Đề cương ôn thi THPT Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Chiếc thuyền ngoài xa (Minh Châu)

pdf 14 trang An Diệp 08/06/2026 210
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn thi THPT Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Chiếc thuyền ngoài xa (Minh Châu)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_thi_thpt_ngu_van_12_chuyen_de_chiec_thuyen_ngoai.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn thi THPT Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Chiếc thuyền ngoài xa (Minh Châu)

  1. CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (NGUYỄN MINH CHÂU) A. MỤC TIÊU BÀI HỌC Thông qua ba tiết học, Gv giúp học sinh ôn tập lại những kiến thức về tác giả,Nguyễn Minh Châu, tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa. Trọng tâm hướng tới rèn kĩ năng đọc hiểu, nghị luận văn học, biết cách thâu tóm kiến thức bằng sơ đồ tư duy. B. PHƯƠNG PHÁP- PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN Gv yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức bằng sơ đồ tư duy chuẩn bị trước. Thời gian trên lớp trình bày và thực hành các câu hỏi đọc hiểu do GV đã chuẩn bị phát cho mỗi học sinh (Tư liệu đọc hiểu và hệ thống câu hỏi làm văn). Các câu hỏi làm văn chia nhóm HS thảo luận lập dàn ý, đại diện HS trình bày, GV nhận xét, bổ sung. Cuối cùng củng cố bài bằng hoạt động hỏi-đáp các thắc mắc (nếu có). C. NỘI DUNG BÀI HỌC PHẦN I: ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN I.TÁC GIẢ Nguyễn Minh Châu xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Thơi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, một vùng quê dữ dội hoang sơ, nơi đàn ông trong làng thường xuyên uống rượu và đánh nhau. Miền quê ấy đã trở thành không gian nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu. -Nguyễn Minh Châu là nhà văn quân đội, trọn đời đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người: +Trước 1975 ông đi theo dấu chân người lính, gặp được những mảnh trăng cuối rừng-những vẻ đẹp chói sáng hào hùng bao trùm những trang viết đậm chất lãng mạn sử thi. +Sau 1975 ông tìm về thế sự đời tư dựng lên những bức tranh ám ảnh, nơi hạt ngọc tâm hồn khuất lấp, lẫn trong cái lấm láp lam lũ đời thường, trăn trở những nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người tạo nên phong cách tự sự triết lí. -Với những nỗ lực và thành công trong việc đổi mới văn học, ông được đánh giá là người mở đường tinh anh và tài năng cho một nền văn học mới. II.TÁC PHẨM 1. Tìm hiểu qua nhan đề tác phẩm Truyện ngắn vốn là một thể loại “gọn nhẹ” trong mảng văn xuôi. Các tác phẩm truyện ngắn thường chỉ chú ý đến một khía cạnh nào đó trong đời sống để từ đó nâng cao, khái quát thành một vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Khi tìm hiểu tác phẩm truyện ngắn, chúng ta có thể chú ý ngay từ nhan đề của tác phẩm. Có khi ngay từ nhan đề tác phẩm, nhà văn đã bộc lộ tư tưởng, quan điểm, lập trường của mình.
  2. Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn minh Châu, nhan đề giống như một gợi ý về khoảng cách, về cự li nhìn ngắm đời sống mà người nghệ sĩ cần coi trọng. Đó là hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa giữa biển mờ sương, cái đẹp tuyệt vời của thiên nhiên và cuộc sống lao động, cái đẹp khiến người nghệ sĩ hạnh phúc vì đã bắt gặp cái tận thiện, tận mĩ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hòa, lãng mạn của cuộc đời. Nhưng đó là chiếc thuyền ở “ngoài xa”. Khi vào đến bờ, phía sau cái đẹp “toàn bích” kia lại là một bi kịch của nạn bạo hành trong một gia đình thuyền chài. Nhan đề truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là nơi tác giả gửi gắm quan niệm về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sự thật sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng. Nhan đề này cũng thể hiện quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Nhà văn đã đặt ra vấn đề mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật với đời sống, về yêu cầu hiểu biết và bản lĩnh trung thực của nghệ sĩ. Như vậy, nhan đề của tác phẩm có thể được coi là cơ sở đầu tiên, là chìa khóa giúp chúng ta tiếp cận và khám phá truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. 2. Tìm hiểu qua tình huống truyện Tình huống truyện là hoàn cảnh bất bình thường mà con người buộc phải bộc lộ bản lĩnh, tính cách của mình. Trong tác phẩm tự sự tình huống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện số phận và tính cách nhân vật, là một trong những vấn đề cốt lõi, là chìa khóa khi khám phá tác phẩm. Truyện ngắn là một thể loại có ưu thế trong việc chớp lấy một “khoảnh khắc” hiện thực cuộc sống. Khoảng thời gian ấy thường được các nhà văn sáng tạo qua tình huống truyện. Có ba loại tình huống phổ biến trong truyện ngắn: tình huống hành động, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức. Nếu tình huống hành động chủ yếu nhằm tới hành động có tính bước ngoặt của nhân vật, tình huống tâm trạng chủ yếu khám phá diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật thì tình huống nhận thức chủ yếu cắt nghĩa giây phút “giác ngộ” chân lí của nhân vật. Tình huống trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu thuộc loại tình huống nhận thức. Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã tạo ra tình huống truyện hết sức độc đáo: Anh phóng viên Phùng đang được giao nhiệm vụ đi “săn” ảnh nghệ thuật và phong cảnh để làm lịch tết. Một buổi sáng sớm đi trên bãi hiển, anh bỗng phát hiện ra một bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên, đó hình ảnh một chiếc thuyền ngoài xa thấp thoáng trong màn sương sớm, lúc ẩn lúc hiện. Cảnh vật hiện lên trước mặt phóng viên Phùng là “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe...” bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào “Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp đơn giản và toàn bích” đã khiến Phùng bối rối và trong trái tim Phùng “như có gì bóp thắt vào”, và trong cái giây phút bối rối ấy Phùng “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái không khí trong ngần của tâm hồn”. Cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh
  3. đã mang lại “khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn Phùng” và Phùng đã bấm máy liên tục để thu hết vẻ đẹp tuyệt đỉnh của cảnh vật vào trong ống kính của mình. Thế nhưng, khi chiếc thuyền vào tới bờ thì một sự thật trần trụi phơi bày trước mắt Phùng, một sự thực bi thương, đó là hình ảnh những con người lao động nghèo khổ, xơ xác, như không hề có chút niềm vui, hạnh phúc nào cả. Phùng nghe tiếng anh hàng chài quát con “Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”; rồi chứng kiến cảnh người chồng vũ phu “mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa... quật tới tấp vào lưng người đàn bà, hắn vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Trong khi đó, người đàn bà nhẫn nhục cam chịu tất cả những sự việc ấy diễn ra làm cho Phùng “kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn...”. Điều làm cho Phùng càng kinh ngạc sững sờ hơn khi nhìn cảnh thằng Phác lao vun vút đến chỗ bố nó, giằng lấy cái thắt lưng trong tay bố nó “liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc ngược lên” của bố nó để bảo vệ mẹ nó. Tình huống truyện này đã đưa ra những vấn đề đầy nghịch lí, nghịch lí giữa cái đẹp của nghệ thuật với sự trần trụi, bi đát của cuộc sống hiện thực. Nghịch lí giữa người vợ tốt bị hành hạ nhưng vẫn không bỏ chồng, nghịch lí giữa sự vũ phu tàn bạo của anh hàng chài với vợ nhưng không bỏ vợ. Với tình huống của truyện, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đặt ra một vấn đề rất quan trọng để người đọc suy nghĩ, đó là mối quan hệ giữa văn chương, nghệ thuật với cuộc sống. Nghệ thuật là một cái gì xa vời như chiếc thuyền ngoài xa trong màn sương sớm mờ ảo, còn cuộc sống thì rất cần như con thuyền khi đã vào tới bờ. Hay nói một cách khác, Nguyễn Minh Châu cho rằng nghệ thuật trước hết phải gắn liền với cuộc sống, phải phản ánh chân thật cuộc sống và góp phần cải tạo cuộc sống, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Quan điểm này của Nguyễn Minh Châu rất gần với quan điểm của nhà văn Nam Cao “nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than... (Trăng sáng)”. Một tình huống truyện khá độc đáo nữa mà Nguyễn Minh Châu đã tạo ra trong truyện ngắn này đó là khi người đàn bà hàng chài được Đẩu (Bao Công của cái phố huyện ven biển này) mời đến tòa án huyện để khuyên người đàn bà li hôn với chồng. Sau khi dùng các biện pháp giáo dục, răn đe người chồng không có kết quả, Đẩu với tư cách là Chánh án tòa án huyện đã khuyên người vợ nên li hôn với chồng để khỏi bị hành hạ, ngược đãi, để sống một cuộc sống cho ra con người. Đẩu tin giải pháp của mình là hợp lí, đúng đắn, thể hiện lòng tốt của mình. Nhưng sau buổi nói chuyện với người đàn bà thì mọi lí lẽ, suy nghĩ của anh đều bị người đàn bà chất phác, lam lũ từ chối, không chấp nhận. Người đàn ấy đã nhìn thấu suốt cả cuộc đời mình, những điều mà Đẩu và cả Phùng chưa bao giờ nhìn thấy được: “lòng chú tốt nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn... cho nên các chú đâu có thể
  4. hiểu được công việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc...”, “là bởi các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông...”, “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!”. Những lời lẽ của người đàn bà khiến “Một cái gì mới vừa vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện miền biển”. Đẩu chợt nhận ra rằng lòng tốt của anh hóa ra phi thực tế. Anh bảo vệ luật pháp bằng sự thông hiểu sách vở nhưng trước thực tế đa dạng, muôn vẻ, anh trở thành kẻ ngây thơ. Những lời lẽ của người đàn bà đã giúp Đẩu nhận ra những nghịch lí của đời sống, những nghịch lí buộc con người phải chấp nhận một cách chua chát “trên thuyền phải có một người đàn ông dù hắn man rợ, tàn bạo”. Từ đây, Đẩu có thể đã bắt đầu hiểu ra rằng muốn con người thoát ra khỏi cảnh đau khổ, tăm tối, man rợ cần phải có những giải pháp thiết thực chứ không phải chỉ là lòng tốt, thiện chí hoặc các lí thuyết đẹp đẽ nhưng xa rời thực tế. Tình huống này cùng với tình huống trên của truyện, Phùng đã nhận ra rằng để hiểu được sự thật đời sống không thể nhìn một cách đơn giản, phải đi sâu vào thực tế cuộc sống để hiểu được thực tế cuộc sống, những nghịch lí nhưng lại có lí của cuộc sống. Tóm lại, trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tạo nên những tình huống truyện khá độc đáo, tạo cho người đọc sự suy nghĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống và đặt ra một vấn đề hết sức quan trọng của xã hội là khi nhìn cuộc sống chúng ta phải có cái nhìn đa chiều, chúng ta mới hiểu cuộc sống sâu sắc hơn. Nếu nhìn cuộc sống một cách hời hợt, theo cảm tính, theo sách vở... thì chúng ta chưa thể hiểu hết được những nghịch lí nhưng lại có lí của thực tế cuộc sống. Như vậy có thể thấy tình huống là một trong những biện pháp nghệ thuật quan trọng của nhà văn trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Chưa nắm được tình huống thì coi như chưa nắm được chiếc chìa khoá vàng để mở vào thế giới bí ẩn của tác phẩm. 3. Tìm hiểu qua những chi tiết tiêu biểu và cảnh gây ấn tượng nhằm bộc lộ tính cách nhân vật và chủ đề tác phẩm Ở mỗi truyện ngắn chúng ta nên lựa chọn những chi tiết tiêu biểu nhất, những cảnh gây ấn tượng mạnh nhất đối với người đọc để hướng dẫn học sinh tiếp cận và tìm hiểu tác phẩm. Chúng ta hãy cảm nhận chi tiết “xương rồng luộc chấm muối” trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Hoàn cảnh xuất hiện chi tiết: trong lời kể của người đàn bà hàng chài với chánh án Đẩu tại toà án huyện. Ý nghĩa: Lời kể của người đàn bà đã hé mở cuộc đời lam lũ, bất hạnh của chính bà và của cả gia đình bà; Dự báo nguyên nhân của nạn bạo hành gia đình mà bà sẽ kể tiếp sau đó cho chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng nghe ở phần sau. Lão đàn ông vì khổ quá nên lôi bà ra đánh; Chi tiết có giá trị hiện thực: phản ánh cái đói, cái nghèo của người dân miền biển nói riêng, của người dân nói chung thời hậu chiến; Chi tiết mang giá trị nhân đạo: Nhà văn thể hiện nỗi lo âu, khắc khoải về tình trạng
  5. nghèo khổ, tối tăm của con người; gióng lên tiếng chuông báo động về tình trạng bạo hành gia đình mà gốc rễ của nó chính là do đói nghèo gây ra. Đây là chi tiết chân thực, tạo cầu nối giữa phần trước đó và sau đó để mạch truyện được dẫn dắt tự nhiên, góp phần tạo tình huống nhận thức của câu chuyện. Là chi tiết nhỏ nhưng gửi gắm tư tưởng và nghệ thuật mới mẻ của nhà văn: cần quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường. Chi tiết “Xương rồng luộc chấm muối” gợi ra suy nghĩ về cái đói trong cuộc sống tạo ra sức ám ảnh lớn với người trong cuộc (trong truyện là nhân vật Phùng và chánh án Đẩu) và người ngoài cuộc (bạn đọc), đó là: chính cái đói, cái nghèo sinh ra tội ác. Phải có cái nhìn toàn diện và nhân văn về số phận con người sau chiến tranh. PHẦN II: LUYỆN TẬP I.ĐỌC HIỂU Câu 1. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh “đắt” trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Chẳng biết ai đó lần đầu tiên phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. a.Đoạn văn sử dụng những phương thức biểu đạt nào? b.Đặt tên cho cảnh tượng được nói đến trong văn bản? c.Khung cảnh được quan sát theo trật tự nào? Tìm những từ ngữ và hình ảnh mang tính tạo hình trong đoạn? Tác giả đã vận dụng con mắt nghệ thuật thuộc lĩnh vực nào để quan sát và miêu tả cảnh tượng? d. Tôi đã đánh giá và biểu lộ cảm xúc của mình ra sao trước khung cảnh đó? Tôi có những phẩm chất nào của một nghệ sĩ? Gợi ý trả lời a.Tự sự, miêu tả b.Cảnh đắt trời cho hoặc cảnh đẹp thơ mộng
  6. c.Từ xa tới gần, những từ láy: lòe nhòe, hồng hồng, phăng phắc, khum khum; những hình ảnh so sánh: trắng như sữa, im như tượng, y hệt cánh một con dơi; Tác giả vận dụng con mắt của hội họa, điện ảnh để quan sát và miêu tả (Vì Phùng là nghệ sĩ nhiếp ảnh). d.Tôi đánh giá: cảnh “đắt” trời cho, bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ, vẻ đẹp đơn giản, toàn bích; cảm xúc: bối rối bóp thắt vào; Tôi có con mắt thẩm mĩ, có tâm hồn nghệ sĩ: biết rung động, cảm nhận giá trị của cái đẹp. Câu 2. Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng, lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc hai hàm răng nghiến ken két cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!” Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn. a. Đặt nhan đề cho đoạn b. Những từ ngữ nào miêu tả hành động của người đàn ông? nhận xét về tính chất của những hành động đó? c. Giọng điệu của lời nguyền rủa gợi mở tâm lí của lão đàn ông như thế nào? d. Có thể giải thích như thế nào về thái độ lạ lùng của người đàn bà khi bị đánh? Gợi ý trả lời a.Cảnh đời trần trụi hoặc bạo hành gia đình b.Những từ ngữ: hùng hổ, quật tới tấp, thở hồng hộc, răng nghiến ken két. Tính chất thô bạo dã man trong thói vũ phu của lão đàn ông. c.Giọng rên rỉ đau đớn trong lời nguyền rủa bộc lộ tâm lí bế tắc u uất . d.Cam chịu đầy nhẫn nhục. Không phải vì bị đòn đến mức quen rồi không còn biết đau, cũng không phải tăm tối đến mức mất hết ý thức về sự phản kháng, mà là sự lựa chọn bất đắc dĩ nhưng đã được suy tính kĩ lưỡng sáng suốt: để người chồng trút khổ, để duy trì gia đình. Đây là giải pháp đau đớn mà người đàn bà chủ động chấp nhận. Câu 3. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Đẩu gật đầu. Anh đứng dậy. Tự nhiên, anh rời chiếc bàn đến đứng vịn vào lưng ghế người đàn bà ngồi, giọng trở nên đầy giận dữ, khác hẳn với giọng một vị chánh án: -Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng nào như hắn. Tôi chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu! Chị nghĩ thế nào?
  7. Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay vái lia lịa: -Con lạy quý tòa -Sao?sao? - Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó ( ) -Tùy bà- Đẩu thay đổi cách xưng hô, khoác lên mình cái cung cách bề ngoài của một vị chánh án- chủ trương nguyên tắc của chúng tôi là kêu gọi hòa thuận Đang ngồi gục xuống người đàn bà bỗng ngẩng lên nhìn thẳng vào chúng tôi, lần lượt từng người một, với một vẻ ban đầu hơi ngơ ngác: -Chị cám ơn các chú!-Người đàn bà đột nhiên thốt lên bằng một giọng khẩn thiết- Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú. Lòng các chú tốt nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc ( ) Cũng phải nói thật, những lời ấy, nhất là đấy lại là lời một người đàn bà khốn khổ, không phải dễ nghe đối với chúng tôi. Dầu mặt hãy còn trẻ, Đẩu cũng là một chánh án huyện. Còn tôi một người đáng lẽ mụ phải biết ơn a. ở 4 lượt lời đầu, các nhân vật giao tiếp có quan hệ vị thế xã hội, quan hệ thân sơ như thế nào? b.Ở 2 lượt lời sau, có sự thay đổi ra sao về quan hệ vị thế, quan hệ thân sơ giữa 2 nhân vật giao tiếp đó? c. Câu nói nào cho thấy sự sâu sắc trải đời của người đàn bà? Làm rõ ý câu nói? d. Nghe những lời nói thành thực của người đàn bà, Đẩu và Phùng cảm thấy như thế nào? Vì sao? Gợi ý trả lời a.Xét về vị thế xã hội, tại tòa án huyện, Đẩu là chánh án nên ở vị thế trên, người đàn bà là công dân (dù nhiều tuổi hơn Đẩu) nên ở vị thế dưới. Đẩu xưng hô với người đàn bà là chị với tâm thế đầy nhiệt tình, nhiệt tâm lại là trên qua hệ thân sơ; ngược lại người đàn bà xưng con và quý tòa, cử chỉ điệu bộ sợ sệt khúm núm chắp tay vái lại là quan hệ vị thế. b.Thay đổi ngược lại, Đẩu đổi cách xưng hô: tùy bà- quan hệ vị thế. Còn người đàn bà xưng chị -các chú- quan hệ thân sơ, ngôn ngữ trở nên sắc sảo,chị tỏ ra từng trải già dặn hơn hẳn sự non nớt của các chú. c.Lòng các chú tốt lam lũ khó nhọc: Các chú có tấm lòng nhưng thiếu thực tế vì các chú không đứng trong cuộc. d.Cảm thấy đang bị “lên nước đời” bởi một người đàn bà quê mùa thất học, Đẩu và Phùng thấy không phải dễ nghe. Vì tự ái và xét về vị thế xã hội, Đẩu là chánh án, Phùng là nghệ sĩ hơn nữa còn là ân nhân của mụ.
  8. Câu 4. Đọc đoạn văn bản sau và trả lời các câu hỏi ( )Mụ bắt đầu kể: Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. Hồi bấy giờ nhà tôi còn khá giả, nhà tôi trước ở trong cái phố này. Cũng vì xấu, trong phố không có ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi. Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình: -Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối -Lão ta hồi trước bảy nhăm có đi lính ngụy không?- Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề. -Không chú à, cũng nghèo khổ túng quẫn đi vì trốn lính-bỗng mụ đỏ mặt- nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật. -Vậy sao không lên bờ mà ở-Đẩu hỏi. -Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng có ai ở, vì không bỏ nghề được! a. Làm rõ hàm ý trong những lời kể của người đàn bà: Giá tôi đẻ ít đi, cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá b.Thái độ của người đàn bà khi nói về chồng mình? c. Câu hỏi của Phùng cho thấy anh có cái nhìn về người chồng như thế nào? d. Câu hỏi của Đẩu cho thấy anh có cái nhìn về cuộc sống ra sao? e. Hai lần người đàn bà nói đến : từ ngày cách mạng về, chỉ thời điểm nào, đối tượng nào? Cách mạng đã đem lại được gì cho cuộc sống của gia đình họ? Cách mạng cấp đất cho họ có phải là giải pháp nào hiệu quả? Tác giả ngầm đề xuất vấn đề xã hội, nhân sinh nào? Gợi ý trả lời a.Giá tôi đẻ ít đi thì đã đỡ đói khổ, vì đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá nên làm cho gia đình nghèo khổ túng quẫn, đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến thói vũ phu của người chồng. Cho thấy chị tự nhận lỗi về mình và chỉ ra chính cuộc sống nghèo khổ bấp bênh đã khiến người chồng thay đổi tâm tính trở nên vũ phu như vậy. Người đàn bà ngầm biện minh cho chồng trước sự kết tội của Đẩu. b.Coi chồng là ân nhân (nhờ có người con trai nhà nghèo hiền lành ấy mà chị mới có được niềm hạnh phúc được làm vợ làm mẹ) không kết tội mà bênh vực, cảm thông, thương xót (nhận hết lỗi về mình). c.Cái nhìn định kiến dựa trên thành phần lí lịch.
  9. d.Cái nhìn thiếu thực tế e.Cách mạng về: thời điểm sau 1975, đất nước thống nhất hòa bình lập lại, chế độ mới, chỉ đối tượng: chính quyền, những người đại diện cho nhà nước, pháp luật. Cách mạng phần nào làm cho cuộc sống của họ đỡ đói khổ hơn nhờ những chính sách mới. Nhưng chính sách hỗ trợ cấp đất cho họ là không thiết thực vì nghề lưới vó phải bám thuyền bám nước. Từ đó tác giả đặt ra vấn đề: cuộc chiến chống giặc ngoại xâm đã gian nan, cuộc chiến chống đói nghèo tăm tối còn gian nan hơn; chừng nào chưa thoát đói nghèo, chừng đó con người còn phải chung sống với cái xấu, cái ác. Câu 5. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Lát lâu sau mụ mới lại nói tiếp: -Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hang chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!-Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười- vả lại trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuân vui vẻ. -Cả đời chị có một lúc nào thật vui không?-Đột nhiên tôi hỏi -Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no Viên chánh án huyện rời chiếc bàn xếp đến phát ngốt lên những chồng hồ sơ giấy má. Đẩu đi đi lại lại trong phòng ( )Một cái gì vừa mới vỡ ra trong đầu vị Bao Công của cái phố huyện vùng biển. a.Người đàn bà đã đưa ra những lí do nào để thuyết phục các chú đừng bắt tôi bỏ nó? b. Theo người đàn bà: Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Suy nghĩ này vừa đúng lại vừa sai ở chỗ nào? c. Phùng đã phát hiện ra điều gì ở người đàn bà khi nghe chị kể? Ý nghĩa của sự phát hiện này? d. Hãy làm rõ một cái gì vừa mới vỡ ra trong Đẩu. Gợi ý trả lời a.Ba lí do: người đàn ông là trụ cột gia đình, sống cho con, cũng có lúc vợ chồng con cái hòa thuận vui vẻ (lúc được ăn no) b.Đúng: thiên chức cao cả của người phụ nữ là làm mẹ và hi sinh cho con cái; sai: không vì thế mà suốt đời cam chịu, chấp nhận đau khổ phi lí. Vừa phải cho con nhưng cũng cần biết cho mình. c.Phùng phát hiện: Lần dầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười. Ý nghĩa: vẻ đẹp nội tâm, hạt ngọc tâm hồn ẩn giấu sau vẻ bề ngoài lam lũ lấm láp.
  10. d.Không thể đơn giản, sơ lược trong việc nhìn nhận cuộc sống và con người. Cần phải có giải pháp thực tế thiết thực hơn chứ không thể giải quyết dựa trên lí thuyết sách vở. II.LÀM VĂN Câu 1: Phân tích hành trình nhận thức của nhân vật Phùng Câu 2. Phân tích hình tượng người đàn bà hàng chài. Câu 3: Về thói vũ phu của người đàn ông, Phùng, Đẩu, Phác đều kết tội lão là kẻ vũ phu, còn người đàn bà lại bênh vực lão là người đáng thương. Hãy giải thích vì sao có sự khác nhau đó. Ý kiến của anh /chị? Câu 4. Giải pháp của người đàn bà để giải quyết bi kịch gia đình mình: cam chịu để chồng đánh. Giải pháp của Đẩu lựa chọn cho người đàn bà là: li hôn. Hai giải pháp trên có giải quyết được triệt để vấn đề của gia đình người đàn bà hàng chài? Hãy đưa ra giải pháp của anh chị. Gợi ý trả lời Câu 1: Hành trình nhận thức của nhần vật Phùng cũng chính là tình huống truyện. Hành trình đó đi từ lầm lẫn ngộ nhận đến hiểu biết, giác ngộ, có thể chia thành ba chặng tương ứng với ba phát hiện của nghệ sĩ Phùng: +Chặng 1: Nhìn nhưng chưa thấy Phùng bắt được cảnh đắt trời cho, say sưa miêu tả và đánh giá vẻ đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh, sôi nổi giãi bày cảm xúc của mình: bối rối, trái tim như có gì bóp thắt vào. Hứng thú triết lí: bản thân cái đẹp là đạo đức, tự soi ngắm tâm hồn mình: được thanh lọc, trở nên trong ngần hơn nhờ thưởng thức cái đẹp ngoại cảnh đó. Cái đẹp mà Phùng phát hiện và tự mãn đó mới chỉ là vẻ bề ngoài lướt nhẹ trên bề mặt của cuộc sống mà thôi. Nó thỏa mãn phần nhìn. Nếu người nghệ sĩ chỉ dừng lại ở đó thì anh mãi là kẻ hời hợt. +Chặng 2: Thấy nhưng chưa hiểu Khoảnh khắc sau, cũng từ con thuyền ấy tiến gần bờ Phùng lại chứng kiến một cảnh tượng mà so với lúc trước như trời và vực: người đàn bà xấu xí, người đàn ông dữ dằn, thói vũ phu thô bạo dã man của người đàn ông, sự cam chịu nhẫn nhục phi lí của người đàn bà khi bị đánh và nỗi đau khổ nhục nhã xấu hổ thành những cử chỉ cuống quýt tội nghiệp trước mặt con. Phùng thấy người đàn bà thật tội nghiệp đáng thương, người đàn ông thật đáng lên án, còn niềm tin phút trước của mình thì hoang mang cực độ. Cảnh đời trần trụi mà anh chứng kiến là những gì mà người nghệ sĩ cần quan tâm. Nhưng anh mới chỉ thấy hiện tượng mà chưa hiểu bản chất. Anh thấy hai con người xấu xí ấy với những hành động phi lí nhưng chưa hiểu vì sao họ lại làm vậy? Anh thấy cần phải bảo vệ người đàn bà, cứu chị thoát khỏi thói vũ phu của người chồng nhưng chưa hiểu liệu đó có phải là điều người đàn bà ấy muốn? + Chặng 3: Vỡ ra tất cả
  11. Sau khi nghe trọn vẹn những nông nỗi trong lời kể ngắt quãng đầy xót xa của người đàn bà tại tòa án huyện, về lí do vì sao người chồng lại mang thói vũ phu, vì sao dù chồng vũ phu vẫn không bỏ chồng, Phùng mới hiểu ra tất cả những nghịch lí thật không thể hiểu nổi mà cả anh và Đẩu cùng thốt lên trước đó: -Rằng cuộc sống mưu sinh của những người sống bằng nghề chài lưới đầy sóng gió bấp bênh đói khổ chứ không hề chỉ đẹp và thơ như khi anh nhìn thấy từ xa. -Rằng thói vũ phu của người chồng kia không chỉ đáng lên án mà còn đáng cảm thông bởi nó sinh ra nỗi khổ cực quá tải. -Rằng người đàn bà khốn khổ tăm tối thất học đáng thương hại kia cũng chính là người sâu sắc lẽ đời, ẩn giấu hạt ngọc tâm hồn lấp lánh mà thầm lặng, vững bền rất đáng trân trọng, cảm phục. -Rằng một người nghệ sĩ như anh cần phải tìm cái đẹp ở đâu? ở chiếc ngoài xa hay phải ở nơi bề sâu tâm hồn con người? nghệ thuật đích thực phải quan tâm trước hết và trên hết đến số phận con người. Hãy khước từ một thứ nghệ thuật minh họa, một cái nhìn đóng khung đơn giản một chiều về cuộc sống. Câu chuyện mà Phùng chứng kiến thực tế khép lại, nhưng ám ảnh về nó trong anh luôn day dứt. Bức ảnh mà anh chụp được làm hài lòng vị trưởng phòng khó tính và bao người sành nghệ thuật. Chỉ có anh, người trải nghiệm, mỗi lần nhìn vào là mỗi lần không yên ổn: ảnh đen trắng mà ngắm kĩ anh vẫn thấy có màu hồng hồng của ánh sương mai, ảnh tĩnh vật mà nhìn lâu anh luôn thấy người đàn bà lam lũ ấy bước ra Ám ảnh đó phải chăng là sự tự nhận thức, cảnh tỉnh chính mình: người nghệ sĩ cần phải trung thực dũng cảm nhìn thẳng vào hiện thực, trước hết phải nhìn vào số phận con người. Thông qua hành trình nhận thức của nhân vật Phùng, Nguyễn Minh Châu gủi gắm một bài học sâu sắc về cách nhìn cuộc sống và con người. Tình huống nhận thức này là biểu hiện rõ phong cách văn xuôi tự sự triết lí của tác giả thời đổi mới: cùng nhân vật và bạn đọc suy ngẫm. Câu 2. Hình tượng người đàn bà hàng chài là nhân vật tiêu biểu cho xu hướng đổi mới của Nguyễn Minh Châu sau 1975: tìm những hạt ngọc tâm hồn khuất lấp sau những lam lũ đời thường + Tên tuổi, ngoại hình: không có tên- người phụ nữ vô danh, một con người bình thường mà ta đã đi ngang qua rồi lãng quên như bao người. Trạc ngoài 40 tuổi: Thân hình cao lớn lưng áo bạc phếch, lộ rõ vẻ lam lũ, nghèo khổ. + Số phận thiệt thòi, đau khổ: -Thủa nhỏ bị đậu mùa nên rỗ mặt, xấu không có ai lấy dù nhà khá giả ở giữa phố, có mang với một anh con trai hàng chài nhà nghèo rồi về sống cùng nhau trên cái thuyền chật chội mưu sinh bằng nghề chài lưới bấp bênh sóng gió, lại đẻ nhiều nên đói khổ triền miên hàng tháng ăn xương rồng luộc chấm muối khi biển động. - Vì quẫn bách trong đói khổ, người chồng thay đổi tâm tính từ hiền lành sang vũ phu, bất kể lúc nào khổ quá là lão xách vợ ra đánh. Người đàn bà hứng chịu bao trận đòn như lửa cháy, từ lúc con nhỏ đến khi con lớn ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, chỉ xin chồng có đánh thì lên bờ mà đánh, không chống trả, không chạy trốn.
  12. - Nỗi đau thể xác người phụ nữ ấy cắn răng chịu đựng để che chắn cho con không bị tổn thương, nhưng không thể, người mẹ ấy đau đớn xấu hổ nhục nhã vì đã làm tổn thương tâm hồn của đứa con trai khi nó thường xuyên phải chứng kiến cảnh bố đánh mẹ mà sinh ra lòng căm thù bố. + Vẻ đẹp -Lòng bao dung vị tha đức hi sinh hiểu chồng, thương con sâu sắc: biểu hiện qua thái độ khi kể về chồng: dù bị chồng hành hạ đánh đập nhưng không oán giận, mà vẫn một mực bênh vực biện minh cho chồng bời chị thấu hiểu và bao dung, thương xót chồng cũng vì nghèo khổ mà sinh ra vũ phu. Với chị, chồng luôn là ân nhân, là trụ cột, là bờ vai để chị nương tựa, tấm lưng người đàn ông ấy đã cong như lưng một con thuyền cùng chỉ vì gánh nặng gia đình là mẹ con chị. Hơn thế, lẽ sống của chị là sống cho con. Cam chịu mọi nỗi khổ cũng vì con. Đau xót nhất cũng là khi con bị tổn thương. Vui nhất cũng là khi con được ăn no. Cảm động xiết bao tấm lòng người mẹ nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng - Sự sâu sắc lẽ đời: Người ngoài nhìn vào ai cũng cho rằng sự cam chịu của chị thật là phi lí, thật là tăm tối, nhưng người trong cuộc như chị mới hiểu đó là giải pháp duy nhất để duy trì sự tồn tại của gia đình, là phương cách duy nhất để chị bảo vệ được những đứa con để chúng có thể lớn lên như mọi đứa trẻ bình thường khác. Đó không phải là tăm tối mà là sự can đảm, sự sáng suốt của người đàn bà trong cay đắng mà thấu triệt cái lẽ của cuộc sống: không phải lúc nào người ta cũng đấu tranh với nhau mà nhiều hơn người ta phải chịu đựng lẫn nhau để cùng tồn tại. Và sự sống của chúng ta được duy trì bởi chính khả năng chịu đựng đó của con người. + Đánh giá về người đàn bà hàng chài: Người như thế nào? Nghệ thuật xây dựng nhân vật, Thái độ của nhà văn đối với nhân vật? Dụng ý nghệ thuật khi xây dựng nhân vật? Quan niệm nghệ thuật của tác giả về con người được gửi gắm qua nhân vật này? Câu 3. Về thói vũ phu của người đàn ông có nhiều cách phán xét khác nhau + Phùng nhìn dưới góc độ lí lịch thành phần, Đẩu nhìn dưới góc độ luật pháp, Phác nhìn bằng con mắt trẻ con ngây thơ thương mẹ nên căm ghét bố. Ba cái nhìn này giống nhau: nhìn từ một phía và nhìn bằng cái nhìn của người ngoài cuộc: thấy hiện tượng nhưng chưa tìm hiểu bản chất. “Chao ôi, đối với những người xung quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi, toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ đáng thương, không bao giờ ta thương!” (Nam Cao) + Người đàn bà nhìn bằng con mắt thương xót và thấu hiểu, cái nhìn của người trong cuộc. Lí giải nguồn gốc của thói vũ phu kia phải đâu từ bản chất mà là từ hoàn cảnh sống cầm tù trong đói nghèo khổ cực sinh ra. Cái khổ đã đẻ ra cái ác, hoàn cảnh khắc nghiệt tha hóa, bóp méo nhân tính người đó thôi. Vì thế người chồng của mụ giận thì giận mà thương càng thương. Ông ta cũng là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh: từ hình người mái tóc tổ quạ, tấm lưng rộng và cong như lưng chiếc thuyền đến tính người: bất kể lúc nào thấy khổ quá là xách vợ ra đánh chẳng phải là hậu quả của gánh nặng mưu sinh giáng xuống đó sao? + Cần phán xét một cách công tâm về thói vũ phu của người đàn ông: vừa đáng lên án, vừa đáng cảm thông. Với người đàn ông này, hết khổ sẽ hết thói vũ phu.
  13. Câu 4. Những giải pháp nào cho gia đình hàng chài? + Về giải pháp người đàn bà đã chọn: cứ cam chịu để chồng đánh. Với cách này, gia đình chị vẫn tồn tại, nhưng bản thân chị sẽ bị hành hạ đến chết. Như vậy quá bất công với chị. Quyền sống của một người phụ nữ, một người vợ, một người mẹ không thể bị xâm phạm ngang nhiên mãi như vậy. Nghiêm trọng hơn tương lai của những đứa con sẽ thế nào nếu nó phải lớn lên trong cảnh bạo hành gia đình? + Về giải pháp của Đẩu: li hôn. Với cách này, về lí thuyết người đàn bà sẽ không còn bị chồng hành hạ, ngược đãi, tức là chị sẽ hết khổ. Nhưng thực tế chị sẽ rơi vào bi kịch tiếp theo: gia đình tan vỡ, con cái chia đàn sẻ nghé, cuộc đời phía trước sẽ thế nào một mình sức đàn bà sao có thể nuôi nổi lũ con? Tức là sẽ khổ hơn. + Giải pháp khác: - Với người chồng: giáo dục, khuyên bảo -Với người vợ: kế hoạch hóa gia đình, hội phụ nữ chia sẻ, giúp đỡ -Với những đứa con: cho lên bờ đi học -Với việc làm ăn của gia đình: hỗ trợ vốn, phương tiện đánh bắt, thu mua sản phẩm, thành lập các nhóm thuyền liên kết hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, hội ngư dân tập thể.