Tài liệu ôn thi lớp 12 (Chương trình mới) dùng chung 3 bộ SGK hướng tới kì thi THPTQG 2025 môn Lịch sử
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn thi lớp 12 (Chương trình mới) dùng chung 3 bộ SGK hướng tới kì thi THPTQG 2025 môn Lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_on_thi_lop_12_chuong_trinh_moi_dung_chung_3_bo_sgk.pdf
Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn thi lớp 12 (Chương trình mới) dùng chung 3 bộ SGK hướng tới kì thi THPTQG 2025 môn Lịch sử
- TÀI LIỆU ÔN THI LỚP 12 (CHƯƠNG TRÌNH MỚI) DÙNG CHUNG 3 BỘ SGK HƯỚNG TỚI KỲ THI THPTQG 2025 MÔN: LỊCH SỬ BỘ SÁCH Cánh diều, Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo CHỦ ĐỀ 1: THẾ GIỚI TRONG VÀ SAU CHIẾN TRANH LẠNH A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM. Câu 1. Nêu hoàn cảnh ra đời và mục đích, nguyên tắc của tổ chức Liên hợp quốc. Đánh giá vai trò của tổ chức Liên hợp quốc trong nửa sau thế kỉ XX. a) Hoàn cảnh thành lập - Đầu năm 1945, khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, các nước đồng minh nhận thấy sự cần thiết phải hợp tác để tiêu diệt chủ nghĩa phát xít để kết thúc chiến tranh và nhân dân thế giới có nguyện vọng gìn giữ hoà bình, ngăn chặn chiến tranh thế giới. - Tại Hội nghị Ianta (2/1945), ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh nhất trí thành lập một tổ chức quốc tế (LHQ) nhằm gìn giữ hoà bình, an ninh thế giới. - Từ ngày 25/4 đến 26/6/1945, đại biểu 50 nước họp tại Xan Phranxicô (Mĩ) thông qua bản Hiến chương và tuyên bố thành lập tổ chức Liên hợp quốc. Ngày 24/10/1945, với sự phê chuẩn của Quốc hội các nước thành viên, bản Hiến chương chính thức có hiệu lực. b) Mục đích: - Hiến chương là văn kiện quan trọng nhất của Liên hợp quốc nêu rõ: Mục đích của Liên hợp quốc là duy trì hoà bình, an ninh thế giới, phát triển các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. - Hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo, bảo đảm quyền con người và những quyền tự do cơ bản. - là trung điều hòa các hoạt động của các quốc gia vì những mục tiêu chung. c. Nguyên tắc - Bình đẳng chủ quyền và quyền tự quyết của các dân tộc. - Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước. - Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nước nào. - Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình. - Từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. - Tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp quốc tế. d) Vai trò của Liên hợp quốc - Là diễn đàn quốc tế vừa hợp tác và đấu tranh nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới. 1
- - Có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia, tiến hành giải trừ quân bị, hạn chế chạy đua vũ trang, nhất là các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt; có nhiều cố gắng trong việc giải trừ chủ nghĩa thực dân. + Từ năm 1945 đến nay. LHQ đã góp phần thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa, xóa bỏ chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn cầu, thủ têu các hình thức của phân biệt chủng tộc. + LHQ đã xây dựng được một hệ thống các công ước, hiệp ước quốc tế về giải trừ quân bị cũng như ngăn chặn vũ khí hủy diệt hàng loạt, tiêu biểu có Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân (1968); Công ước cấm sử dụng, phát triển và tàn trữ vũ khí hóa học và về việc phá hủy các loại vũ khí này (1993), Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (1996), Hiệp ước cấm vũ khí hạt nhân (2017) - Thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hoá, giáo dục... Liên hợp quốc còn có nhiều chương trình hỗ trợ, giúp đỡ các dân tộc kém phát triển, các nước đang phát triển về kinh tế, văn hoá, giáo dục, nhân đạo - Tuy nhiên, bên cạnh đó, Liên hợp quốc cũng có những hạn chế; không thành công trong việc giải quyết xung đột kéo dài ở Trung Đông; không ngăn ngừa được việc Mĩ gây chiến tranh ở I- rắc ... - Để thực hiện tốt vai trò của mình, Liên hợp quốc đang tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó có quá trình cải tổ và dân chủ hoá cơ cấu của tổ chức này. - Đến năm 2006, Liên hợp quốc có 192 quốc gia thành viên. Từ tháng 9/1977, Việt Nam là thành viên 149 của Liên hợp quốc. * Mở rộng: Vai trò quan trọng nhất của Liên hợp quốc là góp phần ngăn ngừa không để xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới mới kể từ năm 1945 đến nay. Em có đồng ý với ý kiến này không? Vì sao? - Đóng góp trong lĩnh vực duy trì hoà bình, an ninh quốc tế để ngăn ngừa chiến tranh thế giới là đóng góp quan trọng nhất của Liên hợp quốc, nhờ đó các quốc gia, dân tộc có được môi trường hoà bình để ổn định và phát triển. Biểu hiện: + Liên hợp quốc góp phần ngăn chặn không để xảy ra một cuộc chiến tranh thế giới mới, hỗ trợ giải quyết nhiều cuộc xung đột và tranh chấp quốc tế mà minh chứng rõ nét là Liên hợp quốc đã triển khai nhiều phái bộ gìn giữ hoà bình để giúp chấm dứt xung đột, khôi phục hoà bình, hỗ trợ công cuộc tái thiết ở nhiều quốc gia thành viên. Với những hoạt động kể trên, lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc đã được trao tặng Giải thưởng Hoà bình Nô-ben vào năm 1988, sau đó Liên hợp quốc và Tổng Thư kí Kô-phi An-nan được tặng giải thưởng này vào năm 2001. + Liên hợp quốc đã soạn thảo và xây dựng được một hệ thống các công ước quốc tế về giải trừ quân bị, trong đó có Hiệp ước Cấm phổ biến vũ khí hạt nhân (1968), Công ước Cấm vũ khí hoá học 1993) và Công ước Cấm vũ khí sinh học (1972), Công ước Cấm vũ khí hạt nhân (2017), tạo ra khuôn khổ pháp lí cho việc ngăn chặn phổ biến, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn các loại vũ khí này. Câu 2a. Phân tích về nguyên tắc: Tôn trọng quyền bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị 2
- (Dựa vào nguyên tắc Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước trong Hiến chương Liên hợp quốc, thí sinh có thể vận dụng kiến thức lịch sử, liên hệ thực tiễn để phân tích, giải thích, nhận xét, đánh giá về quyền dân tộc cơ bản, nhất là trong tình hình quốc tế và khu vực hiện nay; nhưng phải lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc). Gợi ý: - Quyền bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của mỗi quốc gia là những quyền tự nhiên mang tính bản năng của con người. Loài người từ khi sinh ra đã có những quyền tự nhiên theo nghĩa những “quyền trời cho”, những quyền của tạo hoá sinh ra, gắn với sự xuất hiện của con người. Những quyền đó là vốn có, chứ không phải là được thừa nhận và thụ hưởng do bất cứ một sự ban phát nào. Những quyền đó được nhân loại nhận thức ngày càng sâu sắc như một giá trị phổ quát, được khẳng định về mặt pháp lý trong các bản Tuyên ngôn độc lập (Hoa Kỳ) (1776), Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền (Pháp) (1791), Tuyên Ngôn Độc Lập (Việt Nam) (1945), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (Liên hợp quốc) (1948), Hiến chương (Liên hợp quốc) (1945). Tuyên bố Bali (ASEAN) (1976). Điểm chung của các bản tuyên ngôn đó là: “... Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. - Trong nhiều thế kỉ, chủ nghĩa tư bản Âu Mĩ tiến hành xâm lược các thuộc địa. Tiếp đó, những năm 90 của thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, Mĩ và một số nước tư bản phương Tây can thiệp vào công việc nội bộ của Irăc, Xiri, Lybi là sự chà đạp lên quyền bình đẳng và quyền độc lập của mỗi quốc gia; là sự vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Những năm gần đây, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và sau đó chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; ngày 1/5.2014, Trung Quốc cho giàn khoan HD- 981 và các tàu bảo vệ hoạt động hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Những hoạt động nói trên của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam được quy định bởi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC). - Tất cả các nước, các dân tộc trên trên thế giới cần tôn trọng quyền bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các quốc gia. Các nước cần vận dụng tích cực Hiến chương Liên hợp quốc để giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, nhằm duy trì một nền hòa bình, an ninh chung của toàn thế giới, bảo đảm cho sự phát triển của tất cả các dân tộc trên thế giới. - Nhân dân Việt Nam đã từng trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm (của phong kiến phương Bắc trước đây, của các thế lực đế quốc Pháp, Nhật và Mĩ những năm gần đây), đất nước nhiều lần bị chia cắt, nhưng kiên trì và anh dũng đấu tranh giành thắng lợi. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tỉnh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”. Đây là quyết tâm sắt đá, không chỉ khẳng định ý chí tự do và độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn khẳng định một chân lý của thời đại. Ý chỉ đó là khẩu hiệu chiến đấu và chiến thắng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa 3
- thực dân trước đây, đồng thời cũng vẫn là khẩu hiệu hành động của cả dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay, nhất là bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam. Câu 2b. Hãy nêu những đóng góp, hỗ trợ của Liên hợp quốc đối với Việt Nam. – Liên hợp quốc có vai trò rất đặc biệt đối với Việt Nam. Sau khi Việt Nam gia nhập chính thức, Liên hợp quốc đã hỗ trợ về nhân đạo và tài chính rất lớn, đặc biệt là việc khắc phục hậu quả chiến tranh, vấn đề về nghèo đói, y tế, thực phẩm, nhất là với trẻ em và nhi đồng, – Các chương trình và tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc như Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) đóng góp rất cần thiết và quan trọng. – Liên hợp quốc là cầu nối để Việt Nam tiếp cận các viện trợ nhân đạo của các nước khác. Chương trình phát triển Liên hợp quốc và Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ Việt Nam thông qua Hội nghị các nước tài trợ, giúp Việt Nam gắn kết với các nước tài trợ, từ đó huy động các nguồn vốn tối đa cho Việt Nam. Nhờ đó, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ phát triển nhanh. Câu 3. Phân tích sự ra đời Hội nghị quốc tế I-an-ta (2/1945)? Nêu và nhận xét những quyết định quan trọng của Hội nghị này a) Lý do - Đầu năm 1945, khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, có 3 vấn đề quan trọng đặt ra với các nước Đồng minh là: Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít; tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh; phân chia thành quả giữa các nước thắng trận. - Từ ngày 4 - 11/2/1945, hội nghị quốc tế được triệu tập tại I-an-ta (Liên Xô) với sự tham dự của nguyên thủ 3 cường quốc là Liên Xô, Mỹ, Anh nhằm giải quyết các vấn đề trên. b) Những quyết định quan trọng của Hội nghị - Đẩy mạnh việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật. - Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới. - Thoả thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á: + Ở châu Âu: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Bedin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh và Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức, Tây Beclin và các nước Tây Âu. Vùng Đông Âu thuộc ảnh hưởng của Liên Xô; vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ. Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập. + Ở châu Á: Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô để tham chiến chống Nhật Bản: ++ Giữ nguyên trạng Mông Cổ; ++ Trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin và các đảo xung quanh; quốc tế hoá thương cảng Đại Liên (Trung Quốc) và khôi phục việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận; Liên Xô cùng Trung Quốc khai thác đường sắt Nam Mãn Châu - Đại Liên; Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin. + Quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản; ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới; Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất; quân đội nước ngoài rút khỏi Trung Quốc. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả lại cho 4
- Trung Quốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ; các vùng còn lại của châu Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây. c) Nhận xét: - Tuy là thỏa thuận của ba cường quốc nhưng thực chất là sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa Mĩ và Liên Xô. - Thực chất của Hội nghị Ianta là sự phân chia khu vực đóng quân và khu vực ảnh hưởng giữa các nước thắng trận, có liên quan tới hoà bình, an ninh và trật tự thế giới về sau. - Toàn bộ những quyết định của Hội nghị Ianta cùng những thỏa thuận sau đó của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ và Anh đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới từng bước được thiết lập trong những năm 1945-1947, thường được gọi là trật tự hai cực Ianta. Theo đó, thế giới được chia thành hai phe do hai siêu cường đứng đầu mỗi phe. - Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đầu Đông - Tây và cuộc chiến tranh lạnh trong nhiều thập kỉ kế tiếp. Câu 4. Trình bày quá trình tồn tại của trật tự hai cực Ianta Trật tự thế giới hai cực l-an-ta tồn tại hơn bốn thập kỉ, gắn liền với sự căng thẳng của Chiến tranh lạnh giữa hai cực Mỹ – Liên Xô. - Giai đoạn từ năm 1945 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX: giai đoạn xác lập và phát triển của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta, hình thành hai hệ thống xã hội đối lập hệ tư tưởng, chính trị, quân sự,... - Trật tự thế giới hai cực l-an-ta được định hình với sự thiết lập các khối kinh tế, quân sự đối đầu nhau. + Về kinh tế: tháng 6 – 1947, Mỹ thực hiện Kế hoạch phục hưng châu Âu (Kế hoạch Mác-san), nhằm viện trợ cho các nước Tây Âu khôi phục kinh tế; tháng 01 – 1949, Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV), nhằm tăng cường sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau. + Về quân sự: năm 1949, Mỹ và các nước tư bản phương Tây thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO); năm 1955, Liên Xô và các nước Đông Âu thành lập Tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va. Cả hai khối chạy đua vũ trang, duy trì sự đối đầu về lực lượng quân sự, vũ khí hiện đại và đặc biệt là vũ khí hạt nhân. + Trong thời kì Chiến tranh lạnh, thế giới đã xuất hiện nhiều cuộc chiến tranh cục bộ và xung đột: chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp (1945 - 1954), chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), chiến tranh Trang 16 /t 119m của Mỹ (1954 - 1975),...; khủng hoảng Xuy-ê (1956), khủng hoảng Béc-lin (1961), khủng hoảng tên lửa Cu-ba (1962) Xung đột giữa hai bên nguy cơ dẫn đến chiến tranh hạt nhân. - Giai đoạn từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX đến năm 1991: giai đoạn Trật tự thế giới hai cực l-an-ta suy yếu và đi đến sụp đổ. + Đầu những năm 70 của thế kỉ XX, mặc dù Chiến tranh lạnh vẫn còn tiếp diễn nhưng xu thế hoà hoãn giữa hai bên cũng tiếp tục phát triển. Năm 1972, Liên Xô và Mỹ tiến hành những cuộc gặp gỡ cấp cao, đạt được những thoả thuận hạn chế vũ khí chiến lược. 5
- + Từ nửa sau thập kỉ 80 của thế kỉ XX, Liên Xô và Mỹ đẩy mạnh đối thoại, bình thường hoá quan hệ. Tháng 12 – 1989, trong cuộc gặp không chính thức giữa Tổng thống Mỹ G. Bu-sơ và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M. Goóc-ba-chốp tại đảo Man-ta (Địa Trung Hải), hai bên đã tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh. + Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu cuối những năm 80 của thế kỉ XX và sự tan rã của Liên Xô (1991) đã chấm dứt Trật tự thế giới hai cực l-an-ta. Câu 5. Sự kiện nào đánh dấu kết thúc tình trạng “Chiến tranh lạnh” (Trật tự hai cực Ianta) ? Vì sao hai nước Xô – Mĩ đi đến chấm dứt tình trạng Chiến tranh lạnh? a) Sự kiện - Tháng 12-1989, tại đảo Manta (Địa Trung Hải) hai nhà lãnh đạo M.Goócbachớp (Liên Xô) và G.Busơ (Mĩ) đã chính thức tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh, tạo điều kiện giải quyết các xung đột, tranh chấp ở nhiều khu vực trên thế giới. - Tình trạng Chiến tranh lạnh chỉ thực sự kết thúc sau khi Liên Xô tan rã (1991), trật tự hai cực không còn nữa. b) Nguyên nhân - Thứ nhất, trải qua hơn 40 năm với gánh nặng chạy đua vũ trang và bao tiêu về quân sự khắp thế giới, bản thân hai nước này đã bị suy giảm thế mạnh của họ về nhiều mặt so với các cường quốc khác. - Thứ hai, cả hai nước đều đứng trước những khó khăn và thách thức hết sức to lớn: sự vươn lên mạnh mẽ của Nhật Bản, Đức và Tây Âu, trở thành đối thủ cạnh tranh nguy hiểm; cuộc chiến tranh kinh tế đã mang tính toàn cầu; cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra sôi nổi. - Thứ ba, kinh tế của Mĩ và Liên Xô đều giảm sút, đặc biệt là Liên Xô lúc này đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Muốn vươn lên kịp các nước khác, cả hai nước cần phải thoát khỏi thế đối đầu với nhau và có cục diện ổn định để củng cố vị thế của mình. c. Tác động - Sau thời gian tồn tại gần nửa thế kỉ (1945 – 1991), sự sụp đổ Trật tự thế giới hai cực I-an-ta đã tác động lớn đến tình hình thế giới, đưa đến xu thế phát triển mới trong quan hệ quốc tế. - Một trật tự thế giới mới dần được hình thành theo xu thế đa cực. Sự tan rã của Liên Xô đã làm thay đổi so sánh tương quan lực lượng trên thế giới với ưu thế tạm thời thuộc về Mỹ. Tuy nhiên, vai trò của các cường quốc khác, các trung tâm kinh tể, các tổ chức quốc tế, khu vực,... ngày càng gia tăng. - Trật tự thế giới hai cực l-an-ta sụp đổ đã mở ra chiều hướng và điều kiện để giải quyết hoà bình các vụ tranh chấp, xung đột khu vực như ở Áp-ga-ni-xtan, Cam-pu-chia, Na-mi-bi-a,... - Trật tự thế giới hai cực l-an-ta sụp đổ cũng tạo điều kiện cho các cường quốc mới nổi có vị trí, vai trò lớn trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước lớn ở Châu Âu. - Trật tự thế giới hai cực l-an-ta sụp đổ còn có những tác động không nhỏ đến vấn đề dân tộc, bản sắc cộng đồng, tôn giáo ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt ở Châu Âu. d. Hãy giải thích vì sao sự tồn tại của Trật tự thế giới hai cực I-an-ta không phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. 6
- Hai nước Xô – Mỹ đứng đầu mỗi cực chi phối hầu hết các lĩnh vực của đời sống quốc tế. Các nước phải lựa chọn con đường phát triển theo sự định hình ý thức hệ. Tình trạng đối đầu giữa hai cực trên cơ sở ý thức hệ đã cản trở sự phát triển của thế giới và không phù hợp với xu hướng phát triển thành một “thế giới phẳng” của cộng đồng quốc tế. Câu 6. Hãy phân tích nguyên nhân, đặc điểm và hệ quả của cuộc Chiến tranh lạnh (1947- 1989). a) Nguyên nhân - Sự đối lập nhau về mục tiêu và chiến lược của hai cường quốc Liên Xô và Mĩ. + Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mang thế giới. + Mỹ ra sức chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, đẩy lùi phong trào cách mạng nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. - Mỹ hết sức lo ngại trước sự phát triển của chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, và nhất là sự thành công của cách mạng Trung Quốc. Chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới, trải dài từ Đông Âu đến phía Đông Bắc Á. - Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ vươn lên thành một nước tư bản giàu mạnh nhất, nắm ưu thế về vũ khí hạt nhân. Mĩ tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới. b) Đặc điểm của Chiến tranh lạnh - Chiến tranh lạnh là chính sách thù địch, căng thẳng trong quan hệ giữa Mĩ và các nước phương Tây với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Đó là “chiến tranh không nổ súng” nhưng luôn gây ra tình trạng căng thẳng trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, để thực hiện chính sách đối đầu của các nước đế quốc đối với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. - Nét nổi bật nhất của quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ II là tình trạng 2 cực hai phe, chịu tác động của trật tự hai cực Xô - Mĩ. c) Hệ quả - Sự đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường Xô- Mĩ mà đỉnh cao là cuộc chiến tranh lạnh, gây tình trạng căng thẳng, kéo dài và gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và chính trị không chỉ cho hai nước đó mà còn tác động đến hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. - Chiến tranh lạnh dẫn tới sự xác lập cục diện hai cực, hai phe do siêu cường Mỹ và Liên Xô đứng đầu mỗi cực, mỗi phe. Nội dung này đã trở thành nhân tố chủ yếu tác động và chi phối các quan hệ quốc tế trong hơn 4 thập kỉ của nửa sau thế kỉ XX. - Chiến tranh lạnh dẫn tới cuộc chạy đua vũ trang trong nhiều năm giữa Mĩ và Liên Xô; các quốc gia dân tộc cũng bị lôi kéo đứng về một trong hai phe, tham gia vào các tổ chức chính trị - quân sự, kinh tế... của hai phe. - Nhiều dân tộc bị lôi cuốn vào vòng xoáy của Chiến tranh lạnh, gây ra các cuộc chiến tranh cục bộ tàn khốc, đất nước bị chia cắt, tình trạng chạy đua vũ trang và sản xuất các loại vũ khí hủy diệt, gây tình trạng bất ổn ở các khu vực. 7
- Câu 7. Quan hệ Mỹ Liên Xô trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai có gì khác nhau Nêu những sự kiện chính trong 10 năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ 2 để làm rõ quá trình xác lập cục diện hai cực hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa? a. Quan hệ Mĩ - Liên Xô - Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai 1939-1945 Liên Xô và Mỹ hợp tác cùng nhau trong mặt trận đồng minh chống Phát xít - Sau chiến tranh thế giới thứ hai Liên Xô và Mỹ chuyển sang đối đầu và hai bên đã tiến tới của chiến tranh lạnh trong những năm 1947-1989. - Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình và an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới. - Mĩ thực hiện chiến lược toàn cầu nhằm bá chủ thế giới; Mĩ ra sức chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; muốn đẩy lùi phong trào cách mạng thế giới. b. Tình trạng Chiến tranh lạnh - Cục diện hai cực ở châu Âu: + Trong những năm 1945 – 1949, ở châu Âu đã xuất hiện hai khối nước đối lập về chính trị và kinh tế : Tây Âu tư bản chủ nghĩa và Đông Âu xã hội chủ nghĩa. Mĩ hậu thuẫn cho các nước tư bản Tây Âu, Liên Xô hậu thuẫn cho các nước Dân chủ nhân dân Đông Âu. + Ngày 12/3/1947, trong thông điệp của Tổng thống Truman đọc trước Quốc hội Mĩ, đã khẳng định : Sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ lớn đối với nước Mĩ và đề nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho hai nước Hi lạp và Thổ Nhĩ Kĩ. Mục đích của Mĩ muốn biến hai nước đó thành căn cứ tiền phương chống Liên Xô, các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu, mặt khác còn nhằm chuẩn bị điều kiện cho việc can thiệp vùng Trung Đông. Hành động của Mĩ đã gây nên tình trạnh căng thẳng ở khu vực châu Âu. + Tháng 6/1947, Mĩ đề ra kế hoạch Macsan với khoản viện trợ 17 tỉ USD giúp các nước Tây Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh. Qua kế hoạch này, Mĩ nhằm tập hợp các nước Tây Âu vào liên minh quân sự chống Liên Xô và các nước Đông Âu. + Tháng 1/1949 Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) được thành lập gồm Liên Xô và các nước Đông Âu nhằm tăng cường, thúc đẩy sự hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau về kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật giữa các nước thành viên. Việc thực hiện kế hoạch Macsan của Mĩ ở Tây Âu và sự ra đời của Hội đồng tương trợ kinh tế đã tạo ra sự phân chia đối lập về kinh tế và chính trị giữa các nước Tây Âu và Đông Âu. + Tương lai của nước Đức (bị các nước Đồng minh chiếm đóng) trở thành vấn đề trung tâm trong nhiều cuộc gặp giữa nguyên thủ ba cường quốc Liên Xô, Mĩ và Anh với những bất đồng sâu sắc. Mĩ, Anh và sau đó là Pháp đã tiến hành hợp nhất các khu vực chiếm đóng của mình, lập ra Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức (91949). Tháng 10-1949, Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức thành lập. Như thế, trên lãnh thổ nước Đức đã xuất hiện hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau. + Ngày4/4/1949, Mĩ thành lập khối quân sự - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Đây là liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây do Mĩ cầm đầu nhằm chống Liên Xô và các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa. 8
- + Tháng 5 – 1955, Liên Xô và các nước Đông Âu đã thành lập Tổ chức Hiệp ước Vácsava, một liên minh chính trị - quân sự mang tính phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu. Sự ra đời của NATO và tổ chức Hiệp ước Vacsava đã xác lập cục diện hai cực, hai phe. Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đầu Đông - Tây và cuộc chiến tranh lạnh trong nhiều thập kỉ kế tiếp. - Cục diện hai cực ở châu Á: + Trong những năm 1946-1949, cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân đảng bùng nổ. Lực lượng của Đảng Cộng sản được sự hậu thuẫn của Liên Xô, lực lượng của Quốc Dân đảng được sự giúp đỡ của Mĩ. Cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (1949), đánh dấu sự mở rộng của hệ thống XHCN thế giới. + Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp (1945 – 1954): Ngày 23/9/1945, Thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trở lại các nước Đông Dương. Nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia đoàn kết kháng chiến chống Pháp. Cuối năm 1949, đầu năm 1950, Mĩ viện trợ cho Pháp và can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Từ năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam có sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến tranh Đông Dương ngày càng chịu sự tác động của hai phe. - Hiệp định Giơnevơ 1954 đánh dấu thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, nhưng mặt khác cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe. + Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) ++ Năm 1948, hai chính quyền ở Triều Tiên được thành lập: Hàn Quốc ở phía Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ở phía Bắc được Mĩ và Liên Xô bảo trợ cho mỗi bên. Trên bán đảo Triều Tiên xuất hiện hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau. ++ Tháng 6/1950, quân đội Bắc Triều Tiên mở cuộc tấn công xuống phía Nam. Tháng 9/1950, quân đội Mĩ dưới danh nghĩa “quân đội Liên hợp quốc” đổ bộ vào Triều Tiên, đánh chiếm miền Bắc Triều Tiên. Tháng 10/1950, quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên “kháng Mĩ viện Triều”. - Tháng 7/1950, Hiệp định đình chiến được kí kết giữa Trung Quốc - Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên với Mĩ – Hàn Quốc. Cuộc chiến tranh Triều Tiên là sự đụng đầu trực tiếp giữa hai phe, không phân thắng bại. - Những sự kiện trên đã hình thành sự đối lập về kinh tế, chính trị và quân sự giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, dẫn tới sự xác lập cục diện hai cực, hai phe do siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi cực, mỗi phe. Câu 8. Trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỉ XX, những sự kiện nào biểu hiện xu thế hoà hoãn giữa phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa : Quan hệ giữa các nước ở Đông Nam Á trong thời gian này có gì thay đổi phù hợp với xu thế trên? 9
- a) Xu thế hòa hoãn giữa hai phe: - Từ đầu những năm 70 (thế kỉ XX), xu hướng hoà hoãn Đông - Tây đã xuất hiện với những cuộc gặp gỡ thương lượng Xô – Mĩ. + Trên cơ sở những thoả thuận Xô – Mĩ, Hiệp định về những cơ sở của quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức được kí kết (tháng 11/ 1972). + Năm 1972, Liên Xô và Mĩ kí Hiệp ước về việc hạn chế hệ thống phòng chống tên lửa (ABM) và Hiệp định hạn chế vũ khí tiến công chiến lược (SALT-1). + Tháng 8/1975, 33 nước châu Âu cùng Mĩ và Canađa kí Định ước Henxinki, khẳng định những nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia và tạo nên một cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh ở châu Âu. - Từ năm 1985 trở đi, Mĩ và Liên Xô đã đi đến kí kết các văn kiện hợp tác về kinh tế và khoa học - kĩ thuật. - Tháng 12/1989, tại đảo Manta (Địa Trung Hải) hai nhà lãnh đạo M. Goócbachốp (Liên Xô) và G. Busơ (Mĩ) đã chính thức tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh, mở ra những điều kiện để giải quyết các xung đột, tranh chấp ở nhiều khu vực trên thế giới. - Tình trạng Chiến tranh lạnh chỉ thực sự kết thúc sau khi Liên Xô tan rã (1991), trật tự hai cực không còn nữa. b) Quan hệ giữa các nước ở Đông Nam Á - Chiến tranh lạnh chấm dứt đã mở ra chiều hướng và những điều kiện giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp, xung đột đang diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới. - Vào thời điểm này, quan hệ giữa các nước Đông Dương và ASEAN bước đầu được cải thiện. Hai nhóm nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao và chuẩn bị những tiền đề cho ASEAN mở rộng kết nạp các nước thành viên. - Vấn đề Campuchia: tháng 10/1991, Hiệp định về một giải pháp chính trị ở campuchia đã được kí kết tại Pari, mở ra quá trình giải quyết cuộc tranh chấp ở đây bằng một giải pháp hòa bình. Từ năm 1995 đến năm 1999, các nước: Việt Nam, Lào, Campuchia và Mianma lần lượt gia nhập tổ chức ASEAN Câu 9. Nêu những thỏa thuận của các nước Mĩ, Anh và Liên Xô tại hội nghị Ianta (2/1945) về việc phân chia phạm vi đóng quân ở châu Á. Tác động của sự phân chia đó đến quan hệ quốc tế ở khu vực này trong thời kì Chiến tranh lạnh như thế nào? a. Quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á trong thời kì Chiến tranh lạnh. - Toàn bộ những quyết định của Hội nghị Ianta cùng những thỏa thuận sau đó của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ và Anh đã trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới từng bước được thiết lập trong những năm 1945-1947, thường được gọi là trật tự hai cực Ianta. Theo đó, thế giới được chia thành hai phe do hai siêu cường đứng đầu mỗi phe. Từ sự phân chia này đã dẫn tới tình trạng đối đầu Đông - Tây và cuộc chiến tranh lạnh trong nhiều thập kỉ kế tiếp. - Cuộc nội chiến ở Trung Quốc (1946-1949) 10
- + Trong những năm 1946-1949, cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân đảng bùng nổ. Lực lượng của Đảng Cộng sản được sự hậu thuẫn của Liên Xô, lực lượng của Quốc Dân đảng được sự giúp đỡ của Mĩ. + Cuộc nội chiến kết thúc với thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sự ra đời của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1949), đánh dấu sự mở rộng của hệ thống XHCN thế giới. - Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp (1945 – 1954): + Ngày 23/9/1945, Thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trở lại các nước Đông Dương. Nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia đoàn kết kháng chiến chống Pháp. + Cuối năm 1949, đầu năm 1950, Mĩ viện trợ cho Pháp và can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Từ năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam có sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến tranh Đông Dương ngày càng chịu sự tác động của hai phe. + Hiệp định Giơnevơ 1954 đánh dấu thắng lợi của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia, nhưng mặt khác cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe. - Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) + Năm 1948, hai chính quyền ở Triều Tiên được thành lập: Hàn Quốc ở phía Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ở phía Bắc được Mĩ và Liên Xô bảo trợ cho mỗi bên. Trên bán đảo Triều Tiên xuất hiện hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau. + Tháng 6/1950, quân đội Bắc Triều Tiên mở cuộc tấn công xuống phía Nam. Tháng 9/1950, quân đội Mĩ dưới danh nghĩa “quân đội Liên hợp quốc” đổ bộ vào Triều Tiên, đánh chiếm miền Bắc Triều Tiên. Tháng 10/1950, quân đội Trung Quốc tiến vào Triều Tiên “kháng Mĩ viện Triều”. + Tháng 7/1950, Hiệp định đình chiến được kí kết giữa Trung Quốc – Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên với Mĩ – Hàn Quốc. Cuộc chiến tranh Triều Tiên là sự đụng đầu trực tiếp giữa hai phe, không phân thắng bại. Mĩ (1954 - 1975) - Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ + Sau Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mĩ lôi kéo các nước đồng minh thân Mĩ tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc chiến tranh đó. + Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam được sự ủng hộ và hậu thuẫn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, đến năm 1975 giành thắng lợi hoàn toàn. Câu 10. Sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, tình hình thế giới có những biến đổi theo xu hướng nào? Theo anh (chị), sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, thời cơ và thách thức của các dân tộc trên thế giới là gì? a) Những biến đổi - Một là, Trật tự thế giới hai cực đã tan rã, trật tự thế giới mới đang trong quá trình hình thành và ngày càng theo xu thế đa cực với sự vươn lên của Mĩ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc... Từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX, xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Đó là một xu thế khách quan. 11
- - Hai là, sau Chiến tranh lạnh, hầu như các quốc gia đều điều chỉnh chiến lược phát triển, tập trung vào phát triển kinh tế để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia. Ngày nay, kinh tế đã trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế, là nền tảng cơ bản tạo nên sức mạnh lâu bền và thật sự của mỗi quốc gia. - Ba là, sự tan rã của Liên Xô đã tạo ra cho Mĩ một lợi thế tạm thời, giới cầm quyền Mĩ ra sức thiết lập trật tự thế giới “một cực” để Mĩ làm bá chủ thế giới. Nhưng trong so sánh lực lượng giữa các cường quốc hiện thời, Mĩ không để dùng thực hiện được tham vọng đó. - Bốn là, các nước lớn đã điều chỉnh mối quan hệ theo chiều hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp nhằm tạo nên một môi trường quốc tế thuận lợi, giúp họ vươn lên mạnh mẽ, xác lập một vị trí ưu thế trong trật tự thế giới mới. - Năm là, sau Chiến tranh lạnh, tuy hòa bình thế giới được củng cố, nhưng xung đột, tranh chấp và nội chiến lại xảy ra ở nhiều khu vực như bán đảo Bancăng, châu Phi và Trung Á. Vụ khủng bố ngày 11/ 9/ 2001 ở Mĩ đã gây ra những khó khăn, thách thức đối với hòa bình, an ninh của các dân tộc. b) Thời cơ và thách thức cho các dân tộc * Thời cơ - Xu thế này mở ra cơ hội hòa nhập cùng phát triển của các quốc gia dân tộc, theo đó nhiều khu vực các quốc gia đẩy mạnh quá trình liên kết chính trị - kinh tế, hợp tác và phát triển như EU, ASEAN ... - Bước sang thế kỉ XXI, với sự tiến triển của xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển, các dân tộc hi vọng về một tương lai tốt đẹp của loài người. Quan hệ quốc tế có nhiều biến chuyển tích cực, từ đối đầu chuyển sang đối thoại, thương lượng thoả hiệp với nhau để giải quyết các vụ xung đột, tranh chấp đang diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới bằng phương pháp hòa bình. - Chiến tranh lạnh chấm dứt, các quốc gia dân tộc có điều kiện tập trung vào phát triển kinh tế xây dựng sức mạnh thực lực của quốc gia, có nhiều cơ hội tham gia trong các hoạt động của khu vực và được sự ủng hộ của các nước trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ. * Thách thức - Cuộc tấn công khủng bố bất ngờ vào nước Mĩ ngày 11-9-2001 đã mở đầu cho một thời kì biến động lớn, đặt các quốc gia dân tộc đứng trước những thách thức của chủ nghĩa khủng bố. Nó đã gây ra những tác động to lớn, phức tạp đối với tình hình thế giới và các quan hệ quốc tế. - Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo bùng nổ, lan rộng và diễn ra ngày càng quyết liệt ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong đó, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan có điều kiện tăng cường hoạt động và trở thành nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện nay. Câu 11. Hãy nêu những nét chính về xu thế đa cực trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh a) Khái niệm xu thế đa cực đa cực 12
- - là một thuật ngữ trong quan hệ quốc tế, dùng để chỉ một trật tự thế giới có sự tham gia của nhiều nước, nhiều trung tâm, trong đó không một chủ thể nào áp đảo cũng như chi phối sự phát triển của thế giới. Trong trật tự đa cực, sự gia tăng vai trò của các trung tâm, tổ chức quốc tế phản ánh tương quan so sánh lực lượng mới trong quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh. b) Xu thế đa cực - Sau Chiến tranh lạnh, trật tự thế giới mới đang hình thành theo xu hướng đa cực, đa trung tâm với sự cạnh tranh giữa Mỹ, Trung Quốc, Liên bang Nga, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Ấn Độ,.. về sức mạnh, tầm ảnh hưởng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, đối ngoại. Tuy Mỹ vẫn là cường quốc số một thế giới, song Mỹ đã suy giảm sức mạnh tương đối trong tương quan so sánh với các cường quốc khác. - Nhóm nước đang phát triển có xu hướng tự chủ chiến lược về tài chính, công nghệ và an ninh – quốc phòng, tăng cường tầm ảnh hưởng của mình, ủng hộ thế giới đa cực. Thông qua quá trình hợp tác, liên kết, cạnh tranh, nhiều trung tâm, nhiều tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế mới đã hình thành, như: Nhóm các nước có nền kinh tế mới nổi (BRIC), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn - Hợp tác Á – Âu (ASEM), Cộng đồng ASEAN, Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Khu vực tự do thương mại châu Mỹ (FTAA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), - Xu thế đa cực, đa trung tâm đã góp phần củng cố hào bình, an ninh, giữ vững sự ổn định trật tự thế giới. Tuy vậy, hiện nay vẫn còn nhiều thách thức đặt ra trong quan hệ quốc tế. Câu 12. Đặc trưng nổi bật trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai là gì? Phân tích các nhân tố tác động đến sự hình thành trật tự thế giới mới sau khi “Chiến tranh lạnh” chấm dứt và Trật tự hai cực Ianta sụp đổ. a) Đặc trưng nổi bật trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai - Trong quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Trật tự thế giới hai cực Ianta đã được xác lập với đặc trưng nổi bật là thế giới bị chia làm hai phe – tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa - do hai siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi phe. Đặc trưng này hầu như bao trùm thế giới, là nhân tố hàng đầu chi phối nền chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế trong phần lớn nửa sau thế kỉ XX. - Sự đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường Xô – Mĩ và hai phe (XHCN-TBCN) trong tình trạng chiến tranh lạnh kéo dài tới hơn bốn thập kỉ, làm cho quan hệ quốc tế luôn trong tình trạng đối đầu căng thẳng. Nhiều cuộc chiến tranh mang tính khu vực đã bùng nổ có sự can thiệp hoặc hậu thuẫn của những nước lớn mà chủ yếu là Mĩ và Liên Xô. - Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia trên thế giới vẫn cùng tồn tại hòa bình, vừa đấu tranh vừa hợp tác. b) Nhân tố tác động đến sự hình thành trật tự thế giới mới 13
- - Sự phát triển về thực lực kinh tế, chính trị, quân sự của các cường quốc Mĩ, Nga, Nhật, Trung Quốc, Đức, Pháp trong cuộc chạy đua về sức mạnh quốc gia tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế là trụ cột. - Sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng thế giới (sự thành bại của công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa, sự vươn lên của các nước Á, Phi, Mĩ Latinh sau khi giành được độc lập, sự phát triển của phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới). Câu 13. Sau khi cuộc Chiến tranh lạnh kết thúc, những mâu thuẫn nào đã xuất hiện trong quan hệ quốc tế? - Trước hết, là mâu thuẫn về hệ tư tưởng: sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô tan rã, nhưng mâu thuẫn về ý thức hệ không vì thế mà mất đi. Trên bình diện quốc tế, các nước tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mĩ vẫn chưa từ bỏ ý đồ thực hiện “diễn biến hoà bình” với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba... - Thứ hai, đó là mâu thuẫn giữa các nước lớn xung quanh việc thiết lập một trật tự thế giới mới. Khác với các trật tự thế giới trước đây thường được thiết lập ngay sau khi chiến tranh kết thúc, trật tự thế giới mới đã không thể ra đời ngay sau khi Liên Xô tan rã. + Mặc dù Mĩ muốn thiết lập một trật tự thế giới đơn cực do Mĩ chi phôi, nhưng thực tế lịch sử dã không diễn ra theo ý muốn của Mĩ. + Liên Xô tan rã nhưng Liên bang Nga vẫn tiếp tục tồn tại với tiềm lực quân sự kế thừa Liên Xô cũ và không phải là một cường quốc bại trận để chấp nhận một trật tự thế giới do Mĩ áp đặt. Các cường quốc khu vực như Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc... không ngừng lớn mạnh và cố gắng tạo cho mình một vị thể đáng kể để chia sẻ quyền lực chi phối đời sống chính trị quốc tế. - Thứ ba, là mâu thuẫn về lợi ích dân tộc. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu. Mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ đều xuất phát từ lợi ích dân tộc để thể hiện quan điểm, thái độ riêng đối với các vấn đề quốc tế. - Thứ tư là mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo. Đây là mâu thuẫn đã từng tồn tại từ lâu đời trong lịch sử nhân loại. Xung đột sắc tộc, tôn giáo vốn được biết đến như những hậu quả của chính sách “chia để trị” của chủ nghĩa thực dân, đồng thời còn bắt nguồn từ sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, việc tranh giành ảnh hưởng quyền lực giữa các nhóm sắc tộc, sự xúi giục, kích động của một số thế lực bên ngoài... + Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo bùng nổ, lan rộng và diễn ra ngày càng quyết liệt ở các khu vực khác nhau trên thế giới. + Trong đó, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan có điều kiện tăng cường hoạt động và trở thành nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện nay. Xu hướng chính của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan là chống Mỹ và các nước phương Tây thân Mĩ, nhưng lấy thủ đoạn khủng bố làm vũ khí. + Chính sách đối ngoại hiếu chiến của chính quyền Mĩ đã khiến cho Mĩ trở thành đối tượng của chủ nghĩa khủng bố ở khắp mọi nơi trên thế giới. 14
- - Thứ năm, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển (mâu thuẫn Bắc - Nam) tiếp tục diễn ra gay gắt, khoảng cách giữa các nước giàu với các nước nghèo ngày càng lớn. Câu 14. Các xu thế phát triển của thế giới sau Chiến tranh lạnh là gì? - Sau Chiến tranh lạnh, hầu hết các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển lấy kinh tế làm trọng điểm. Xây dựng sức mạnh tổng hợp của quốc gia thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành giải pháp chủ yếu trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Ngày nay, kinh tế đã trở thành nội dung căn bản trong quan hệ quốc tế, là nền tảng căn bản tạo lên sức mạnh bền lâu và thật sự của mỗi quốc gia. - Các nước lớn đã điều chỉnh các quan hệ đối với nhau theo chiều hướng đối thoại, thỏa hiệp, tránh xung đột trực tiếp nhằm tạo nên một môi trường quốc tế thuận lợi, giúp họ vươn lên mạnh mẽ, xác lập một vị trí ưu thế trong trật tự thế giới mới. Mối quan hệ giữa các nước lớn ngày nay mang tính hai mặt: cạnh tranh và hợp tác. - Sau Chiến tranh lạnh, tuy hòa bình thế giới được củng cố nhưng ở nhiều khu vực vẫn diễn ra nội chiến và xung đột. Chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa li khai càng làm cho những nguy cơ này trầm trọng hơn. Nội chiến, xung đột, khủng bố, li khai ... bắt nguồn từ những mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo và tranh chấp lãnh thổ có những căn nguyên lịch sử nên việc giải quyết khó có thể dễ dàng và nhanh chóng. - Từ thập kỉ 80 thế kỉ XX, thế giới đã diễn ra ngày càng mạnh mẽ xu thế toàn cầu hóa. Đó là một xu thế khách quan, tạo nên thời cơ thuận lợi và những gay gắt, nhất là đối với các nước đang phát triển. thách thức. Câu 15. “Hiện nay, cục diện thế giới theo xu hướng đa cực, đa trung tâm diễn ra nhanh hơn”. Theo em, xu thế đó mang lại những cơ hội nào cho Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước? + Với yêu cầu chứng minh nhận định, HS nêu được những ý sau: Sự vươn lên mạnh mẽ của các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản,...; sự phát triển của quá trình hợp tác, liên kết trong bối cảnh toàn cầu hoá đã hình thành nhiều trung tâm, nhiều tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế mới có vai trò ngày càng lớn đối với sự phát triển của thế giới, tiêu biểu là: Nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20); Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM) gồm các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc..., hiện nay ASEM có 53 nước thành viên. Đồng thời, quá trình này diễn ra ngày càng nhanh hơn dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình toàn cầu hoá. + Với yêu cầu liên hệ với thực tế Việt Nam, cần nêu được: Xu thế đa cực, đa trung tâm tạo ra cơ hội để Việt Nam hội nhập sâu rộng và hợp tác kinh tế với các nước, các trung tâm trên thế giới. Việt Nam đã tham gia ASEAN, WTO,... và là thành viên tích cực trong nhiều tổ chức quốc tế khác. ------------------------ HẾT ------------------------ 15

