết hợp thủ pháp trần thuật và miêu tả để kể lại trận đánh trên đồi A1 nhằm mục đích gì? Câu 4. Qua lời kể của các cựu chiến binh trong đoạn trích, anh/chị cảm nhận được điều gì về hình ảnh những người lính Điện Biên Phủ năm xưa? Câu 5. So sánh điểm giống và khác nhau về đặc sắc nghệ thuật giữa thể loại phóng sự và hồi kí qua hai đoạn trích sau: “Theo lời ông Quyên, ông đặt chân đến chiến trường Điện Biên Phủ vào cuối tháng 1/1954, khi đã "kéo pháo vào trận địa". Ngày 25/1/1954, quân ta chuẩn bị "đánh nhanh, thắng nhanh" trong 2 ngày 3 đêm, tận dụng thời cơ Pháp chưa hoàn thiện trận địa. "Tôi nhớ mãi hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp được quân y dùng lá ngải cứu bọc xung quanh đầu để giảm đau sau một đêm trăn trở suy nghĩ về việc có đánh hay không. Sau cuộc họp Đảng ủy ngày 26/1/1954, Đại tướng quyết định hoãn tấn công, phương án tác chiến được đổi thành "đánh chắc, tiến chắc". Bộ đội lui về địa điểm tập kết, kéo pháo ra, chuẩn bị lại theo cách đánh mới", ông Quyên kể.” (Cuộc hội ngộ trên đồi A1, Theo danh-doi-a1-o-dien-bien-phu-ar869056.html)
  8. “Ngày 1/5, chiến hào đối phương đã trực tiếp tiếp xúc với chúng tôi. Quân số của họ được bổ sung và còn có thêm đầy đủ lực lượng dự bị. Dự trữ đạn cũng đã có đủ. Đối đầu với họ lúc này, chúng tôi chỉ có những đơn vị mệt mỏi và rất thiếu hụt quân số. Một phần pháo binh đã bị phá hủy và đạn cũng rất thiếu. Việt Minh bắt đầu tổng công kích. Sau một ngày chiến đấu, khắp xung quanh khu Trung tâm đều bị đánh chiếm. Những cuộc phản kích của chúng tôi chỉ khôi phục được một phần tình hình. Đứng trước thế phải lựa chọn, hoặc chứng kiến cuộc chiến đấu sẽ nhanh chóng kết thúc, hoặc còn cố thủ được nó rất ít ngày bằng cách tăng cường lực lượng, theo yêu cầu của Tướng Cô-nhi, tôi quyết định ngày 2 tháng 5 sẽ ném xuống Điện Biên Phủ tiểu đoàn dù thứ 5 - Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 (1BPC), nhưng do khu vực nhảy dù đã bị thu hẹp nên chỉ ném xuống được nửa tiểu đoàn”. (Thời điểm của những sự thật, Hồi ký của Tướng Navarre về Điện Biên phủ), Henri Navarre; Nguyễn Huy Cầu dịch, NXB Công an nhân dân – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam) ĐỀ 8 Mồng 2 tháng Chín năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Chủ tịch của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã ra mắt đồng bào như một lãnh tụ lần đầu xuất hiện trước đông đảo quần chúng. Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo ka-ki cao cổ, đi dép cao-su trắng. Mấy ngày hôm trước, một vấn đề được đặt ra là phải có một bộ quần áo để Bác mặc khi Chính phủ ra mắt đồng bào. Cuối cùng, Bác đã chọn bộ quần áo này. Hai mươi bốn năm làm Chủ tịch nước, trong những ngày lễ lớn của dân tộc, trong những cuộc đi thăm nước ngoài, Hồ Chủ tịch bao giờ cũng xuất hiện với một hình ảnh giản dị, không thay đổi. Vẫn bộ quần áo vải, trên ngực không một tấm huân chương, y như lần đầu Bác đã ra mắt đồng bào. Ông Cụ có dáng đi nhanh nhẹn. Dáng đi này cũng làm cho đôi người lúc đó ngạc nhiên. Họ đã không nhìn thấy ở vị Chủ tịch dáng đi trang trọng của những người “sang”. Giọng nói của ông Cụ phảng phất giọng nói của một miền quê đất Nghệ An. Bác đã xuất hiện trước một triệu đồng bào ngày hôm đó như vậy. Lời nói của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc chiết, rõ ràng. Không phải là cái giọng hùng hồn người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng. Nhưng người ta tìm thấy ngay ở đó những tình cảm sâu sắc, ý chí kiên quyết; tất cả đều tràn đầy sức sống; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người. Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại và bỗng dưng hỏi: - Tôi nói, đồng bào nghe rõ không? Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm: - Co.o.ó! Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hòa làm một. Đây là bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa giành được độc lập bằng cuộc chiến đấu suốt tám mươi năm của dân tộc. Đây còn là những lời tâm huyết, đầy cảm kích của đội tiên phong giác ngộ nhất của giai cấp cách mạng nhất, có những người con tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của dân tộc, trước máy chém, trước miệng súng của quân thù, đã từng giật tấm băng đen bịt mắt, hô lớn: “Việt Nam độc lập muôn năm!” Buổi lễ kết thúc bằng những lời thề Độc lập: - Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề:“Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”. - Chúng tôi xin thề:“Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù phải chết cũng cam lòng”. - Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề: Không đi lính cho Pháp Không làm việc cho Pháp Không bán lương thực cho Pháp Không đưa đường cho Pháp Một triệu con người, một triệu tiếng hô cùng hòa làm một. Đó là lời thề của toàn dân kiên quyết thực hiện lời Hồ Chủ Tịch vừa đọc để kết thúc bản Tuyên ngôn:
  9. “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã có từ ba mươi năm trước đây. Nhưng hôm nay mới chính là ngày chế độ thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn dân Việt Nam công khai xét xử. Lịch sử đã sang trang. Một kỉ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. (Trích Những năm tháng không thể nào quên, Võ Nguyên Giáp, NXB Trẻ, 2019, tr.30-33) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Sự kiện lịch sử trong đoạn trích trên được ghi chép lại dựa trên hồi ức của ai? Câu 2. Tính xác thực của thể loại hồi kí được thể hiện qua những yếu tố nào của văn bản? Câu 3. Thủ pháp miêu tả góp phần khắc họa vẻ đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh như thế nào trong đoạn trích? Câu 4. Anh/Chị có nhận xét gì về mối quan hệ giữa sự kiện hiện thực với cảm xúc của người viết? Câu 5. Lời tuyên bố nền độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” có ý nghĩa như thế nào với thế hệ trẻ hôm nay? II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá thủ pháp trần thuật trong đoạn trích hồi kí ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm) Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về việc tự nhận thức bản thân của giới trẻ ngày nay.