Đề cương ôn tập giữa học kì I Ngữ văn Lớp 12

pdf 7 trang An Diệp 11/05/2026 80
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập giữa học kì I Ngữ văn Lớp 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_giua_hoc_ki_i_ngu_van_lop_12.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập giữa học kì I Ngữ văn Lớp 12

  1. ĐỀ CƢƠNG ÔN TẬP GIỮA HỌC KỲ I MÔN: NGỮ VĂN 12 A. CẤU TRÚC ĐỀ THI I. Phần Đọc - hiểu (4,0 điểm): Gồm 5 câu - Chú ý một số thể loại sau: Tiểu thuyết, thơ, văn bản nghị luận - Các mức độ: nhận biết (2 câu), thông hiểu (2 câu), vận dụng (1 câu). II. Phần Viết ( 6,0 điểm): Có 2 câu (viết bài văn) - Câu 1: Viết đoạn văn 200 chữ ( Nghị luận văn học) hoặc nghị luận xã hội - Câu 2: Viết bài văn 600 chữ ( Nghị luận xã hội) hoặc nghị luận văn học B. CÁC CẤP ĐỘ KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG LÀM BÀI I. Phần Đọc - hiểu 1. Phƣơng pháp chung Bước 1: Phải đọc thật kĩ văn bản. Bước 2: Đọc hết các câu hỏi một lượt, đồng thời gạch chân “từ khóa” ở mỗi câu hỏi Bước 3: Lần lượt trả lời từng câu 2. Phƣơng pháp cụ thể với mỗi mức độ câu hỏi:  Ở câu nhận biết: - Cần nắm chắc các thể loại văn học đã được học, thể thơ, nhân vật trữ tình, ngôi kể, điểm nhìn - Nếu yêu cầu tìm từ ngữ, hình ảnh: + Cần đọc kĩ câu hỏi, gạch chân dưới từ ngữ quan trọng. + Đọc văn bản để tìm từ ngữ, hình ảnh liên quan đến nội dung cần trả lời. - Nếu gặp câu hỏi “ Theo tác giả hoặc theo đoạn trích .”: Cách trả lời: Cần tìm đúng cụm từ Sau đó trích nguyên văn ý/ câu văn/ cụm từ/ từ là hoàn thành câu trả lời, ko cần phải thêm, bớt từ hoặc thay đổi cách diễn đạt.  Ở câu thông hiểu: - Câu hỏi yêu cầu trình bày cách hiểu về một câu thơ/ đoạn thơ: + Giải thích những từ ngữ quan trọng + Đưa ra cách hiểu của bản thân theo nghĩa đen, nghĩa bóng của câu thơ/ đoạn thơ. + Rút ra bài học cho bản thân - Nếu gặp câu hỏi “ theo anh/ chị hoặc câu hỏi “tại sao tác giả cho rằng ..”: Câu trả lời sẽ dựa trên ba căn cứ cơ bản sau: + Thứ nhất: Căn cứ vào nghĩa của câu mà tác giả cho rằng + Thứ hai: Căn cứ vào ngữ liệu trên văn bản + Thứ ba: Căn cứ vào sự hiểu biết của chúng ta - Nếu yêu cầu chỉ ra biện pháp tu từ và nêu tác dụng + Bước 1: Gọi tên BPTT và chỉ ra biểu hiện của biện pháp tu từ + Bước 2: Phân tích tác dụng: Cần phân tích được tác dụng của biện pháp tu từ trên 3 phương diện: Nghệ thuật (Trả lời cho câu hỏi: biện pháp tu từ ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện hình thức nghệ thuật của văn bản?) Nội dung (Trả lời cho câu hỏi: biện pháp tu từ ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung của văn bản?). Thường bắt đầu bằng các từ khóa: Thể hiện/ Khắc họa, Nhấn mạnh/ Khẳng định Tư tưởng (Trả lời cho câu hỏi: Qua biện pháp tu từ ấy, tác giả thể hiện tình cảm, cảm xúc, thái độ gì?).  Ở câu vận dụng: Câu trả lời hoàn toàn do nhận thức, cách nghĩ của chúng ta.
  2. - Nếu yêu cầu rút ra thông điệp/ bài học: Tự rút ra ý nghĩa của văn bản rồi chọn đó làm thông điệp. Sau đó đều phải lí giải vì sao anh/ chị chọn thông điệp đó. (Lưu ý: Đây là câu hỏi vận dụng, có độ phân hóa cao, nên dù câu hỏi không yêu cầu giải thích vì sao, hs vẫn phải lí giải) - Nếu yêu cầu nêu lên điều anh/chị tâm đắc, hoặc một số việc làm cụ thể: Câu trả lời hoàn toàn dựa trên sự hiểu biết của hs, cần nêu được ít nhất ba nội dung, rõ ràng, tránh dài dòng. - Dạng câu hỏi: Anh/chị có đồng tình với ý kiến/ quan điểm không? Vì sao? + Bước 1: Thể hiện rõ quan điểm cá nhân: đồng tình/ không đồng tình/ nửa đồng tình, nửa ko đồng tình. + Bước 2: Đưa ra những lí lẽ để làm sáng tỏ cho quan điểm của mình (lí giải) Giải thích từ ngữ quan trọng Nếu không có...thì sẽ .....(hướng xấu) Nếu có....thì sẽ .....(kết quả tốt) II. Phần Viết 1. Dàn ý viết đoạn văn nghị luận văn học/ nghị luận xã hội a. Dàn ý viết đoạn văn nghị luận văn học * Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận * Thân đoạn: - Phân tích luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận - Dùng dẫn chứng để chứng ming * Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề b. Dàn ý viết đoạn văn nghị luận xã hội * Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận * Thân đoạn: Giải thích/ Biểu hiện/ Vai trò/ Giải pháp * Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề 2. Dàn ý viết bài văn nghị luận xã hội/ nghị luận văn học a. Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ MB: Giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, nêu quan điểm của người viết về vấn đề đó. TB: - Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận. - Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Vì sao vấn đề này thiết yếu đối với tuổi trẻ? Vấn đề gợi cho tuổi trẻ những suy nghĩ và hành động như thế nào? Cần có những điều kiện gì để tuổi trẻ thực hiện yêu cầu mà vấn đề nêu ra?). - Với từng luận điểm, cần dùng lí lẽ và bằng chứng phù hợp để lập luận nhằm tạo nên sức thuyết phục của bài viết. - Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề, bác bỏ ý kiến trái ngược để củng cố quan điểm của mình. - Định hướng hành động của bản thân sau khi nhận thức về vấn đề. KB: Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân. b. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ MB: Giới thiệu ngắn gọn về hai bài thơ và nêu cơ sở lựa chọn để so sánh, đánh giá. TB: - Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,... - Có thể triển khai các nội dung so sánh, đánh giá theo những cách sau:
  3. + Cách 1: Lần lượt phân tích từng bài thơ, sau đó chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ và những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó; đồng thời đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. + Cách 2: Phân tích bài thơ thứ nhất theo các phương diện đã xác định, khi phân tích bài thơ thứ hai sẽ so sánh với bài thơ thứ nhất theo từng phương diện và lí giải nguyên nhân của những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai bài thơ, từ đó, đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ. + Cách 3: So sánh lần lượt các phương diện đã lựa chọn đối với hai bài thơ, chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt; lí giải nguyên nhân sự tương đồng và khác biệt đó; đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ từ các nội dung so sánh. - Đánh giá: + Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm. KB: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng của bản thân về các bài thơ.Khẳng định sự đóng góp của hai tác phẩm, hai tác giả. c. Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá so sánh hai tác phẩm truyện MB: Giới thiệu hai tác phẩm truyện được xác định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá; nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh giá này. TB: Luận điểm 1. Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,... Luận điểm 2. Những điểm tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy Luận điểm 3. Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm. KB: Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh. LƢU Ý VIỆC LẤY DẪN CHỨNG CHO KIỂU BÀI NL XÃ HỘI: - Lấy dẫn chứng theo cấu trúc sau: + Tên nhân vật VD: Thomas Edison + Sự việc VD: từng thất bại 10.000 lần thất bại trước khi phát minh ra bóng đèn điện + Bàn luận VD: Thế nên cần đối mặt với thất bại và luôn kiên trì, bền bỉ khắc phục thất bại để tìm ra hướng đi đến thành công. - Một bài văn nên lấy từ 2 dẫn chứng, khi lấy dẫn chứng cần chính xác, mới mẻ, thuyết phục tránh nói chung chung không cụ thể. C. ĐỀ MINH HỌA Đề 1: I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc đoạn trích: Đã bao lần bạn có ý định bỏ cuộc khi gặp những khó khăn, trắc trở? Đã bao lần bạn muốn buông xuôi khi đối diện những biến cố không may, những sai lầm thất bại? Và bao lần bạn suýt bật khóc vì đã chạm tay đến cánh cửa thành công, nhưng rồi cánh cửa ấy không mở ra với bạn? Rồi bao lần, những tổn thương và sợ hãi đã nhốt bạn ở bên trong một vòng tròn mà bạn tự vẽ ra quanh mình, khiến bạn không bao giờ dám bước chân ra khỏi vòng tròn ấy, đến với thế giới mênh mông bên ngoài?...(1)
  4. Thực ra điều bạn không biết chính là, ngay từ thiếu thời, chúng ta đã sẵn có một sức mạnh tiềm ẩn lớn lao và không bị giới hạn; nhưng thời gian trôi qua, chúng ta lại lãng quên và những điều khác đã khiến chúng ta không quan tâm đến việc tìm lại vốn quý đã từng hiện hữu đó (2). Mỗi một nghịch cảnh trong đời chính là cơ hội quý báu để bạn tìm ra chìa khoá mở cánh cửa đến với ước mơ sâu thẳm của mình. Cuộc đời vốn dĩ có muôn vàn thử thách níu chân mỗi người: Gia cảnh, khó khăn, số phận không may, những khuyết tật bẩm sinh, biến cố, đau đớn, thất bại ê chề Nhưng hãy tin rằng, mỗi một lần bạn bước qua một thử thách chính là bạn đang bước thêm một bước trên nấc thang tươi đẹp của tương lai. Chính trong nghịch cảnh và gian nan, bạn sẽ có thể hoàn thiện chính mình....(3) (Trích Lời giới thiệu cuốn sách Đánh thức khát vọng, Nhiều tác giả, First News tổng hợp, trang 6,7) Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì? Câu 2. Theo tác giả, cuộc đời vốn dĩ có những thử thách nào níu chân mỗi người? Câu 3. Biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong đoạn văn sau có tác dụng gì? “Đã bao lần bạn có ý định bỏ cuộc khi gặp những khó khăn, trắc trở? Đã bao lần bạn muốn buông xuôi khi đối diện những biến cố không may, những sai lầm thất bại? Và bao lần bạn suýt bật khóc vì đã chạm tay đến cánh cửa thành công, nhưng rồi cánh cửa ấy không mở ra với bạn?” Câu 4. Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến: Chính trong nghịch cảnh và gian nan, bạn sẽ có thể hoàn thiện chính mình? Câu 5. Bài học sâu sắc nhất mà anh/chị nhận được qua đoạn trích là gì? Vì sao? II. VIẾT (6.0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi Tuổi trẻ cần làm gì để vượt lên nghịch cảnh? Câu 2 (4,0 điểm) Đọc hai đoạn thơ sau: (1) Lũ chúng tôi (2) Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Bọn người tứ xứ, Chiến sĩ anh hùng Gặp nhau hồi chưa biết chữ Đầu nung lửa sắt Quen nhau từ buổi “Một hai” Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, Súng bắn chưa quen, mưa dầm, cơm vắt Quân sự mươi bài Máu trộn bùn non Lòng vẫn cười vui kháng chiến Gan không núng Lột sắt đường tàu, Chí không mòn! Rèn thêm đao kiếm, Những đồng chí thân chôn làm giá súng Áo vải chân không, Đầu bịt lỗ châu mai Đi lùng giặc đánh. Băng mình qua núi thép gai Ba năm rồi gửi lại quê hương, Ào ào vũ bão, Mái lều gianh, Những đồng chí chèn lưng cứu pháo Tiếng mõ đêm trường, Nát thân, nhắm mắt, còn ôm... Luống cày đất đỏ Những bàn tay xẻ núi lăn bom Ít nhiều người vợ trẻ Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường Mòn chân bên cối gạo canh khuya. tiếp viện (Trích Nhớ, Hồng Nguyên, Tập thơ Thơ Việt Và những chị, những anh ngày đêm ra tiền Nam 1945-1985 do Nguyễn Đức Nam chủ biên, tuyến NXB Giáo dục 1985, tr30) Mấy tầng mây gió lớn mưa to
  5. Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát Dù bom đạn xương tan, thịt nát Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh... (Trích Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Thơ Tố Hữu, NXB Văn học, trang 207,208) Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hình tượng người lính trong hai đoạn thơ trên. Từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đề 2: I. ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm): Đọc văn bản: Mẹ đào hầm từ thuở tóc còn xanh nay mẹ đã phơ phơ bạc đầu mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh. Đất nước mình hai mươi năm chiến tranh tiếng cuốc năm canh nặng tình đất nước hầm mẹ giăng như luỹ như thành che chở mỗi bước chân con bước. Đất quê ta mênh mông quân thù không xăm hết được lòng mẹ rộng vô cùng mẹ giấu cả sư đoàn dưới đất nơi hầm tối lại là nơi sáng nhất nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam.[ ] Đất quê ta mênh mông lòng mẹ rộng vô cùng. 9-1967 (Trích “Đất quê ta mênh mông”, Bùi Minh Quốc) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. (0,75 điểm) Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích. Câu 2. (0,75 điểm) Xác định nhân vật trữ tình trong đoạn trích. Câu 3. (0,75 điểm) Phân tích tác dụng của việc lặp lại 2 dòng thơ Đất quê ta mênh mông lòng mẹ rộng vô cùng trong 2 khổ cuối. Câu 4. (0,75 điểm) Nêu ý nghĩa biểu tượng của chi tiết tiếng cuốc đào hầm trong bài thơ. Câu 5. (1,0 điểm) Một bài học sâu sắc nhất mà anh/chị rút ra từ văn bản. II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của anh/chị về ý nghĩa của việc tự nhận thức bản thân. Câu 2 (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau:
  6. Mẹ đào hầm từ thuở tóc còn xanh nay mẹ đã phơ phơ bạc đầu mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh. Đất nước mình hai mươi năm chiến tranh tiếng cuốc năm canh nặng tình đất nước hầm mẹ giăng như luỹ như thành che chở mỗi bước chân con bước. (Trích “Đất quê ta mênh mông”- Bùi Minh Quốc) Những tấm áo xưa con nhớ lắm Mũi chỉ đường kim tay mẹ dịu dàng Tuổi thơ đâu những trưa hè xanh thẳm Tuổi thơ nằm trong áo nhỏ yêu thương Con lớn thêm áo cũng lớn thêm Mỗi bận mùa đông đi, trời bớt lạnh Mưa xuân rơi, hoa cải vàng sắc nắng Mẹ dành tiền may áo mới cho con (Trích Áo - Lưu Quang Vũ) Đề 3: I. ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở để biết nỗi đau đã hóa thành ta một phần không lìa bỏ Nhưng chúng ta ở đây cũng đồng thời chứng tỏ bản thân ta giàu sức mạnh hồi sinh và tương lai luôn có chỗ cho mình cũng như cho những con người can đảm dám đối diện thay vì chán nản xắn tay làm chứ không đợi ban ơn biết mỉm cười thay vì chỉ thở than kiên nhẫn đi tìm cánh cửa mình cần mở Không hắt hủi cuộc đời, kể cả những nỗi đau lựa chọn sống thế nào, hơn là sống bao lâu Chúng ta ở đây, phút này, đang còn thở (Chúng ta ở đây, phút này , Nguyễn Bích Lan, Sống trong chờ đợi, Truyện ngắn và thơ, NXB Phụ nữ Việt Nam, tr.82) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ. Câu 2. Tìm ba từ, cụm từ cho thấy sự vươn lên của con người trong cuộc sống. Câu 3. Nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong bài thơ. Câu 4. Anh/ Chị hiểu những dòng thơ sau như thế nào? Không hắt hủi cuộc đời, kể cả những nỗi đau
  7. lựa chọn sống thế nào, hơn là sống bao lâu Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất mà Anh/ Chị rút ra từ bài thơ là gì? II. PHẦN VIẾT(6,0 điểm) Câu .1 (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích bức tranh xuân được Xuân diệu khắc họa trong đoạn thơ sau: Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi. Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân. (Trích Vội Vàng, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2000, tr.121) Tác giả: Xuân Diệu (1916 – 1985), tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu Năm 1937, Xuân Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo, là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn. Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca đương đại một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân đầy sáng tạo. Câu 2. (4,0 điểm) Trong Hội nghị báo cáo toàn quốc tổng kết công tác tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp, nhiệm kì (2020 – 2025) tại Hà Nội tháng 11 năm 2020, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói: “Cái quý giá nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống. Bởi vì đời người chỉ sống có một lần, phải sống làm sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, mang lại tai tiếng, bị mọi người khinh bỉ, để đến khi nhắm mắt xuôi tay ta có thể tự hào rằng ta đã sống có ích, đã mang tất cả đời ta, tất cả sức ta hiến dâng cho sự nghiệp cao cả nhất của đời, vì vinh quang của Tổ quốc, của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.” Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về lẽ sống đẹp của tuổi trẻ hiện nay..