Đề tài Tiếp cận trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ từ đặc trưng thể loại

pdf 25 trang An Diệp 13/06/2026 180
Bạn đang xem tài liệu "Đề tài Tiếp cận trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ từ đặc trưng thể loại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_tai_tiep_can_trich_doan_kich_hon_truong_ba_da_hang_thit_c.pdf

Nội dung tài liệu: Đề tài Tiếp cận trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ từ đặc trưng thể loại

  1. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ Đề tài Tiếp cận trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của tác giả Lưu Quang Vũ từ đặc trưng thể loại Mục lục Báo cáo gồm 3 phần Phần I. Lí do chọn đề tài Từ vị trí bài học trong chương trình Từ thực tế giảng dạy văn bản Phần II. Nội dung chính A. Tìm hiểu những yếu tố ngoài văn bản I. tác giả II. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm III. Đặc điểm của thể loại bi kịch B. Tiếp cận văn bản theo đặc trưng thể loại I. Sự vận dụng và sáng tạo cốt truyện dân gian ở vở kịch II. Xung đột kịch thể hiện trong trích đoạn. III. Nhân vật bi kịch: Trương Ba IV. Những giá trị của trích đoạn kịch Phần III. Những kinh nghiệm rút ra cho bài dạy học kịch
  2. Phần I. Lí do chọn đề tài 1. Vị trí của thể loại kịch trong chương trình ngữ văn phổ thông Kịch là một thể loại văn học. Cùng với tự sự, trữ tình, nghị luận, kịch làmnênsự phong phú, đa dạng cho nghệ thuật ngôn từ. Trong chương trình ngữ văn trung học, chúng tôi nhận thấy các tác phẩm thuộc thể loại kịch đã được đưa vào thành mộthệ thống, có số lượng khá cân đối so với ba thể loại văn học còn lại. Chúng tôi đã khảo sát, thống kê như sau: STT Lớp Bài học 1 7 Nỗi oan hại chồng ( trích Quan Âm Thị Kính- Dân gian Việt Nam) 2 8 Ông Giuốc đanh mặc lễ phục (trích Trưởng giả học làm sang- Môlie) 3 9 Bắc sơn (trích)- Nguyễn Huy Tưởng Tôi và chúng ta (trích)- Lưu Quang Vũ 4 11 Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô- Nguyễn Huy Tưởng) Tình yêu và thù hận (trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét- Secxpia) 5 12 Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích)- Lưu Quang Vũ Có thể thấy, đây là một sự đổi mới tích cực, đúng đắn của chương trình ngữ văn trung học. Bởi trong khoảng thời gian dài trước đây học sinh chỉ biết đến những bài thơ, truyện ngắn mà không biết đến những vở kịch. Họa chăng được giới thiệu một vài tác phẩmnổi tiếng của các nhà viết kịch nước ngoài. Còn các tác phẩm kịch của Việt Nam hầu nhưvắng bóng trong chương trình. Theo chúng tôi, đó là một sự bất công đối với kịch và nhất là kịch của nước nhà. Phải chăng là kịch của chúng ta không có sức hấp dẫn hay giá trị cònnon kém? Nếu ai đã từng băn khoăn trước câu hỏi của Hăm-lét Tồn tại hay không tồn tại? thì cũng không thể không trăn trở trước câu hỏi bi thiết của Vũ Như Tô Trời hỡi, phú cho ta cái tài để làm gì? không thể không giằng xé trước tình trạng linh hồn một đằng, thể xác một
  3. nẻo của Trương Ba. Rõ ràng, kịch Việt Nam đã có những tác phẩm đặc sắc, rung động, lay động cảm xúc và suy tư sâu xa cho người đọc. Vì thế kịch chiếm một vị trí trong chương trình là hoàn toàn xứng đáng, cần thiết. 2. Thực tế giảng dạy trích đoạn kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt Trích đoạn kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt được đưa vào giảng dạy trong chương trình ngữ văn 12 cùng với ba tác phẩm khác thuộc các thể loại khác nhau (thơ- Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo), kí- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường), truyện ngắn – Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), tạo nên chùm tác phẩm văn học VN sau 1975. Nhìn chung, khi tiếp cận các tác phẩm văn học sau 1975 gặp những thuận lợi và khó khăn : Những vấn đề được phản ánh trong tác phẩm gần gũi, ngôn ngữ, cách nói quen thuộc với đời sống đương đại, tuy nhiên, chưa có độ lùi thời gian kiểm định nên nhiều bộn bề, không thống nhất cách đánh giá, những cái mới không dễ tiếp nhận...Trong đó, riêng thể loại kịch vẫn khó tiếp cận hơn bởi những đặc trưng của nó. Không trình bày cuộc sống dưới dạng văn xuôi liền mạch, không xây dựng nhân vật bằng hình ảnh miêu tả, kịch nói bằng lời thoại, hành động bằng lời thoại, suy tư bằng lời thoại, diễn tiến nội dung cũng qua lời thoại. Mà lời thoại kịch chủ yếu lại là đối thoại, các nhân vật trò chuyện với nhau. Người đọc, xem phải tập trung để hiểu họ nói gì? Nói để làm gì? Nói thế nghĩa là gì? Tức là luôn cần phải tư duy tổng hợp. Học sinh thường lúng túng không biết phải bắt đầu phân tích nhân vật kịch từ đâu? dẫn chứng lấy ở đâu? Thực tế giảng dạy trích đoạn cho thấy, người học có thể tìm hiểu từng màn đối thoại của các nhân vật, song lại khó khăn khi phải xâu chuỗi vấn đề: xung đột kịch biểu hiện ra sao? Hồn Trương Ba mang những bi kịch nào? Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những vấn đề trên là do trong quá trình tiếp nhận đã không bám sát theo đặc trưng của thể loại, phương pháp đọc hiểu kịch. Bởi những lẽ trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một phương pháp tiếp cận văn bản kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt từ đặc trưng thể loại, với mục tiêu giải quyết những khó khăn, lúng túng cho người học khi tiếp nhận. Cùng với sáng kiến kinh nghiệm chúng tôi đã làm năm 2012 cũng với thể loại kịch: Dạy trích đoạn kịch Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài theo đặc
  4. trưng thể loại, chúng tôi sẽ khái quát thành phương pháp đọc hiểu chung cho các văn bản kịch trong nhà trường. Phần II. Nội dung chính A. Tìm hiểu những yếu tố ngoài văn bản I. Tác giả 1. Cuộc đời, con người Lưu Quang Vũ là người nghệ sĩ có tâm hồn không yên ổn. Tâm hồn anh dằn vặt cuộc đời anh, mang thân phận của một con ong bay giữa trời lận đận: mảnh vườn riêng và chiến trường chung, hoang mang hoài nghi và tin yêu đắm đuối, ngược xuôi mưu sinh và xông pha nghệ thuật, thơ và kịch, đỉnh cao vinh quang và đáy thẳm vô biên...những gì anh để lại không phải là những điệu hát buồn mà là gió và tình yêu thổi mãi trên quê hương, xứ sở, đất nước mình. 2. Sự nghiệp Trước khi đến với kịch, Lưu Quang Vũ từng làm thơ, sáng tác truyện ngắn, vẽ tranh. Thơ Lưu Quang Vũ giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao và luôn đắm đuối. Nhiều bài được bạn đọc yêu thích như: Tiếng Việt, Vườn trong phố, Bầy ong trong đêm sâu , Và anh tồn tại... Phải đến với kịch, nguồn sáng tạo của Lưu Quang Vũ mới khơi trào bùng phát mạnh mẽ. Trong khoảng 10 năm (1978-1988), anh sáng tác trên 50 kịch bản, những vở kịch gây chấn động dư luận như: Nàng Xita, Lời thề thứ 9, Nếu anh không đốt lửa, Bệnh sĩ, Chết cho điều chưa có, Tôi và chúng ta... làm mưa làm gió trên sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX, trở thành môt hiện tượng nghệ thuật đặc biệt, một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Trong kịch của anh có mặt nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực cuộc sống khác nhau. Từ đề tài công nghiệp (Tôi và chúng ta, Khoảnh khắc và vô tận...) đến đề tài nông nghiệp (Bệnh sĩ). Từ ngành y (Nguồn sống trong đời, Vi khuẩn Hanxen) đến ngành giáo dục (Mùa hạ cuối cùng, Tin ở hoa hồng), từ hậu phương đến tiền tuyến (Lời thề thứ 9, Điều không thể mất), từ thành thị đến nông thôn, từ chiến tranh đến hòa bình...tất cả đều được hiện lên trong kịch của Lưu Quang Vũ với một ý nghĩa xã hội sâu sắc. Sở dĩ kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn người xem là bởi kịch của anh bắt đúng mạch của cuộc sống, đáp ứng được những điều mà mọi
  5. người trăn trở, những tâm sự đau đớn của khán giả...anh có khả năng biến những chi tiết đời thường thành điển hình nghệ thuật; kết hợp sự phê phán mạnh mẽ quyết liệt và chất trữ tình đằm thắm bay bổng... Với những đóng góp của mình, năm 2000 Lưu Quang Vũ được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. II. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt được viết năm 1981, ra mắt công chúng năm 1984, ngay lập tức gây được tiếng vang không chỉ trong nước mà còn ngoài nước. Thời điểm này đang diễn ra sự biến động mãnh liệt của cuộc sống, yêu cầu đổi mới bức thúc. Ngọn gió của không khí đổi mới tư duy, ý thức dân chủ trong đời sống xã hội đã ùa vào văn học. Hiện thực được phản ánh giờ đây phải có tính đa diện, đa chiều. Số phận con người, vấn đề cá nhân cần được khám phá thể hiện đầy đủ, sâu sắc hơn. Mặt khác, văn học cần phải tham gia vào cuộc đối thoại trực tiếp trong bầu khí dân chủ với công chúng về những vấn đề nóng bỏng của đời sống hôm nay. Đấu tranh chống tiêu cực trở thành cảm hứng nhiệt thành của khá nhiều người cầm bút, khá nhiều tác phẩm. Sáng tác kịch bản, đời sống sân khấu thời kì này cũng nằm trong không khí cởi mở, sôi động trên. Đối với Lưu Quang Vũ, không khí chính trị thuận lợi như thế đã tạo nên không gian bao la để phát huy tài năng sáng tạo. Trước đó Lưu Quang Vũ đã trăn trở tìm tòi và không ít loay hoay, dằn vặt mà chưa thấy thực sự được thỏa mãn, tiếng nói thơ anh dù đắm đuối vẫn thấy thiếu một cái gì đó. Vừa do độ hẹp của cái tôi cá nhân vừa do độ hẹp của tư tưởng chính trị. Không được nói những gì mình nghĩ. Đất nước được giải phóng nhưng con người chưa thực sự được giải phóng, nhất là người nghệ sĩ, vẫn phải sống ba phần cho nhiệm vụ, chỉ có một phần cho mình. Bây giờ, cánh cửa đã mở toang, anh được giải phóng, Lưu Quang Vũ hân hoan nhập cuộc, say sưa bày tỏ tất cả tâm hồn và khát vọng chân thật của mình. Vở kịch đã được viết trong xu hướng đổi mới, trong cảm hứng nghệ thuật mới đó: phát huy cá tính sáng tạo của người cầm bút, thẳng thắn phê phán những hiện tượng, lối sống tiêu cực, nói những điều không phải ai cũng dám nói, khám phá sâu sắc bi kịch cá nhân con người. Đặt vào hoàn cảnh văn học chung và hành trình riêng của tác giả, ta chợt hiểu câu nói của nhân vật Trương
  6. Ba: Tôi muốn được là tôi toàn vẹn đâu phải là khát vọng của riêng Trương Ba, đó còn là đòi hỏi của bao người, trước hết là của Lưu Quang Vũ: muốn được sống thật là chính mình. III. Thể loại bi kịch Bi kịch là một thể của loại hình kịch (đối lập với thể hài kịch). Ngoài những đặc điểm chung của loại hình kịch, bi kịch còn mang những đặc điểm riêng của thể. Những đặcđiểm riêng này chủ yếu được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột và nhân vật. Xung đột bi kịch được tạo dựng từ những mâu thuẫn “không thể giải quyết” được; mọi cách khắc phục mâu thuẫn đều dẫn đến “sự diệt vong những giá trị quan trọng”. Nhân vật chính của bi kịch thường là những anh hùng. Nhân vật bi kịch là những con người có những say mê, khát vọng lớn lao; đồng thời đôi khi còn có cả những sai lầm trong hành động và suy nghĩ. Kết thúc bi thảm của số phận nhân vật bi kịch thường cóýnghĩa thức tỉnh khơi gợi tình cảm nhân văn của mỗi con người. Soi vào đặc điểm trên, ta có thể khẳng định Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một bi kịch hiện đại, dù nhân vật Trương Ba không phải là anh hùng kiệt xuất mà chỉ là con người nhỏ bé bình thường nhưng mang bi kịch nhân sinh đau đớn vẫn có sức khái quát sâu sắc về lẽ sinh tử ở đời. B. Tìm hiểu trích đoạn I. Sự vận dụng sáng tạo dân gian của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt được Lưu Quang Vũ sáng tác theo hướng khai thác cốt truyện dân gian để gửi gắm những suy ngẫm về nhân sinh về hạnh phúc kết hợp phê phán một số tiêu cực trong lối sống hiện thời. Truyện cổ dân gian được kể như sau: Có ông Trương Ba rất cao cờ một hôm đột ngột chết. Tiếc tài đánh cờ của người nông dân ấy, tiên Đế Thích dùng phép cho hồn Trương Ba nhập vào xác một anh hàng thịt để tiếp tục sống. Vậy là xảy ra chuyện tranh chấp chồng giữa hai bà vợ, phải đưa lên quan xử. Quan tiến hành phân xử bằng cách lệnh cho đương sự lần lượt làm hai việc: mổ lợn và đánh cờ. Đương sự thậm chí không biết cầm dao mổ lợn song lại rất thành thạo trong việc đánh cờ. Quan đành quyết định cho bà vợ Trương Ba mang chồng về. Kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt diễn biến như sau: 7 cảnh
  7. Cảnh 1: Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích trên thiên đình Nam Tào, Bắc Đẩu ngồi làm việc điểm tên những người phải chết trong một ngày. Đế Thích vua cờ trên thiên đình đến tỏ ý muốn xuống hạ giới tìm người cao cờ đánh chơi. Vì vội đi dự tiệc ở dinh Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào vội gạch bừa một người có tên là Trương Ba. Cảnh 2: Trương Ba (vốn là người rất cao cờ) đang chăm vườn và trò chuyện cùng người thân thì có Trưởng Hoạt đến chơi cờ. Lúc Trưởng Hoạt lâm vào thế bí Trương Ba vỗ đùi nói chỉ Đế Thích mới gỡ nổi. Đế Thích xuất hiện gỡ thế cờ. Đế Thích cho Trương Ba mấy nén hương dặn cách sử dụng khi cần gặp mình. Sau đó, Trương Ba đột ngột qua đời. Cảnh 3: Cảnh thiên đình Vợ Trương Ba lên thiên đình, biết chuyện Nam Tào gạch ẩu tên chồng, đòi trả mạng sống cho chồng mình. Đế Thích khuyên Bắc Đẩu, Nam Tào sửa sai bằng cách cho hồn nhập vào xác anh hàng thịt. Cảnh 4: Người nhà hàng thịt Xác anh hàng thịt đang nằm trong quan tài bỗng đột nắp quan tài lên, đòi về nhà Trương Ba. Mọi người đầu tiên ngỡ ngàng, sau đó đành chấp nhận để anh hàng thịt về theo vợ Trương Ba vì sự thật trong thể xác anh hàng thịt đúng là có hồn Trương Ba. Cảnh 5: Nhà Trương Ba Mọi rắc rối bắt đầu xảy ra. Lí trưởng đến sách nhiễu khiến con trai Trương Ba phải hối lộ mới cho phép Trương Ba phải ở nhà hàng thịt đến nửa đêm mới được về nhà mình Cảnh 6: Nhà hàng thịt Đêm đã khuya, hồn Trương Ba giúp chị hàng thịt mổ lợn, pha thịt xong, chuẩn bị về thì vợ hàng thịt mời cơm và định giữ lại. Hồn bị xác xui khiến lúc đầu định xuôi theo nhưng rồi vượt qua phút lưỡng lự, gỡ tay chị ta, trở về nhà. Cảnh 7: Nhà Trương Ba Trưởng Hoạt sang than phiền Trương Ba thay tính đổi nết. Lí trưởng lại đến sách nhiễu, con trai hư hỏng...bản thân Trương ba cũng thấy bất lực với chính mình. Cuộc đối thoại giữa hồn và xác diễn ra, hồn tuyệt vọng vô bờ trước sự lấn át của xác. Hồn tìm sự níu giữ ở người thân nhưng vợ thì định bỏ đi, cháu không nhận ông nội, con dâu xót xa vì bố chồng không
  8. còn như xưa...Hồn Trương Ba gọi Đế Thích xuống, quyết chết hẳn để không phải tiếp tục sự tồn tại quái gở: Hồn Trương Ba da hàng thịt. Phần kết: Hồn Trương Ba nhập vào màu xanh cây cối trong vườn. Cu Tị và cái Gái ăn na và gieo hạt cho nó mọc thành cây mới. So sánh phần kể của truyện dân gian và nội dung của vở kịch ta dễ nhận thấy Lưu Quang Vũ mượn phần đầu, nối thêm phần sau và thay đổi kết thúc. Sử dụng cốt truyện dân gian: hồn Trương Ba sống lại trong xác hàng thịt, những chi tiết hoang đường kì ảo: người chết sống lại, không gian Thiên đình, các nhân vật thần tiên..., làm vở kịch lung linh vẻ đẹp cổ tích. Nhưng soi chiếu nó dưới một góc nhìn khác, một ánh sáng thực của cuộc sống hiện đại để nó phơi bày tất cả những phiền toái đa đoan của số phận con người không giản đơn như cổ tích. Thực chất, xung đột kịch bắt đầu từ nơi kết thúc yên ổn của truyện dân gian: sau khi được công nhận hợp pháp trú ngụ trong thân xác hàng thịt, hồn Trương Ba bắt đầu gặp những phiền nhiều từ hoàn cảnh bên ngoài đưa tới và nảy sinh từ trong chính mình. Không thể tự làm chủ được bản thân, bị tiếng nói thân xác xui khiến, dụ dỗ, linh hồn lệch lạc, nhòe mờ dần, đến nỗi những người thân yêu còn thấy xa lạ, cự tuyệt. Lâm vào tình cảnh trớ trêu, đau đớn, hồn Trương Ba tự đi đến một quyết định nghiệt ngã: chết hẳn để thoát khỏi bi kịch. Kết thúc không có hậu đó đi theo lô-gic của cuộc đời không phải là cổ tích, là một cách để tác giả kịch đối thoại với cổ tích, đề xuất những triết lí mới. Cổ tích cho rằng được sống hạnh phúc, phần tâm hồn quyết định diện mạo của con người, thân xác không có giá trị. Lưu Quang Vũ thì cho rằng: Được sống chưa phải là hạnh phúc, sống như thế nào mới quyết định hạnh phúc con người. Không thể hạnh phúc nếu bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Trong con người, phần tâm hồn quyết định. Nhưng thân xác cũng có tiếng nói và tác động trở lại tâm hồn. Đó là những sự vận dụng sáng tạo của Lưu Quang Vũ: viết lại cổ tích, đối thoại với cổ tích. Ngoài ra, có thể điểm thêm một vài yếu tố khác cho thấy sự sáng tạo của tác giả kịch: Nhân vật Trương Ba trong dân gian là nhân vật loại hình, chức năng. không có tính cách, không có suy nghĩ nội tâm. Trương Ba ở kịch là nhân vật bi kịch, được khai thác sâu sắc toàn diện tính cách, hành động, tâm trạng, suy nghĩ, ý thức, tư tưởng...
  9. Sự vận dụng sáng tạo này đã tạo nên sức hấp dẫn của vở kịch: kết hợp truyền thống và hiện đại. Đó cũng là quy luật của sáng tạo trên nền tảng kế thừa, phát huy, từ dân gian đến hiện đại, cổ tích đến cuộc đời. II. Xung đột kịch thể hiện trong trích đoạn Xung đột kịch là mâu thuẫn không thể hòa giải, mọi cách giải quyết đều dẫn tới diệt vong các giá trị quan trọng. Xung đột kịch diễn tiến theo bốn bước: Mở đầu- phát triển- cao trào- giải quyết. Trong vở kịch, không có xung đột giữa sống và chết dù bắt đầu từ việc sống chết của nhân vật Trương Ba. Xung đột của kịch là phần bên trong- hồn Trương Ba với phần bên ngoài- xác hàng thịt.. Xung đột nảy sinh từ khi hồn Trương Ba vốn thanh cao nhân hậu trong sạch thẳng thắn được sống lại nhưng phải sống nhờ, sống gửi trong thân xác không phải của mình là xác hàng thịt, kẻ thô phàm. Xung đột phát triển cùng những rắc rối do sự tồn tại trái khoáy mang lại: hồn phải ở nhà hàng thịt bị cám dỗ bởi những lạc thú vật chất suýt sa ngã, những nước cờ cũng trở nên tủn mủn, tầm thường, hành động trở nên vụng về, thô lỗ, hồn nhìn thấy những điều đó nhưng bất lực. Xung đột cao trào ở cuộc đối thoại giữa hồn và xác, hồn và những người thân; xung đột được giải quyết ở màn đối thọai giữa Trương Ba và Đế Thích. Như vậy, đoạn trích là phần cao trào và giải quyết xung đột. 1. Xung đột thể hiện trong màn đối thoại giữa Hồn và Xác Hồn Trương Ba vô cùng đau khổ khi nhận thấy mình đang trở nên lệch lạc, mất mát, không làm chủ được bản thân. Cái phần thanh cao trong hồn đang bị cái phần thô phàm của xác điều khiển, lấn lướt. Hồn cảm thấy chán ngán. Lời độc thoại của hồn “Tôi chán cái chỗ ở không phải của tôi lắm rồi, chán lắm rồi..” cho thấy trạng thái chán chường, mệt mỏi, bức bối, ngột ngạt đến cùng tận của hồn. Chứng tỏ hồn đâu có sung sướng gì khi phải thỏa mãn những đòi hỏi của thân xác, hồn vẫn có ý thức riêng về bản thân mình, vẫn cố gắng chống lại sự lấn át của xác. Vì thế, xung đột hồn và xác càng căng thẳng, quyết liệt. Hồn thì muốn tồn tại độc lập trong xác, Xác thì muốn hồn chiều theo đòi hỏi của xác, quy phục xác. Diễn biến Hồn Xác Nhận xét 6 lời thoại Cao giọng phủ nhận: mày Tuyên chiến trước, phủ định: Tình thế của đối
  10. đầu không có tiếng nói, mày chỉ là vô ích, ông không tách ra thoại nghiêng về xác thịt âm u đui mù, mày chỉ khỏi tôi được đâu, cười nhạo: phía hồn. Hồn làm là cái vỏ bên ngoài không có tư có đấy...lắm khi át cả linh chủ được lí lẽ, tưởng không có cảm xúc, chỉ là hồn cao khiết của ông đấy. công kích gay gắt những thấp kém.. Giọng của xác: cách xưng hô xác. Giọng điệu lời thoại hồn: qua tôi- ông, câu cảm thán, tỏ ra cách xưng hô: ta-mày, cấu trúc mềm mỏng, nhã nhặn pha câu phủ định: không, vô lí, biểu chút mỉa mai, giễu cợt. hiện giọng quyết liệt, giận dữ, giọng của thái độ tranh đấu không khoan nhượng, thỏa hiệp. 10 lời Trước những bằng chứng xác Xác liên tiếp đưa ra các bằng Xác cố tình khơi thoại tiếp công kích, hồn chỉ biết đổ lỗi chứng để chứng minh hồn đã thật sâu vào nơi tất cả là do xác: im đi, đấy là phụ thuộc vào nó: ông đứng mà hồn muốn né hơi thở mày, chân tay mày, hồn bên cạnh vợ tôi, tay chân ông tránh, giấu giếm gạt đi một cách lúng túng nhát run rẩy hơi thở ông nóng Hồn càng cố lẩn gừng: ta...ta...đã bảo là mày im rực...cái món tiết canh cổ hũ trốn, xác càng cố đi. Hồn ngộ nhận ngây thơ: khấu đuôi...không làm hồn phơi bày. Từng Không, ta vẫn có một đời sống ông lâng lâng cảm xúc sao? bước, từng bước, riêng.. Hồn chỉ có thể bịt tai Chẳng lẽ ông không tham dự những lí lẽ hiểm lại chối bỏ bất lực: Ta không vào chút đỉnh gì? Ông tát hóc sắc lẹm của muốn nghe mày nữa. Hồn thằng con tóe máu mồm máu nó dồn đẩy hồn từ không đưa ra một bằng chứng mũi, cơn giận của ông lại có thế của người nắm nào để bác bỏ xác bởi đó là sự thêm sức mạnh của tôi ...với giữ chân lí thành thật. Giọng điệu của hồn không lí lẽ: hai ta đã hòa với nhau kẻ bị bóc mẽ, lột còn mạnh mẽ sắc sảo như làm một rồi. Giọng điệu của trần hành vi không trước, mà trở nên ngập ngừng, xác: giễu cợt đắc ý, hả hê tự có gì đẹp đẽ. yếu ớt, vô vọng. mãn đầy hợm hĩnh.
  11. 7 lời thoại Hồn gần như im lặng trước xảo Xác biện minh về vai trò của Xác đã đưa ra tiếp ngôn của xác. Không đưa ra nó: Tôi là cái bình để chứa những lí lẽ rất khó được một lí lẽ nào phản bác lại, đựng linh hồn..., Xác phê chịu nhưng khó hồn chỉ biết: nhưng... phán căn bệnh sĩ diện hão của bác bỏ để buộc nhưng...yếu đuối bất lực. Để những kẻ lắm chữ nhiều sách hồn phải thừa rồi, không biết tự bao giờ, hồn bỏ bê thân xác khổ sở nhếch nhận sự tồn tại và thay đổi cách xưng hô: lí lẽ của nhác, xác lí luận đòi hỏi của vai trò tất yếu của anh thật ti tiện! từ mày sang nó là chính đáng. Sau đó, xác nó. Nó đắc thắng anh, dù đó là lời khinh bỉ còn đưa ra trò chơi để thỏa khi lấn át hồn. nhưng hàm chứa sự thừa nhận. hiệp với hồn, đôi bên cùng có Hồn hoàn toàn rơi Cuối cùng, hồn chỉ còn biết lợi. Giọng điệu của xác rất vào thế đuối lí, thốt lên một tiếng Trời! trong xảo quyệt: tỏ ra buồn rầu khi buộc phải chấp niềm tuyệt vọng vô bờ. biện minh cho mình, rồi lại nhận. Giọng điệu của hồn gần như đã thì thầm ve vãn, dụ dỗ hồn, mất hết khí thế tranh luận, mà rồi đầy khoái chí khi thấy hồn đành chua chát chấp nhận. tuyệt vọng. Kết thúc Hồn bần thần nhập vào xác. Xác an ủi hồn: đừng cố chống Cuộc đấu tranh lại điều không thể. chống lại hoàn cảnh của hồn thất bại. Cuộc đối thoại giữa hồn và xác đã diễn ra căng thẳng, kịch tính. Đôi bên đều nắm giữ những lí lẽ khó bác bỏ. Hồn và xác xung đột nhau trong từng cặp lời thoại, dồn đuổi nhau, phản bác nhau, mỉa mai nhau, sự cứng cỏi của hồn và sự mềm mỏng của xác, sự thẳng thắn của hồn và sự ranh mãnh của xác, sự trung thực của hồn và sự lắt léo mưu mẹo của xác. Hồn thanh cao đâu dễ thắng nổi xác thịt âm u đui mù? Sau cuộc tranh luận, hồn càng nhìn thấy rõ hơn sự tan hoang trong mình. Kết quả của cuộc đối thoại cho thấy tính chất ngày một căng thẳng của xung đột kịch bởi cái phần bên trong đang bị dồn sâu hơn vào thế bế tắc, bởi khi phải nhập trở lại thân xác một cách miễn cưỡng, hồn đã ấm ức
  12. thêm ấm ức, đã chán ghét thêm chán ghét, đã dằn vặt thêm dằn vặt, đã đau khổ thêm đau khổ. Tức là mâu thuẫn giữa hồn và xác không những không được giải quyết, ngược lại còn sâu sắc thêm: hồn kia làm sao có thể hòa làm một với thân xác này! Xung đột đẩy đến tột cùng trong cuộc đối thoại tiếp theo giữa Trương Ba và những người thân trong gia đình. 2. Xung đột thể hiện trong màn đối thoại giữa Trương Ba và những người thân Ở màn đối thoại này, phần bên trong là hình ảnh con người Trương Ba- trước đây, phần bên ngoài là hình ảnh con người Trương Ba- đang tồn tại trong con mắt của những người thân. Hai con người ấy cùng xuất hiện ở những lời thoại của 3 nhân vật: Vợ, cháu gái, con dâu của Trương Ba Người thân Trương Ba trước đây Trương Ba bây giờ Với người vợ Ông vốn là người hết lòng Ông bây giờ còn biết đến ai nữa...Ông đâu thương yêu vợ con, coi trọng còn là ông, đâu còn là ông Trương Ba làm mảnh vườn như chính mình. vườn ngày xưa nữa... > Người chồng sâu sắc >Người chồng vô tâm, đáng trách. Với cháu gái Ông nội khéo léo, nhẹ nhàng, Ông nội tôi chết rồi, bàn tay giết lợn làm gãy biết yêu quý, nâng niu từng tiệt chồi non, chân to bè như cái xẻng giẫm chồi non nát cây sâm quý, ông đòi chữa diều làm gãy > Người ông thân thương. cả nan, rách cả giấy...ông xấu lắm, ác lắm, Lão đồ tể! > Người ông thô lỗ phũ phàng, đáng ghét. Với con dâu Người bố hiền hậu vui vẻ tốt Mỗi ngày thầy một đổi khác dần, mất mát lành, đáng kính trọng. dần, tất cả cứ như lệch lạc, nhòa mờ dần đi đến nỗi có lúc chính con cũng không nhận ra thầy nữa... > Người bố xa lạ. Trong suốt cuộc đối thoại, phần bên trong, Hồn Trương Ba đã ra sức thanh minh, chứng minh với mọi người rằng: Tôi đây, tôi vẫn là tôi, là Trương Ba, không thay đổi:
  13. vẫn là chồng của bà; là ông của cháu: dù sao...cháu...Sáng nào ông cũng ra cuốc xới chăm chút cây cối ngoài vườn: chỉ có ông nội cháu mới biết quý cây như thế!...nhưng mọi sự thanh minh đều vô hiệu bởi cái phần bên ngoài đã tạo nên một diện mạo Trương Ba mới khiến người thân không còn nhận ra Trương Ba thật, Trương Ba trước đây nữa. Ở đây không có xung đột giữa Trương Ba và những người thân, mà chỉ có xung đột giữa Trương Ba trước khi chết và Trương Ba sau khi sống lại. Người thân cự tuyệt Hồn Trương Ba, da hàng thịt bởi họ đứng về phía Trương Ba, người làm vườn thanh cao của họ. Vậy là Trương Ba tồn tại mà không sống. Phần bên trong đã bị phần bên ngoài lấn át.. Đây không phải là sự hòa giải mâu thuẫn, bởi Hồn đâu có tự nguyện đồng hóa theo xác? Mà đây là đỉnh điểm của mâu thuẫn khi xác đẩy hồn vào tình thế cô độc, không được thừa nhận, buộc hồn phải khuất phục xác. Đã đến lúc không thể tiếp tục chấp nhận sự tồn tại trong xung đột để được sống nữa. Vì như thế Trương Ba có nguy cơ đánh mất chính mình. Xung đột đòi hỏi phải giải quyết. 3. Xung đột được giải quyết ở màn đối thoại với Đế Thích Xung đột bi kịch giải quyết theo cách nào cũng phải chấp nhận sự diệt vong các giá trị quan trọng. Không nằm ngoài luật nghiệt ngã ấy, xung đột giữa bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo chỉ có cách duy nhất kết thúc: Hồn chết hẳn, vĩnh viễn mất đi quyền Được sống quý giá và chính đáng của mình. Để trả sự sống về theo đúng lẽ tự nhiên của nó, Hồn dũng cảm hi sinh, chết để được là chính mình, chết để kết liễu cái vật quái gở mang tên Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Một cái giá không hề rẻ để bảo toàn giá trị người, bảo toàn niềm tin vào sự bền vững của nhân tính không tha hóa. Giải quyết xung đột như thế là một cách chấp nhận hiện thực đau đớn, tỉnh táo: có những cái sai không sửa được, đau đớn nhưng tất yếu bởi cuộc đời không phải là cổ tích. Câu chuyện cuộc đời của Lưu Quang Vũ có một vòng tròn sinh tử: chết oan- sống lại- chết thật- sống mãi, càng ngẫm càng hay. III. Nhân vật bi kịch: Trương Ba Trong vở kịch, Trương Ba là nhân vật Trung tâm, cũng là nhân vật bi kịch, mang đặc điểm của nhân vật bi kịch: có phẩm chất đáng quý, đồng thời mắc lầm lạc trong suy nghĩ, hành động, kết thúc bằng cái chết có ý nghĩa thức tỉnh.
  14. 1. Trương Ba là người có những phẩm chất đáng quý Trương Ba không phải là đấng anh hùng xuất chúng, cũng không phải là bậc tài năng siêu việt mà chỉ là một người dân lao động bình thường, một con người bình thường và có những phẩm chất người tốt đẹp, những điều tốt đẹp cần thiết trong cuộc đời bình thường này. Trương Ba, người làm vườn chăm chỉ, khéo léo, biết nâng niu trân trọng từng chồi non. Một người biết trân trọng từng chồi non nhỏ bé hẳn còn trân trọng hơn thế sự sống, con người. Đúng vậy, Trương Ba quan tâm sâu sắc đến vợ con, có thể thấy rõ điều đó qua thái độ của những người thân với ông: vợ kính trọng chồng, con trai, con dâu nể trọng bố, nhất là cháu gái thương yêu ông nội rất mực, nó nâng niu từng bó đóm thuốc lào, những cây thuốc trong vườn đôi guốc gỗ...của ông nội, thế nên nó mới phản ứng gay gắt như thế với kẻ mạo danh ông nội nó. Trương Ba còn là một người dân thường mà có tài năng đặc biệt: đánh cờ giỏi. Tài cờ ấy sánh ngang với Tiên cờ Đế Thích, quả là siêu phàm. Thế gian mấy ai tiếp nổi cờ Đế Thích? Đế Thích đánh cờ khắp nơi, trên trời dưới đất chỉ coi Trương Ba là đối thủ. Nếu không có Trương Ba, Đế Thích không còn có cơ hội thể hiện. Viết như thế là một cách gián tiếp ca ngợi tài cờ của Trương Ba. Mà tài năng cũng là một biểu hiện của nhân cách. Một người đánh cờ giỏi không chỉ có trí tuệ cao minh mà tâm hồn cũng phải thanh cao, khoáng đạt. Xưa nay, ít thấy có kẻ tiểu nhân nào cao cờ. Xét một khía cạnh nào đó, Trương Ba có nét tương đồng với những kiểu nhân vật kì tài trong dân gian, lại có nét tương đồng với những nhân vật quân tử nho gia ở ẩn vui thú điền viên. Trương Ba nhân hậu trong sạch ngay thẳng là người có ý làm người rất cao. Với Trương Ba, cái bên ngoài là cái không đáng kể, chỉ có cái bên trong- phần tâm hồn là thứ luôn phải giữ gìn cẩn trọng. Ông nhạy cảm sớm phát hiện thấy lối sống chạy theo vật chất của con trai mình nên luôn cảnh giác khuyên can, ngăn giữ. Một người như Trương Ba đương nhiên sẽ không thể chấp nhận thói sống thô lỗ tầm thường của người hàng thịt. Như vậy, có thể thấy Trương Ba là nhân vật có những phẩm chất đáng quý. Một người như Trương Ba làm sao có thể gặp những đau khổ éo le? Vậy mà Trương Ba đã rơi xuống một bi kịch không lối thoát, như một giấc mộng hãi hùng: chết đi và sống lại với bao oái oăm dở cười dở khóc! 2. Trương Ba mắc phải những lầm lạc hay bi kịch của hồn Trương Ba
  15. Những lầm lạc của Trương Ba bắt đầu từ sự sai lầm của người khác - Nam Tào Bắc Đẩu làm ăn tác trách gạch nhầm tên Trương Ba, khiến Trương Ba chết oan, được sống lại nhưng phải sống nhờ thân xác của người khác. Để rồi sau đó, Trương Ba liên tiếp mắc phải những lầm lạc đến mức suýt đánh mất chính mình. Lầm lạc thứ nhất của Trương Ba là chấp nhận sống nhờ sống gửi trong thân xác người khác. Lầm lạc thứ hai là biết rõ mình bị thân xác điều khiển nhưng vẫn ngộ nhận, không dám đối diện, đây cũng là bi kịch của hồn Trương Ba: tha hóa và bị cự tuyệt Trương Ba chấm dứt lầm lạc của mình bằng quyết định đúng đắn, sáng suốt: chết hẳn. 2.1 Lầm lạc thứ nhất Trương Ba chưa đến lúc chết- hết số nhưng lại chết. Đó là chết oan. Và nỗi oan đó của Trương Ba được đền bù bằng việc: được sống lại. Nhưng mọi sự đền bù đều chỉ đạt được một mức độ nào đó mà thôi. Sự sống mà Trương Ba được đền bù lại phải nhờ gửi trong thân xác của người khác. Trương Ba chấp nhận sự đền bù ấy. Để được sống, Trương Ba chấp nhận việc chắp vá với thân xác anh hàng thịt. Linh hồn Trương Ba thanh cao, thân xác hàng thịt thô phàm, sự vênh lệch đó sẽ chung sống với nhau ra sao? Cái nào sẽ điều khiển cái nào? Trương Ba không nghĩ tới điều đó, mặc nhiên vô tư chấp nhận không chút đắn đo. Lúc ấy, được sống lại là hạnh phúc quá lớn, bất ngờ với Trương Ba. Bấy giờ, vấn đề lớn nhất đặt ra với Trương Ba là làm thế nào để chứng minh với mọi người có một hồn Trương Ba trong thân xác của anh hàng thịt. Còn sẽ sống như thế nào trong thân xác hàng thịt, hồn chưa nghĩ tới. Trương Ba với suy nghĩ: con người, cái bên ngoài là không quan trọng, chỉ có cái bên trong, thêm nữa, với bản tính ngay thẳng trung thực nên càng tin tưởng rằng mình sẽ vẫn là mình, mình làm chủ cơ thể sống này. Suy nghĩ đơn giản đó của Trương Ba đã vấp phải thực tế phức tạp, rắc rối. Trương Ba không lường được hết những phiền toái sẽ xảy đến. Để rồi sau khi phải nếm trải đủ những đau đớn, Trương Ba mới nhận thức lại được rằng: sống nhờ vào đồ đạc của người khác là điều không nên. Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được, những gì trái với lẽ tự nhiên sẽ không thể tồn tại . Nếu sớm nhận thức được chân lí ấy thì chẳng phải là hồn đã không lâm vào bi kịch sao? Sự lầm lạc này có nguyên nhân dễ thấy: Bắt nguồn từ quyền được sống chính đáng của con người. Ai chẳng mong mình được sống, sự sống vô cùng quý giá. Việc chấp nhận sự sống
  16. đền bù của Trương Ba là đương nhiên bởi Trương Ba chỉ nhận những gì xứng đáng được hưởng: được sống. Trương Ba không tham phần sống của người khác mà chỉ nhận về phần sống đã bị người khác vô ý lấy đi. Thế nên ở lầm lạc này, đáng trách nhiều hơn là ở phía khách quan. Còn Trương Ba đáng tiếc là không sớm nhận ra sự sửa sai này sẽ càng sai thêm, không đủ sáng suốt để phân tích tình huống trớ trêu của mình. 2.2 Lầm lạc thứ hai của Trương Ba Sau khi sống trong thân xác hàng thịt, Hồn Trương Ba liên tiếp mắc phải những lầm lạc: Không làm chủ được bản thân, bị tiếng nói của xác sai khiến. Biểu hiện rõ qua 2 màn đối thoại với Xác và những người thân Ở màn đối thoại với xác, những dẫn chứng xác đưa ra đã phơi bày rõ sự tha hóa của hồn: xao xuyến trước sức hấp dẫn của người vợ hàng thịt, lâng lâng cảm xúc với những món tiết canh cổ hũ khấu đuôi, tát con trai tóe máu mồm máu mũi. Cái phần thanh cao nhân hậu ngay thẳng trong hồn Trương Ba đang chênh vênh trên miệng vực của những dục vọng bản năng tầm thường thấp kém. Nó bị dồn đuổi bởi những đòi hỏi sai lạc của thể xác. Đau khổ ở chỗ hồn ý thức được điều đó, nhưng thay vì tìm cách vượt lên, hồn lại chỉ cố gắng phủ nhận sự thật, đổ lỗi cho xác. Hồn vẫn ảo tưởng cho rằng: ta vẫn có một đời sống riêng, nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn, hồn vẫn bám vào cái lí lẽ một chiều của mình: xác không có tư tưởng, cảm xúc, chỉ là những thứ thấp kém. Hồn cố gắng phủ nhận những điều không thể như một sự bám víu của kẻ đang trượt dài xuống dốc tha hóa. Thực chất đối thoại hồn xác là độc thoại bên trong một con người, hai tiếng nói của cùng một con người cất lên dồn đuổi nhau, phản bác nhau, mỉa mai nhau. Tất cả đều là cung bậc của cùng một trạng thái dằn vặt day dứt, tự đay nghiến bản thân, là biểu hiện của sự giằng xé nội tâm cố gắng giữ lấy phần thanh cao trong tâm hồn. Nhưng đáng buồn thay, trong cuộc đấu tranh này, phần thanh cao không đủ mạnh mẽ đến cùng, để rồi vẫn bị tiếng nói thô phàm lấn át. Nguyên nhân của lầm lạc đã không phải ở khách quan nữa, cũng không thể chỉ đổ lỗi cho sức cám dỗ của thân xác. Lỗi chính ở đây là do Trương Ba đã không đủ tỉnh táo, đã không đủ bản lĩnh để chống lại sức cám dỗ ấy. Trương Ba đã chủ quan khi cho rằng xác không có tiếng nói. Khách quan và công bằng hơn, sẽ phải thấy rằng xác thịt có tiếng nói của riêng nó, bản thân tiếng nói ấy không có gì đáng trách: mỗi bữa tôi đòi ăn tám chín bát cơm hỏi có gì là
  17. tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám chín bát cơm cho tôi ăn chứ! Nó chỉ đáng trách khi xui tâm hồn làm những điều xằng bậy. Thể xác chịu sự chỉ đạo của tâm hồn nhưng nó có những tác động ghê gớm đối với tâm hồn. Vì thế, thực chất lầm lạc hay bi kịch của Trương Ba là bị tha hóa bởi hoàn cảnh môi trường sống thô phàm, không còn được sống đúng với bản chất tự nhiên của mình. Bi kịch này giống như một cạm bẫy mà con người dễ mắc phải trong cuộc sống. Tỉnh táo để làm chủ được bản thân trong một xã hội quá nhiều cám dỗ quả là không dễ dàng. Ở màn đối thoại với những người thân, Trương Ba muốn tìm một sự thông cảm ở những người mà ông hi vọng sẽ hiểu mình, vẫn chấp nhận mình, vẫn nhìn thấy con người thanh cao đáng quý của mình, sẽ vẫn còn dành cho Trương Ba một vị trí để tồn tại, một cơ hội để sống. Nhưng trong cuộc đối thoại này, Trương Ba đã phải đối diện với thực tế đổ vỡ tan nát. Khi vợ hờn trách muốn bỏ đi thật xa để Trương Ba được thảnh thơi với cô vợ hàng thịt khiến Trương Ba ôm đầu thu mình lại như muốn trốn tránh. Khi đứa cháu gái ngây thơ không nhận ông nội bằng những lời lẽ non nớt giống như bàn chân của một con vật nào đó mềm mại nhưng móng sắc nhọn bóp lấy trái tim Trương Ba. Khi cô con dâu, người cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của bố cũng không ngăn được dòng sự thật xót xa, nức nở hỏi: làm sao giữ được thầy ở lại hiền hậu, vui vẻ tốt lành như thầy của chúng con xưa kia? Làm thế nào thầy ơi? Câu hỏi ấy đã hóa đá tâm hồn Trương Ba! Ba sự thật được nói bởi những người thân sắc như lưỡi dao khiến tâm hồn Trương Ba chảy máu: Sự thật là Trương Ba đã không còn là người chồng biết quan tâm đến vợ con, sự thật là Trương Ba đã không còn là người ông đôn hậu, nhẹ nhàng, sự thật là Trương Ba đã không còn là người bố vui vẻ, tốt lành nữa. Những sự thật đó phơi bày bi kịch bị cự tuyệt của Trương Ba. Đau đớn thay cho Trương Ba khi không được thừa nhận, trở thành người xa lạ trong chính ngôi nhà thân quen, trong những người ruột thịt! Đau đớn thay cho bi kịch một người chết trong khi đang sống! Đáng buồn thay cho một nhân cách thanh cao ngay thẳng bị xô ngã bởi hoàn cảnh tầm thường dung tục. Bi kịch thứ hai này là hậu quả tất yếu của bi kịch thứ nhất. Khi Hồn Trương Ba thay đổi, lệch lạc đi, sự tồn tại của Trương Ba không đem lại hạnh phúc cho gia đình mà ngược lại làm tan hoang đổ vỡ tất cả, làm chảy nước mắt tất cả những người thân, thì bị cự tuyệt chỉ là sớm hay muộn. Dù Trương Ba có cố gắng thanh minh rằng mọi việc mình không cố ý, do
  18. hoàn cảnh đưa lại, rằng mình cũng đau khổ không kém khi phải sống trong thân xác kềnh càng thô lỗ này, rằng mình đâu có vô tâm đến nỗi không biết những phiền toái rắc rối xảy đến với mọi người. Nhưng cũng không ngăn được sức dồn đẩy đến đường cùng của bi kịch. Lời độc thoại nội tâm cuối đoạn đã phơi trải cơn bão tố dữ dội và đau đớn trong cuộc đấu tranh giữ lấy phần thanh cao đang bị hoàn cảnh thô bạo nghiền nát: Mày đã thắng thế rồi đấy, cái thân xác không phải của ta ạ, mày đã tìm đủ mọi cách để lấn át ta... một sự vỡ lẽ, một sự thừa nhận bàng hoàng mà chua chát, bi đát. Sau suy nghĩ ấy là dấu “...” diễn tả phút im lặng tê tái trong bi kịch của hồn Trương Ba. Người đọc có thể hình dung khoảnh khắc ấy trên sân khấu, Trương Ba ngã phục xuống, bóng tối ập xuống, âm thanh tắt lịm. Sau một lát, đèn lại sáng, Trương Ba ngẩng lên: Nhưng lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình? Chẳng còn cách nào khác! Mày nói như thế hả? Nhưng có thật là không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại, không cần!, giọng điệu khác, ngôn ngữ khác, dữ dội, dứt khoát, tỉnh táo; điệu bộ khác, đứng dậy lập cập nhưng quả quyết, sẽ có một bước ngoặt xảy ra. Trương Ba phải làm điều không muốn làm nhất: tự mình kết thúc tất cả. 2.3 Kết thúc những lầm lạc hay bi kịch Sau bao đau đớn, Trương Ba mới đi đến được chân lí. Những lời thức tỉnh của Trương Ba vừa hướng có tính hướng ngoại, vừa có tính hướng nội: Không thể sống bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. Triết lí của vở kịch cũng vang lên ở đó. Con người là một thể thống nhất, hài hòa: phần bên ngoài và phần bên trong, tâm hồn và thể xác, con và người. Trái với lẽ tự nhiên ấy, con người sẽ không thể tồn tại. Những lầm lạc, bi kịch mà Trương Ba đã mắc phải chẳng phải là do đã sống trái với lẽ tự nhiên: bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo đó sao? Ý thức được rõ bi kịch của mình, Trương Ba thống thiết một khát vọng: Tôi muốn được là tôi toàn vẹn, được sống là chính mình, sống với chính mình, sống chân thực và toàn vẹn tuyệt đối. Trương Ba cũng thẳng thắn chỉ ra sai lầm của Đế Thích: Ông chỉ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết. Bởi Trương Ba đã thấm thía rằng: được sống chưa phải là hạnh phúc. Sống như thế nào mới quyết định hạnh phúc của con người. Trương Ba được sống nhưng còn khổ hơn cả chết, bởi sự sống ấy băng hoại những giá trị người cao quý.
  19. Mặc Đế Thích khuyên can hãy chấp nhận cuộc sống đang có với lí lẽ trên trời dưới đất không ai được sống toàn vẹn, ngay cả Ngọc Hoàng Thượng đế cũng vậy, Trương Ba vẫn kiên quyết từ chối. Mặc Đế Thích đưa ra một cơ hội sống đầy cám dỗ: nhập vào thân xác cu Tị, Trương Ba vẫn tỉnh táo để phân tích những sự phiền toái rắc rối sẽ tiếp diễn: Tôi ông già gần 60 mang thân một đứa bé lên 10...những gì chúng thích thì tôi ghét, những gì tôi thích thì chúng chẳng ưa...Tôi sẽ bơ vơ lạc lõng hoặc sẽ trở nên thảm hại đáng ghét như kẻ tham lam; Không gì có thể xui khiến Trương Ba tiếp tục phạm sai lầm nữa: Có những cái sai không sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm...Không thể sống với bất cứ giá nào được. Những ý nghĩ đúng đắn ấy như đã thanh lọc tâm hồn Trương Ba lại trở lại thanh thản trong sáng như xưa, nâng Trương Ba đứng dậy trong tư thế ngay thẳng. Trương Ba quyết định chết hẳn. Quyết định này có dễ dàng không? Không dễ, bởi ai mà chẳng ham sống, sự sống quý giá mà vàng bạc không mua nổi. Từ những ông vua sống trên ngai vàng tìm mọi cách để trường sinh bất tử đến kẻ ăn mày không đồng xu dính túi vẫn quyết giữ mạng sống. Và những lời than thở của bao kiếp người trần trụi nơi mặt đất chất chồng tận mây xanh rằng đời người sao quá ngắn ngủi? Ngay đến đạo Phật quan niệm sống gửi thác về vẫn vô cùng trân trọng sự sống của con người: cứu một mạng người phúc đẳng hà sa đó sao? Càng khó khăn bao nhiêu, càng thấy quyết định của Trương Ba dũng cảm bấy nhiêu. Từ bỏ sự sống quý giá, nhường cơ hội sống cho cu Tị, Trương Ba đã làm được điều mà thần tiên cũng khó có thể. Quyết định chết hẳn của Trương Ba đã khẳng định cuối cùng, trong cuộc giao tranh giữa phần con và phần người, phần người đã chiến thắng. Chẳng lẽ tao lại chịu thua mày và tự đánh mất mình? Mày bào là chẳng còn cách nào ư? Và đây chính là câu trả lời của hồn Trương Ba trước sự ngạo nghễ đắc thắng quá sớm của xác: không cần cái đời sống do mày mang lại, không cần. Trương Ba tự kết liễu sự tồn tại quái gở mang tên hồn Trương Ba, da hàng thịt cũng tức là chấm dứt bi kịch của mình. Quả là một người giàu lòng tự trọng, ý thức làm người rất cao: thà chết trong trung thực còn hơn sống trong giả tạo. Trương Ba cuối cùng chết thật, đúng theo nguyên tắc của nhân vật bi kịch, cái chết của nhân vật bi kịch mang nhiều ý nghĩa thức tỉnh: sự sống thực quý giá nhưng không thể bất chấp mọi giá để sống. Con người chỉ hạnh phúc khi được sống thật, trung thực với mọi người và với chính mình. Ngoài ra, bi kịch của Trương Ba cũng phản ánh những sự thật đau buồn về số
  20. phận con người và những phi lí vẫn ngang nhiên tồn tại giữa cuộc đời này. Con người nhỏ bé và bị bủa vây giữa mịt mùng bao sự giả dối, muốn sống thật thực khó lắm thay, nhiều khi phải trả những cái giá quá đắt bằng cả mạng sống! Những người ngay thẳng, nhân hậu hay phải chịu oan ức thiệt thòi, những kẻ đáng lí ra phải chết từ lâu mà vẫn cứ sống, cứ trẻ khỏe, cứ ngang nhiên hưởng thụ mọi thứ lộc trời! Cuộc sống giả tạo có lợi cho ai? Chỉ có bọn khốn kiếp là lợi lộc! Xây dựng nhân vật bi kịch Trương Ba, tác giả Lưu Quang Vũ đã thể hiện một cái nhìn hiện thực tỉnh táo, nghiêm ngặt. Mạnh dạn, nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm của con người: tha hóa, biến chất trong môi trường sống mà những giá trị vật chất lên ngôi. Nhưng không mất niềm tin vào con người: vẫn còn những nhân cách trung thực, dám hi sinh để bảo toàn giá trị văn hóa người. Qua cái kết đầy chất thơ, nhà viết kịch gieo niềm tin rằng những điều tốt đẹp sẽ vẫn được nhân lên, mãi mãi...Lưu Quang Vũ tin, và chúng ta cũng tin. IV. Những giá trị đặc sắc của trích đoạn kịch 1. Nội dung tư tưởng Làm nên sức sống lâu bền của vở kịch trước hết quan trọng trên hết là ở nội dung tư tưởng của nó. Trong vở kịch của mình, Lưu Quang Vũ đã đặt ra những vấn đề vừa mang tính thời sự, vừa mang tính muôn thủa. Tập trung ở trích đoạn cảnh 7 và đoạn kết, thông qua cao trào xung đột và cách giải quyết xung đột, tư tưởng của toàn bộ tác phẩm được bộc lộ. Thứ nhất, từ trích đoạn kịch, tiếng nói phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ vang lên khá mạnh mẽ và thẳng thắn: Thói chạy theo những ham muốn tầm thường về vật chất, chỉ thích hưởng thụ đến mức phàm phu, thô thiển; những kẻ lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trọng mà chẳng chăm lo thích đáng đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn; tình trạng con người phải sống giả, không dám và không được sống thật với bản thân mình dẫn tới nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị tha hóa do danh và lợi. Tiếng nói phê phán cất lên từ vở kịch đặt vào không khí của đời sống những năm cuối thập kỉ 70, đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX- thời kì có nhiều chuyển biến, bề bộn, quả là rất thời sự. Bởi nó đã phản ánh trúng vào vấn đề tồn tại của giai đoạn quá độ, khi cái cũ đã không phù hợp, cái mới đang manh nha, cơn sốt vỡ da của thời kinh tế thị trường đương sắp