Đề cương ôn tập cuối học kì I Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2024-2025
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập cuối học kì I Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2024-2025", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_cuoi_hoc_ki_i_ngu_van_lop_12_nam_hoc_2024_20.pdf
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập cuối học kì I Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2024-2025
- TỔ NGỮ VĂN ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ I MÔN NGỮ VĂN 12 NĂM HỌC 2024-2025 A. BẢNG NĂNG LỰC VÀ CẤP ĐỘ TƯ DUY ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I TT Yêu cầu kiểm Số câu Cấp độ tư duy tra Nhận biết Thông hiểu Vận dung Tổng Số câu Tỉ lệ Số câu Tỉ lệ Số câu Tỉ lệ % 1 Đọc hiểu 6 2 15% 3 25% 1 10% 50% 2 Viết (Bài văn) 1 10% 20% 20% 50% Tỉ lệ % 25% 45% 30% Tổng 7 100% B. KIẾN THỨC CHUNG I. KIẾN THỨC VỀ THỂ LOẠI Bài 1. KHẢ NĂNG LỚN LAO CỦA TIỂU THUYẾT (Xem lại đề cương ôn tập giữa học kì 1) BÀI 2. NHỮNG THẾ GIÓI THƠ (Xem lại đề cương ôn tập giữa học kì 1) BÀI 3. LẬP LUẬN TRONG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN BÀI 4. YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG TRUYỆN KỂ Thể loại Yếu tố kì ảo trong truyện kể Các văn bản đã học - Hải khẩu linh từ – Đền thiêng cửa bể (Trích – Đoàn Thị Điểm) - Muối của rừng (Trích – Nguyễn Huy Thiệp) Đặc Truyện - Truyện truyền kì là thể loại văn xuôi tự sự có nguồn gốc từ văn học điểm truyền kì Trung Quốc được tiếp nhận và phát triển ở các nước thuộc khu vực chịu thể loại ảnh hướng văn hoá Hán. Thuật ngữ truyền kì xuất hiện vào cuối đời Đường, dùng để định danh một loại truyện mới, được phát triển từ loại truyện chí quái, chí dị vốn hình thành trước đó. - Truyện truyền kì phát triển trên nền tảng thần thoại, truyền thuyết,... của văn học dân gian và những tin ngưỡng văn hoà trong đời sống tinh thần của các dân tộc. - Trong truyện truyền kì yếu tố kì ảo được sử dụng như một phương thức nghệ thuật có tính đặc thù nhằm thể hiện các vấn đề của thực tại. Yếu tố kì - Trong truyên truyền kì, yếu tố kì ảo hiện diện ở mọi thành phần cấu tạo ảo trong chủ yếu của tác phẩm như nhân vật, sự việc và cả ở thủ pháp nghệ thuật. truyện + Nhân vật kì ảo. Nhân vật có thể có năng lực siêu nhiên, xuất thân kì lạ, truyền kì diện mạo khác thường, hành tung biển hoá... Trong truyện truyền kì, nhân vật kì ảo và nhân vật phàm trấn đối thoại, tương tác với nhau một cách tự nhiên, không có sự cách biệt. Thân phận (khác thường, lạ lùng) của con người cũng trở thành một đối tượng phản ánh đặc biệt, nhâm thể hiện các ý niệm, khắc hoa bức tranh phong phú về đời sống. Nếu như nhân vật trong thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích và truyên chỉ quái thương thuộc về một tuyến nhất định (xấu - tốt, cao cả - thấp hèn, và có tính chức năng (do vậy mà hành động khá đơn điệu) thì nhân vật trong truyên truyền kì được chú trọng xây dựng với những góc cạnh đa dạng, thể hiện dụng ý nghệ thuật thâm thuý.
- 2 + Sự việc kì ảo. Các biến cố, sự kiện, hành động kì ảo liên kết với nhau thành chuỗi, tạo nên cốt truyện có tính chất li kì, huyền hoặc. Sự việc kì áo thường xảy ra trong một không gian và thời gian khác lạ, bất thường. Về không gian, có không gian côi tiên với cảnh tượng kì thú, không gian âm phủ với khung cảnh hãi hùng, thiên nhiên sóng cuộn gió gào gợi cảm giác sợ hãi... Về thời gian, có thời gian ban đêm mang đến ấn tượng huyền bị, thời gian hư ảo gợi ấn tượng về sự tĩnh tại, vình hàng... Cốt truyện của truyện truyền kì thường gần chặt với các yếu tố văn hoá, tín ngưỡng, truyền thống lịch sử của từng dân tộc + Thủ pháp nghệ thuật. Sự kết hợp linh hoạt giữa yếu tố kì ảo (thường được nhận diện tương đối gồm kì – kì lạ, khác thường, siêu phàm và quái - quái dị, ma quỹ, yêu tình,...) với yếu tố thực là thủ pháp quan trọng của truyện truyền ki. Biểu hiện cụ thể là sự hoà trộn không gian các cõi (thần tiên, trần tục, âm phủ), sự thống nhất về thời gian thực và mộng, biến động xoay vẫn và tình tại bất biến. Việc sử dụng giấc mộng, đan xen thực tại với hồi ức cũng là thủ pháp khá phố biển giúp các tác giả tạo dựng nên một thế giới nghệ thuật có tình phức hợp - Truyện truyền kì chủ yếu hướng đến các nội dung xã hội - lịch sử. Do đó, yếu tố kì ảo được tác giả sử dụng như một phương thức nhằm lí giải một nội dung hiện thực nhất định, yếu tố kì ảo tham gia vào câu chuyện đã tạo nên sự lôi cuốn, sức hấp dân, sự li ki của tác phẩm. Trong truyện hiện đại, yếu tố kì ảo vẫn được các nhà vàân tiếp tục khai thác, sử dụng theo nhiều cách thức khác nhau. Đặc đểm - Truyện truyền kì thường có sự đan xen tản văn với biền văn và vận văn. ngôn ngữ Trong một truyện, có thể xuất hiện nhiều "tác phẩm" biến vân hoặc thơ trong ca được dẫn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, phụ thuộc vào tình tiết, truyện diễn biến của câu chuyện hoặc đối thoại giữa các nhân vật. truyền kì - Những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ truyện truyền kì: + Thường sử dụng lối nói so sánh - ẩn dụ, ưa hình thức biểu đạt cầu kì, khoa trương, phóng đại + Chuộng ngôn từ hoa mĩ, dùng nhiều điền cố, hình ảnh biểu trưng... BÀI 5. TIẾNG CƯỜI CỦA HÀI KỊCH Thể loại Tiếng cười của hài kịch Các văn bản đã học - Nhân vật quan trọng (Trích Quan thanh tra – Ni-cô-lai Gô-gôn – Nikolai Gogol) - Giấu của (Trích Quẫn – Lộng Chương) Đặc điểm Hài kịch - Hài kịch là một thể loại kịch, dùng tiếng cười để chế giễu những thói thể loại tật, hiện tượng đáng phê phán (vụ lợi, kệch căm, cực đoan, lạc hậu, ảo tưởng...) vốn đi chệch các chuẩn mực tốt đẹp của con người và cộng đồng. Tiếng cười hài kịch cất lên từ sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành
- 3 động và hoàn cảnh, tham vọng cá nhân và các khả năng thực hiện, tức là từ những cái ngô nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí. - Hài kịch có thể được triển khai theo các hướng khác nhau tuỳ theo tính chất của tiếng cười nhằm vào đối tượng: từ tiếng cười bông đùa, hài hước đến tiếng cười châm biếm, mla mai hay tiếng cười lật tấy, tố cáo, đã kích. - Băng tiếng cười phủ nhận "những thiếu sót không nên có", hài kịch muốn làm thay đổi cách nhìn của người đọc, người xem về một hiện tượng xã hội nào đó, khẳng định lối sống lành mạnh, lạc quan, hợp với lệ phái và tiến bộ xã hội. Bởi vậy, hài kịch nhất thiết phải đưa ra một kết cục có hậu, vui vẻ đối với người đọc, người xem. Nhân - Nhân vật trong hài kịch là những nhân vật tiêu biểu cho một thói tật vật, tình đáng cưới, đăng phê phán, hoặc những nhân vật thường xuyên lầm lẫn, huống, có cách ứng xử không phủ hợp với hoàn cảnh thực tế. Nhân vật hài xung kịch hiếm khi là kẻ cùng hung cực ác, mà phố biến hơn là người có đột, khiếm khuyết, sai lầm cần khắc phục. Những nhân vật hài kịch như vậy hành có tính cách nhất quán, được xây dựng theo lối cường điệu, tô đậm nét động và đáng cưới, chứ không được khai thác qua toàn bộ tiểu sử. Trong hài kết cấu kịch còn có thể xuất hiện một số nhân vật chăm chích, pha trò hài hước, hài kịch hay nhân vật đại diện cho một lực lượng đối kháng tiến bộ nào đó, song đó thường chỉ là những nhân vật phụ - Tình huống hài kịch là những tình huống hài hước diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt, thế sự với những toan tình đời thường, làm nổi bật những thói tật đáng cưới của con người. Tình huống hài kịch còn có thể là những tình huống hiểu lầm, trớ trêu, đỡ khóc dở cười, song không bi đát và luôn có thể được giải quyết tốt đẹp. - Xung đột trong hài kịch thường được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa những tham vọng, toan tỉnh vật chất, mưu kế tầm thường, bất chấp đạo đức, lẽ phải... (phần nhiều là áo tưởng) với những chuẩn mực và tiến bộ xã hội. Xung đột trong hài kịch dù căng thẳng đến mấy, cũng luôn có khả năng được giải quyết theo hướng cái xấu, cái không hoàn thiện bị phủ nhận, cái tốt đẹp, tiến bộ được khẳng định. Hành động trong hài kịch chủ yếu là hành động bên ngoài, những toan tính, mưu mô của nhân vật đều bộc lộ hết ra lời (hài kịch không nhấn mạnh trăn trở nội tâm – hành động bên trong). Hành động trong hài kịch hướng tới tô đậm nét tính cách chủ đạo của nhân vật hay tỉnh chất cực đoan của những mưu mô, toan tính, chứ không phải làm nổi bật sự kiện, bởi vậy, diễn biến hành động qua mỗi hồi kịch thường mở ra các bình diện khác nhau của cái đăng cười hơn là thúc đấy xung đột đi tới hỏi kết. Kết cấu hài kịch thông thường được tổ chức trên cơ sở một hành động kịch nhất quán: mở đầu bằng việc giới thiệu các nhân vật với thói tật và những toan tính, mưu mô, áo tường của họ, thắt nút theo cách đưa
- 4 các nhân vật vào tình huống khó xử, đấy xung đột đi tới đỉnh điểm theo đà thắng thế của toan tính, ảo tưởng, giải quyết xung đột bằng một mưu mẹo hay một yếu tố ngẫu nhiên để bước vào kết thúc với sự sụp đổ của những toan tính, ảo tưởng đáng cười. Thủ - Thủ pháp trào phúng bao gồm các cách thức bất ngờ làm bật lên tiếng pháp cười giễu cợt, mỉa mai, châm biếm, hạ thấp đối tượng. Hài kịch thường trào sử dụng những thủ pháp trào phúng như tạo tình huống hiểu lầm hài phúng hước, trớ trêu, phòng đại cử chỉ, điệu bộ, thôi tật, tạo tương phản gây và ngôn cười (hoàn đối các cảnh, các vị trí nhân vật, đó vật một cách nghịch lí, từ trong cải trang lộ liễu, đột ngột biến dạng bắt cân xứng,... hài kịch - Về ngôn từ, cả trong chỉ dẫn sân khấu, cách gọi tên nhân vật, cũng như trong lời đối thoại, độc thoại, hài kịch sử dụng rất nhiều biện pháp như cường điệu, tương phản, lập, nhại, chơi chữ, nói bóng gió, nói lái, nói quá, nói lỡ, nói không ra tiếng,... - Đối thoại trong hài kịch có khi được tổ chức theo kiều đối chọi chan chát, "ăn miếng trả miếng" trong tình huống các nhân vật tố cáo lần nhau, có khi được triển khai xoay quanh tình huống "ông nói gà, bà nói vịt thể hiện sự lệch kênh về ý thức, cũng có khi đột ngột bỏ lửng lời thoại khiến người đọc, người xem bật cười. II. KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT Nội dung thực hành Khái niệm hay quy tắc cần nắm Ý nghĩa của hoạt động thực hành vững 1. Biện pháp tu từ - Nói mỉa: là biện pháp tu từ thể + Tác dụng: nhấn mạnh sự phát hiện nói mỉa, nghịch hiện thái độ mỉa mai hay sự đánh mới hay cảm nhận, liên tưởng chủ ngữ: đặc điểm và giá mang tính phủ định ngầm ẩn quan của người nói, người viết về tác dụng của người nói, người viết về sự vật, một đối tượng vốn có thể được nhìn sự việc được đề cập nhận khác hẳn. - Nghịch ngữ: là biện pháp tu từ, ở + Nghịch ngữ thường xuất hiện đó người nói, người viết dùng một trong nói mỉa. cụm từ gây ấn tượng mạnh làm nổi bật tính chất hai mặt của một tình thế, tâm trạng, hoặc phát lộ sự thật về đối tượng theo quan điểm của mình. + Nghĩa của nghịch ngữ đối lập với nghĩa của các cụm từ khác trong câu hoặc trong các câu khác gần kề. 2. Tác dụng của Nắm vững các biện pháp tu từ Tác dụng của từng biện pháp được một số biện pháp tu thường xuất hiện trong thơ: nhân sử dụng trong thơ ( Hinh thức, Nội từ trong thơ hóa, ẩn dụ, điệp ngữ, đối lập .. dung, thái độ, tình cảm của tác giả) 3. Lỗi logic, lỗi câu Câu mắc lỗi lo gic là câu có sự mâu Nhận biết được lỗi lôgic, lỗi câu mơ mơ hồ và cách sửa thuẫn giữa các ý được trình bày, lẫn hồ và đưa ra được cách sửa. lộn các bình diện khi nói về đối
- 5 tượng, đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng Câu mơ hồ là câu khiến người đọc có thể hiểu theo những cách khác nhau 4. Nghệ thuật sử Điển cố là những từ ngữ, hình ảnh, Nhận diện được điển cố trong tác dụng điển cố trong hoặc câu chuyện mang tính biểu phẩm văn học và phân tích được tác tác phẩm văn học tượng, thường xuất hiện trong văn dụng của điển cố học, có nguồn gốc từ các tác phẩm kinh điển, lịch sử, hoặc văn hóa. 3. KIẾN THỨC VIẾT Kiểu bài Yêu cầu của kiểu bài Dàn ý 1. Viết bài văn + Nêu được mục đích và cơ sở - Mở bài: nghị luận so của việc so sánh, đánh giá hai + Giới thiệu hai tác phẩm truyện được xác sánh, đánh giá tác phẩm truyện. định là đối tượng của sự so sánh, đánh giá; hai tác phẩm + Trình bày được các thông nêu mục đích và cơ sở của việc so sánh, đánh truyện tin khái quát về hai tác phẩm giá này. truyện. - Thân bài: + Làm rõ được những điểm Luận điểm 1. Thông tin chung về từng tác tương đồng và khác biệt giữa phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt hai tác phẩm truyện xét trên truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời một số phương diện nội dung sống văn học,... và hình thức cụ thể theo mục Luận điểm 2. Những điểm tương đồng, khác đích và phạm vi đã xác định. biệt giữa hai tác phẩm truyện và điều kiện + Rút ra được những nhận làm nên sự khác biệt ấy xét, đánh giá cần thiết, phù Luận điểm 3. Đánh giá chung về sự tương hợp về hai tác phẩm truyện đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và căn cứ vào kết quả so sánh. khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm.- + Nêu được ý nghĩa của việc - Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các đánh giá hai tác phẩm truyện tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương thông qua việc so sánh. quan so sánh.. 2. Viết bài văn Mục đích so sánh, đánh giá: - Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về hai bài thơ nghị luận so Chỉ ra những điểm tương đồng và nêu cơ sở lựa chọn để so sánh, đánh giá.- sánh, đánh giá và khác biệt giữa các đối - Thân bài: Cần triển khai các ý: hai tác phẩm tượng so sánh, từ đó nêu được - Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn thơ những giá trị đặc sắc, các yếu cảnh ra đời, đề tài, vị trí của tác phẩm trong tố cách tân và đóng góp mới đời sống văn học,... mẻ của từng tác giả, tác phẩm. - Có thể triển khai các nội dung so sánh, đánh - Yêu cầu của kiểu bài: giá theo những cách sau: + Giới thiệu ngắn gọn về hai + Cách 1: Lần lượt phân tích từng bài thơ, tác phẩm thơ, nêu được những sau đó chỉ ra điểm tương đồng, sự gặp gỡ và
- 6 cơ sở lựa chọn hai tác phẩm để những điểm khác biệt, lí giải nguyên nhân so sánh, đánh giá. của sự tương đồng và khác biệt đó; đồng thời + Làm sáng tỏ những điểm đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài tương đồng và khác biệt giữa thơ. hai bài thơ được chọn để so + Cách 2: Phân tích bài thơ thứ nhất theo các sánh; có bằng chứng cụ thể, đa phương diện đã xác định, khi phân tích bài dạng từ hai tác phẩm. thơ thứ hai sẽ so sánh với bài thơ thứ nhất + Đưa ra những nhận xét, đánh theo từng phương diện và lí giải nguyên nhân giá thuyết phục về ý nghĩa và của những điểm tương đồng và khác biệt giữa những đóng góp riêng, đặc sắc hai bài thơ, từ đó, đánh giá về giá trị và đóng của mỗi tác phẩm thơ dựa trên góp của mỗi bài thơ. các nội dung được so sánh. + Cách 3: So sánh lần lượt các phương diện + Nêu khái quát kết quả và ý đã lựa chọn đối với hai bài thơ, chỉ ra điểm nghĩa của việc so sánh, đánh tương đồng và khác biệt; lí giải nguyên nhân giá sự tương đồng và khác biệt đó; đánh giá về giá trị và đóng góp của mỗi bài thơ từ các nội dung so sánh. - Đánh giá: + Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm. + Khẳng định sự đóng góp của hai tác phẩm, hai tác giả - Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của việc so sánh, đánh giá; nêu cảm nhận và ấn tượng của bản thân về các bài thơ. 3. Viết bài văn - Nêu được vấn để có ý nghĩa, - Mở bài: Giới thiệu vấn đề liên quan đến nghị luận về liên quan đến những hoài bão, tuổi trẻ, nêu quan điểm của người viết về vấn một vấn đề liên ước mơ của tuổi trẻ để bàn đề đó. quan đến tuổi luận. - Thân bài: Cần triển khai các ý: trẻ (những hoài - Trình bày được hệ thống - Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản bão, ước mơ) luận điểm hợp lí, chặt chẽ; sử chất vấn đề cần bàn luận. dụng lí lẽ sắc bén, bằng chứng - Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Vì sao xác đáng; biết phối hợp hiệu vấn đề này thiết yếu đối với tuổi trẻ? Vấn đề quả các thao tác: chứng minh, gợi cho tuổi trẻ những suy nghĩ và hành động bình luận, bác bỏ, giải thích, như thế nào? Cần có những điều kiện gì để phân tích, so sánh để tăng sức tuổi trẻ thực hiện yêu cầu mà vấn đề nêu ra?). thuyết phục cho bài viết. - Với từng luận điểm, cần dùng lí lẽ và bằng - Nêu và phản bác được ý kiến chứng phù hợp để lập luận nhằm tạo nên sức trái chiều có thể có về vấn để thuyết phục của bài viết. được bàn luận nhằm củng cố quan điểm của nguời viết.
- 7 - Kết bài gây ấn tượng đối với - Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn người đọc, thúc giục tuổi trẻ đề, bác bỏ ý kiến trái ngược để củng cố quan hành động. điểm của mình. - Định hướng hành động của bản thân sau khi nhận thức về vấn đề. - Kết bài: Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân. 4. Viết bài văn - Giới thiệu chung về tác phẩm - Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn các thông tin nghị luận về được lựa chọn; mối quan hệ về tác giả, tác phẩm, trọng tâm vấn đề (khía việc vay mượn giữa tác phẩm đó với tác phẩm cạnh nào của sự vay mượn – cải biến) mà bài – cải biến – mà nó đã chịu ảnh hưởng. viết bàn luận. sáng tạo trong - Chỉ ra và phân tích được các - Thân bài: Cần triển khai các ý: một tác phẩm phương diện, khía cạnh chủ Nhận diện về phạm vi, tính chất của việc tiếp văn học yếu của sự tiếp nhận, chịu ảnh nhận, chịu ảnh hưởng. hưởng,... trong tác phẩm. Phân tích, đánh giá sự vay mượn, tiếp nhận, Chỉ ra và phân tích được chịu ảnh hưởng trên các phương diện cụ thể. những điểm cách tân, sáng tạo Phân tích, đánh giá những điểm cải biến, của tác giả khi tiếp nhận ảnh sáng tạo của tác giả trong quá trình vay hưởng từ tác phẩm khác. mượn. - Đánh giá giá trị của tác phẩm - Kết bài: Ý nghĩa của việc tìm hiểu về sự xét trên phương diện tiếp nhận vay mượn và cải biến trong tác phẩm. Nêu và sáng tạo dựa vào các dẫn đánh giá chung và hướng khám phá, tìm tòi chứng cụ thể. tiếp theo. C. MỘT SỐ CÂU HỎI LUYỆN TẬP I. DẠNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU 1. Đọc hiểu về thơ Đề 1. Đọc đoạn trích sau Phố của ta Anh thợ điện trên mái nhà mắc dây Những cây táo nở hoa Bà giáo về hưu ngồi dịch sách Mùa thu đấy Dậy cậu con trai học tiếng Pháp Thân cây đang tróc vỏ Suốt ngày chào: bông-dua Con đường lát đá Nghiêng nghiêng trong sương chiều Phố của ta Phố nghèo của ta Năm nay cà chua chín sớm Những giọt nước sa Trên quầy hàng đỏ hồng Trên cành thánh thót Chị thợ may đi lấy chồng Lũ trẻ trên gác thượng Chị thợ may góa bụa Thổi bay cao bao bong bóng xà phòng. Năm nay thôi mặc đồ đen. Em chờ anh trước cổng
- 8 Bác đưa thư, có thư ai đấy? Con chim sẻ của anh Bác đưa thư kéo chuông Con chim sẻ tóc xù Ti gôn hoa nhỏ Đừng buồn nữa nhá Rụng đầy trước hiên Bác thợ mộc nói sai rồi Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa Riêng bác thợ mộc già buồn bã Tại sao cây táo lại nở hoa Thở khói thuốc lên trời Sao rãnh nước trong veo đến thế? Con chim sẻ tóc xù ơi Bác thợ mộc nói sai rồi. ( “Phố ta” – Lưu Quang Vũ, “Hương cây – bếp lửa”, NXB Văn học, 1968) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của bài thơ. Câu 2. Hãy tìm 5 đối tượng được nhắc đến trong bài thơ. Câu 3. Từ nội dung các dòng thơ, anh/chị hãy nhận xét về tình cảm của nhân vật trữ tình anh đối với em: Con chim sẻ của anh Con chim sẻ tóc xù Đừng buồn nữa nhá Bác thợ mộc nói sai rồi Câu 4. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng những câu hỏi trong đoạn Nếu cuộc đời này toàn chuyện xấu xa Tại sao cây táo lại nở hoa Sao rãnh nước trong veo đến thế? Con chim sẻ tóc xù ơi Bác thợ mộc nói sai rồi. Câu 5. Nhận xét về tình cảm, thái độ của nhân vật trữ tình anh đối với phố ta trong bài thơ. Câu 6. Hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa từ bài thơ. Đề 2. Đọc đoạn trích sau Trời mưa lạnh tay em khép cửa Khi anh vắng, bàn tay em biết nhớ Em phơi mền, vá áo cho anh Lấy thời gian đan thành áo mong chờ Tay cắm hoa, tay để treo tranh Lấy thời gian em viết những dòng thơ Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc. Để thấy được chúng mình không cách trở... Năm tháng đi qua mái đầu cực nhọc Bàn tay em, gia tài bé nhỏ Tay em dừng trên vầng trán lo âu Em trao anh cùng với cuộc đời em. Em nhẹ nhàng xoa dịu nỗi đau Và góp nhặt niềm vui từ mọi ngả. (Trích Bàn tay em, Xuân Quỳnh, Những nhà thơ Việt Nam thời chống Mỹ, NXB Kim Đồng, 2007, tr. 158-159) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Nêu dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích?
- 9 Câu 2. Trong đoạn trích hình ảnh đôi bàn tay em gắn liền với những công việc thường nhật nào? Câu 3 . Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong khổ thơ thứ nhất: Trời mưa lạnh tay em khép cửa Em phơi mền, vá áo cho anh Tay cắm hoa, tay để treo tranh Tay thắp sáng ngọn đèn đêm anh đọc. Câu 4 . Em hiểu câu thơ sau như thế nào: "Bàn tay em, gia tài bé nhỏ" ? Câu 5. Nhận xét về tình cảm của nhân vật trữ tình anh dành cho em? Câu 6 . Từ hình ảnh "bàn tay em", anh/ chị có suy nghĩ gì về vai trò của người phụ nữ trong xã hội hiện nay. 2. Đọc hiểu văn bản truyện Đề 1. Đọc văn bản sau: ( ) Bữa cơm ngon lành quá. Tâm ngồi ăn dưới con mắt hiền từ và mến thương của mẹ. Các em cô quây quần cả chung quanh, hỏi chuyện chợ búa của chị. Tâm ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt ngây thơ lóng lánh dưới mái tóc tơ của các em: cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi các em ăn học. Cô hỏi han sách vở của thằng Lân và thằng Ái, học lớp 3 ở trường làng. Ngày trước, thời còn sung túc, cô cũng đã cắp sách đi học, và về nhà lại được ông Tú dạy thêm chữ Nho. Nhưng đã lâu, cô rời bỏ quyển sách để bước chân vào cuộc đời rộng rãi hơn, khó khăn và chặt chẽ. Buôn bán bây giờ mỗi ngày một chật vật, bởi cô ít vốn. Tất cả gánh hàng của Tâm chỉ đáng giá hai chục bạc. Giá nàng có nhiều tiền để buôn vải bán các chợ như Liên - Thôi, các em đi ngủ đi, mai còn dậy sớm mà đi học chứ. Lân cười, trả lời chị: - Mai chủ nhật cơ mà, chị quên rồi à? Tối nay em thức khuya để nói chuyện với chị. Nhưng một lát sau, trong căn nhà yên tĩnh, chỉ còn Tâm và bà Tú ngồi trên phản: cô kiểm điểm và xếp đặt lại các thứ hàng để mai đi phiên chợ Bằng chính. Những thứ hàng nho nhỏ, khác nhau và xinh xắn: cuộn chỉ, bao kim, hộp bút, cúc áo, giấy lơ, một trăm thứ lặt vặt qua lại trên ngón tay nhỏ bé của thiếu nữ, vừa quý báu lại vừa ít ỏi. Mỗi thứ đối với Tâm có một linh hồn riêng, và cô hàng lờ mờ đoán hiểu trong thâm tâm những khó nhọc và công của đã làm thành chúng. Tâm đã thêm vào vài thức hàng mới, bắt đầu bán được ở chợ: phấn xoa mặt, dầu bôi tóc, và son thoa môi. Cô ngắm nghía trên tay cái ống sáp con bằng đồng – hào rưỡi một cái – đựng một chất đỏ thơm làm thắm tươi môi các thiếu nữ ở trên tỉnh. Đôi khi trong buổi chợ Tâm đã được thấy một vài cô gái tỉnh về quê, da trắng, môi đỏ, lịch sự và sang trọng. Có lần, một đêm khuya, Tâm đã lấy sáp bôi lên môi mình và ngắm trộm bóng trong chiếc gương tròn nhỏ Cô Ba. Cô hơi thẹn thấy bóng mình trong đó, với đôi môi đỏ như sẫm máu - Độ này, hàng có bán được không, con? - Thưa u, cũng khá ạ. Chị Liên bán vải cũng chẳng đẹp bằng. Tâm biết mình xinh nhất chợ. Bọn con trai thường hay quanh quẩn chỗ cô ngồi và buông lời chòng ghẹo. Nhưng cô không để ý: Tâm thấy vững vàng ở giá trị lòng cao quý của mình. Nàng đã đảm đang nuôi cả một nhà, với lại, trừ phi là cô gái hư không kể, còn ai ở địa vị nàng cũng phải tảo tần buôn bán như thế. Làm việc,
- 10 đối với Tâm, là cái lệ chung của người ta. Cô thấy chung quanh toàn những người đàn bà chịu khó làm ăn vất vả để nuôi chồng, nuôi con. Không bao giờ Tâm nghĩ cho mình, cho cuộc đời riêng của cô. Trong nhà đã ngủ yên tĩnh cả rồi. Trên án thư, bên cạnh ngọn đèn hoa kì, chồng sách và cái ống bút của Lân, Ái che khuất ánh sáng. Các em nàng! Những đứa em thông minh và ngoan ngoãn quá. Không biết nàng có tảo tần mãi được để kiếm tiền mua giấy bút cho chúng ăn học không? Tâm mơ màng nghĩ đến sự thành công của các em sau này: đỗ đạt rồi đi làm trên tỉnh giúp thầy mẹ. Nhà nàng lại được sung túc và mát mặt như xưa. Tất cả những nỗi lo lắng lui đi và tâm hồn giản dị của thiếu nữ được nghỉ ngơi yên tĩnh. ( ) (Trích truyện ngắn Cô hàng xén, Tuyển tập Thạch Lam) Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Câu chuyện trong văn bản được kể theo ngôi kể nào? Câu 2. Nhân vật Tâm làm công việc gì? Câu 3. Chi tiết sau góp phần thể hiện điều gì trong tính cách của nhân vật Tâm? “Tâm ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt ngây thơ lóng lánh dưới mái tóc tơ của các em: cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi các em ăn học. Cô hỏi han sách vở của thằng Lân và thằng Ái, học lớp 3 ở trường làng.” Câu 4. Trong câu văn sau: “Cô ngắm nghía trên tay cái ống sáp con bằng đồng – hào rưỡi một cái – đựng một chất đỏ thơm làm thắm tươi môi các thiếu nữ ở trên tỉnh.” tác giả đã sử dụng phép tu từ gì và nó có tác dụng biểu đạt như thế nào? Câu 5. Anh/chị có quan điểm như thế nào về suy nghĩ của nhân vật Tâm “Không bao giờ Tâm nghĩ cho mình, cho cuộc đời riêng của cô.”? Câu 6. Từ nội dung văn bản Đọc hiểu, anh/chị hãy rút ra bài học có ý nghĩa nhất cho bản thân (Viết đoạn văn khoảng 5-7 dòng) Đề 2. Đọc đoạn trích sau: Như Từ, từ khi bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương Nam. Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng: - Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu. Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng: - Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào? Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói: - Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chốn làng mây bến nước. Giáng Hương khóc mà nói:
- 11 - Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa. Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói: - Không ngờ chàng lại mắc mớ vì mối lòng trần như vậy. Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói: - Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình ngày cũ. Rồi tràn nước mắt mà chia biệt. Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc mầu xanh thủa nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói: - Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi. Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: "Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên bể dịp khác còn đâu!" mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất. (Trích Từ Thức, Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Trúc Khê - Ngô Văn Triện. NXb Trẻ & Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TP. HCM, in lại năm 1988) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định ngôi kể của đoạn trích. Câu 2. Liệt kê 2 chi tiết có tính chất kì ảo trong đoạn trích Câu 3. Những đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được; Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về Những câu văn trên cho thấy đặc điểm nào của ngôn ngữ truyện truyền kì? Câu 4. Lí giải sự lựa chọn của Từ Thức: Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất. Câu 5. Rút ra một thông điệp có ý nghĩa từ văn bản. 3. Đọc hiểu văn bản nghị luận Đọc văn bản sau: (1)Thiếu vắng tình yêu thương thì sống ở đời đã khó, làm nghề giáo thì khó biết nhường nào. Thầy mong rằng, mai kia ra đời, hãy dạy cho trẻ biết thương cha thương mẹ, biết ơn những đồng chua nước mặn, những nhọc nhằn để có bát cơm; biết sẻ chia với những phận đời không may mắn và vị tha với những lỗi lầm. Rồi sau đó mới dạy trẻ những tình yêu lớn lao hơn thế. (2)Chúng ta không thể thờ ơ với những thành công của công nghệ. Nếu không ta mãi mãi đi sau, nhưng xin nhớ rằng, một con người thiếu đi tình yêu thương thì tương lai trở thành bất định. Trước hết,
- 12 dạy cho trẻ cách ứng xử trong môi trường số sao cho đúng mức và văn minh trước khi dạy các em làm những điều cao siêu hơn thế. Đừng để tiến bộ của công nghệ trở thành nỗi sợ hãi ám ảnh trong mỗi gia đình và trong hoảng loạn của mỗi con người. (3)Các em hãy là người bảo vệ tuổi thơ cho trẻ. Đừng để việc học đánh mất sự ngây thơ của trẻ; nhắn với phụ huynh rằng, tuổi thơ là tuổi thần tiên; hãy hỏi trẻ đi học có vui không thay vì hỏi hôm nay con được bao nhiêu điểm? Đừng để trẻ con mơ ước chúng trở thành chiếc điện thoại thông minh vì cha mẹ chúng dành nhiều thời gian cho màn hình điện thoại hơn dành cho chúng. Thêm một nhúm kiến thức không trở thành người nổi tiếng, bồi đắp thêm tình yêu thương với con người, với thiên nhiên, làng xóm là bệ phóng của tương lai. Đánh mất sự hồn nhiên, trong sáng của trẻ thơ là có tội. Nguyên sơ là gốc thánh thiện của con người. Hãy cố giữ cho trẻ thơ cánh diều vút cao trên đồng làng ngập gió, giữ cho sự vô tư choán năm tháng tuổi thơ ngây. Hãy gạt bỏ cái tư tưởng biến đứa trẻ thành chuyên gia xuất sắc, mà luôn nhớ rằng giáo dục trẻ để chúng biết yêu thương, biết quan tâm, biết sẻ chia với những người gần gũi. Nhắn với phụ huynh rằng, đừng bắt con cái mình chín ép và trở thành công cụ thực hiện tham vọng của mình. (Trích Bài phát biểu của GS.TS Nguyễn Văn Minh - Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội, Trả lời các câu hỏi: Câu 1. Văn bản bàn vấn đề gì? Câu 2. Xác định các luận điểm của văn bản. Câu 3. Biện pháp tu từ liệt kê có tác dụng như thế nào trong câu văn sau: “Thầy mong rằng, mai kia ra đời, hãy dạy cho trẻ biết thương cha thương mẹ, biết ơn những đồng chua nước mặn, những nhọc nhằn để có bát cơm; biết sẻ chia với những phận đời không may mắn và vị tha với những lỗi lầm”? Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về câu văn: Thêm một nhúm kiến thức không trở thành người nổi tiếng, bồi đắp thêm tình yêu thương với con người, với thiên nhiên, làng xóm là bệ phóng của tương lai? Câu 5. Từ văn bản, anh/chị rút ra được thông điệp gì ý nghĩa nhất cho bản thân? Vì sao? II. DẠNG CÂU HỎI VIẾT 1. VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 1.1. VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN SO SÁNH HAI TÁC PHẨM THƠ Đề 1. Anh chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Nhớ gì như nhớ người yêu Một người chín nhớ mười mong một người. Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nắng mưa là bệnh của giời, Nhớ từng bản khói cùng sương Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. ( Nguyễn Bính, Tương tư ) ( Tố Hữu, Việt Bắc ) Đề số 01: Anh chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau: Làm sao được tan ra Tôi muốn tắt nắng đi Thành trăm con sóng nhỏ Cho màu đừng nhạt mất; Giữa biển lớn tình yêu Tôi muốn buộc gió lại Để ngàn năm còn vỗ. Cho hương đừng bay đi. (Xuân Quỳnh, trích Sóng, theo Hoa dọc chiến (Xuân Diệu, trích Vội vàng, theo Thơ thơ NXB hào, NXB Văn học, Hà Nội, 1968) Đời nay, Hà Nội, 1938)
- 13 Chú thích: Xuân Quỳnh (1942-1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở La Khê, Hoài Đức, Hà Nội. Bà nổi tiếng với nhiều bài thơ được nhiều người biết đến như Thuyền và biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu, Tiếng gà trưa,... Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ. Thơ bà là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc đời thường. Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào. Xuân Diệu (1916-1985) tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, quê ở Can Lộc - Hà Tĩnh nhưng sống với mẹ ở Quy Nhơn. Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh). Ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết. Vội vàng được in trong tập Thơ thơ, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng thánh Tám. 1.2. VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN SO SÁNH HAI TÁC PHẨM TRUYỆN Đề bài. Anh chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích sau: Đoạn trích 1: Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên tay. Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó. (Trích Nhà mẹ Lê, Tuyển tập Thạch Lam, NXB Văn học, 2015, trang 28-29) Đoạn trích 2:
- 14 (Lược phần đầu: Dì Diệu và chú Đức lấy nhau đã nhiều năm nhưng không có con vì năm cưới chú, việc cắt khối u buống trứng đã khiến dì không thể tự sinh con. Bởi niềm khao khát về đứa con chưa lúc nào nguôi nên dì bàn với chú Đức tìm người mang thai hộ. Chị Lành gánh nước thuê vì hoàn cảnh gia đình ngặt nghèo nên nhận lời giúp chú dì. Em bé trong bụng chị Lành ngày một lớn đem đến niềm vui vô bờ cho chú dì, và cũng dấy lên tình mẫu tử ở chị Lành.) Và khi tháng Ba đi qua, đứa bé bắt đầu báo hiệu sự sống. Chị Lành khoe: - Nó đạp rồi, chị Diệu, nó đạp đây nè. Dì Diệu hớn hở vén bụng chị Lành lên, dưới làn da căng mẫn, đứa bé con chòi đạp rối rít. Chị Lành cười giòn: - Nó mạnh quá chị ha.... Dì Diệu cười, rồi làm như một cơn gió từ đâu xộc tới, tim dì riết lại một nỗi đau. Dì thèm biết bao nhiêu cái cảm giác che chở cho một sinh linh sống trong mình, để được thèm tới cùng, tới chảy nước dãi món ngọt, món chua, để có thể cảm nhận từ trái tim chứ không phải bằng bàn tay đôi bàn chân bé bỏng quẩy đạp bụng mình thon thót. Đó là những thứ cảm giác thiêng liêng không vay mượn, thuê mướn được: cảm giác làm mẹ. Dì bắt đầu lo lắng, mình đã làm một việc đúng không. Chỉ còn một tháng hai mươi ngày nữa, đứa bé sẽ ra đời. Dì Diệu tính từng ngày, từng bữa. Chị Lành tính từng ngày từng bữa. Người trông cho mau, người trông đừng bao giờ đến. Dì Diệu cố quên cái vẻ mặt buồn bã, van nài của chị Lành. Chị biết, khi đứa bé khóc ngoe ngoe cất tiếng khóc chào đời, là chị với nó sẽ phải chia lìa. Hợp đồng đã ghi rõ ràng như vậy. Chị thấy thương mình, thương con và thương dì Diệu. Chị rối rít ăn, rối rít ngủ vì biết rằng mai nầy rồi chẳng còn nhau... (Nguyễn Ngọc Tư, Làm mẹ, Tập truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, 5/2024) Chú thích: * Thạch Lam (1910-1942), sinh ra tại Hà Nội, trong gia đình công chức gốc quan lại. Thuở nhỏ sống ở quê ngoại: phố huyện Cẩm Giàng (Hải Dương). Là người đôn hậu và rất đỗi tinh tế. Ông có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ và có biệt tài về truyện ngắn. Mỗi truyện của Thạch Lam như bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết bao tình cảm yêu mến chân thành và sự nhạy cảm trước biến thái của cảnh vật và lòng người. Văn Thạch Lam trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc. * Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau. Là nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam. Với niềm đam mê viết lách, chị miệt mài viết như một cách giải tỏa và thể nghiệm, chị biết rằng chị muốn viết về những điều gần gũi nhất xung quanh cuộc sống của mình. Giọng văn chị đậm chất Nam bộ, là giọng kể mềm mại mà sâu cay về những cuộc đời éo le, những số phận chìm nổi. Cái chất miền quê sông nước ngấm vào các tác phẩm, thấm đẫm cái tình của làng, của đất, của những con người chân chất hồn hậu nhưng ít nhiều gặp những bất hạnh. 2. VIẾT BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI Đề 1. Trong cuốn sách Đủ nắng thì hoa nở, tác giả Ba Gàn viết: “Đừng tìm bình an, mà hãy chủ động an bình trước mọi hoàn cảnh”.
- 15 Từ câu nói trên, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về cách sống chủ động của con người trong hội hiện đại. Đề 2. Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500) chữ bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của lòng vị tha với tuổi trẻ hiện nay.

