Đề cương ôn tập Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2023-2024
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2023-2024", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_ngu_van_lop_12_nam_hoc_2023_2024.docx
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2023-2024
- BÀI 1: TÂY TIẾN ( Quang Dũng) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1.Tác giả Quang Dũng - Là nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, sáng tác nhạc - Phong cách: hồn hậu, lãng mạn, tài hoa 2. Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ: - “Tây Tiến” là tên của một đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947, giữa những ngày đầu vô cùng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lính TT phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều HS, SV, tri thức trẻ. Đơn vị này hoạt động chủ yếu trên địa bàn núi rừng miền Tây Bắc sang tới Thượng Lào, có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt – Lào và phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Sinh hoạt vô cùng thiếu thốn và gian khổ nhưng lính Tây Tiến vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng. - Bài thơ được viết ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây) trong nỗi nhớ và tình cảm đồng đội thôi thúc cuối năm 1948, lúc QD rời xa đơn vị chưa lâu. Bài thơ ban đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, sau đổi lại là Tây Tiến.. 3. Nội dung bài thơ a. Nhớ chặng đường hành quân trên cái nền cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc: - Đoạn thơ mở đầu bằng nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi, Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.” + Kiểu câu cảm thán và thán từ “ơi” gợi một nỗi nhớ không kìm nén nổi trong lòng, bật lên thành tiếng gọi thiết tha, trìu mến. + Cụm từ “Nhớ chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ. Đó là một nỗi nhớ mênh mông, vô tận - Bức tranh hoành tráng của cảnh núi rừng Tây Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Nhà thơ liệt kê các địa danh tiêu biểu: Sài Khao, Mường Lát gợi lên sự xa xôi, hẻo lánh, hoang vu. “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”: Sương dày đặc như muốn ngăn cản bước chân, che lắp bóng dáng đoàn quân Tây Tiến. Câu thơ nhiều thanh bằng, nhẹ nhàng: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” gợi lên vẻ đẹp của núi rừng (những người lính bắt gặp những cánh hoa rừng nở trong đêm đêm đầy sương) nhưng khắc nghiệt (đêm hơi). “Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Điệp từ “dốc” + từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” + nhiều thanh trắc diễn tả lại chặng đường hành quân đầy khó khăn, trắc trở. “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Cách nói đùa vui tinh nghịch “Súng ngửi trời” + trí tưởng tượng mạnh mẽ (người lính hành quân lên núi cao, súng như chạm tới trời): dù gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” 1
- Nhịp thơ 4/3 + nghệ thuật đối, câu thơ như bẻ đôi vẽ lại hình ảnh hai dốc núi vút lên cao rồi đổ xuống rất nguy hiểm, tạo cảm giác rợn người. “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Câu thơ toàn thanh bằng: gây ấn tượng những ngôi nhà như bồng bềnh trên biển khơi tạo vè đẹp lãng mạn. “Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” Những tên miền đất lạ (Mường Hịch), những hình ảnh giàu giá trị gợi hình (thác gầm thét, cọp trêu người): Càng làm tăng thêm vẻ hoang vu của miền đất dữ; các chiến sĩ Tây Tiến thường xuyên đối mặt với nguy hiểm Hình ảnh người lính hy sinh trong cuộc hành quân “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Trên chặng đường hành quân gian khổ, nhiều người lính đã ngã xuống vì kiệt sức nhưng dường như vẫn chưa chịu rời bỏ cuộc hành quân cùng đồng đội (chỉ “bỏ quên đời” khi chân “không bước nữa”). Trong cảnh heo hút của núi rừng, bỗng xuất hiện hình ảnh: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. + Sau bao nhiêu gian khổ, những người lính tạm dừng chân trong một bản làng nào đó, quây quần bên nhau bên cạnh nồi cơm dẻo thơm. + Nếp Mai Châu vốn đó thơm, hương nếp đầu mùa càng thêm thơm, lại được trao từ tay em: làm giảm bớt sự căng thẳng, mệt nhọc. Bằng biện pháp hiện thực và trữ tình đan xen, đoạn thơ đó dựng lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở. Ở đó đoàn quân Tây Tiến đó trải qua cuộc hành quân đầy gian khổ nhưng cũng ấm áp tình người. b. Vẻ đẹp của con người và thiên nhiên: Nhớ những đêm liên hoan văn nghệ ấm áp tình quân dân: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa...... Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” + Cụm từ “Bừng lên hội đuốc hoa” gợi lên cảnh doanh trại sáng bừng bởi ánh đuốc, tưng bừng bởi tiếng nhạc, khèn, điệu múa. + Hai chữ “Kìa em” diễn tả sự sung sướng, ngạc nhiên của các chàng trai Tây Tiến. + Bức tranh đầy âm thanh, màu sắc: Những cô gái miền Tây bất ngờ xuất hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy.Dáng vẻ dịu dàng, tình tứ trong điệu múa hát cùng tiếng nhạc . Tất cả đó thu hút hồn vía của các chiến sĩ. Cảnh sông nước mênh mang, mờ ảo: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy, ...........Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” -Âm điệu : Nhịp nhàng, trữ tình, thiết tha gợi kỷ niệm êm đềm. + Những từ ngữ “chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ” vẽ lại cảnh thiên nhiên hoang sơ, vắng lặng như thời tiền sử + Nổi bật trên dòng sông huyền thoại, cổ tích ấy là dáng hình mềm mại, uyển chuyển của những con người trên chiếc thuyền độc mộc. 2
- + Như hoà hợp với con người, những cánh hoa rừng cũng “đong đưa”, làm duyên trên dòng nước lũ. Chất thơ và chất nhạc hoà quyện: không chỉ làm hiện lên vẻ đẹp của thiên nhiên mà cũng gợi lên cảnh và người hòa hợp. c. Vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của người lính Tây Tiến : - Hình tượng người lính Tây Tiến xuất hiện với một vẻ đẹp đậm chất bi tráng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ........ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” + Hình ảnh chọc lọc: “không mọc tóc” gợi ra sự thật nghiệt ngã nhưng đậm chất ngang tàng của người lính Tây Tiến. + Hình ảnh “Quân xanh màu lá” gợi lên dáng vẻ xanh xao tiều tuỵ vì sốt rét nhưng vẫn toát lên dáng vẻ oai như những con hổ chốn rừng thiêng, làm nổi bật tính cách dũng cảm của người lính. + Sự oai phong lẫm liệt cũng được thể hiện qua ánh mắt “Mắt trừng”: ánh mắt dữ dội, rực cháy căm hờn, mang mộng ước giết kẻ thù. + Nét đẹp lãng mạn trong tâm hồn người lính Tây Tiến:“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Từ ngữ trang trọng khi nói về vẻ đẹp các cô gái Hà Nội: bên trong cái dáng vẻ oai hùng, dữ dằn là trái tim, là tâm hồn khao khát yêu đương - Vẻ đẹp về sự hi sinh của người lính Tây Tiến: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ ....... Sông Mã gầm lên khúc độc hành” + Các từ Hán Việt cổ kính, trang trọng “biên cương, mồ viễn xứ” tạo không khí trang trọng, âm hưởng bi hùng làm giảm đi hình ảnh của những nấm mồ chiến sĩ nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, hoang vu. + Vẻ đẹp bi tráng cũn được thể hiện qua khí phách người lính: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Lí tưởng anh hùng lãng mạn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết tâm hiến dâng sự sống cho đất nước. “Áo bào .... khúc độc hành” Từ ngữ ước lệ “Áo bào” gợi lên vẻ đẹp bi tráng của sự hi sinh: những cái chết của đồng đội giữa chiến trường thành sự hi sinh rất sang trọng của người anh hùng chiến trận. Biện pháp nói giảm: “anh về đất” làm vơi đi sự bi thương khi nói về cái chết của người lính Tây Tiến. Biện pháp cường điệu: Sông Mã ... độc hành Thiên nhiên đó tấu lên khúc nhạc hùng tráng đưa tiễn người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến ra đi trong khúc nhạc vĩnh hằng Bằng những câu thơ mang âm hưởng bi tráng, đoạn thơ khắc họa chân dung người lính từ ngoại hình đến nội tâm, đặc biệt là tính cách hào hoa lãng mạn – Những con người đó làm nên vẻ đẹp hào khí của một thời. d. Lời thề gắn bó với Tây Tiến và đồng đội: - Nhà thơ dứt dòng hồi tưởng để trở về với hiện tại “Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi” 3
- + Cách nói khẳng định: “không hẹn ước, một chia phôi” diễn tả lời thề kim cổ: ra đi không hẹn ngày về, một đi không trở lại + Thể hiện sự gắn bó máu thịt của nhà thơ với những gì đã qua. “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” + “Tây Tiến mùa xuân ấy”: đó trở thành một thũi điểm lịch sử không trở lại, thời của sự lãng mạn, mộng mơ và hào hùng. + “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”: nhà thơ dành tất cả trái tim mình cho đồng đội, cho Tây Bắc. Nhịp thơ chậm, buồn nhưng vẫn hào hùng: diễn tả sự gắn bó của nhà thơ với một thời lãng mạn. e. Nghệ thuật : + Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ và giọng điệu. B. ĐỀ LUYỆN TẬP. Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! ............................... Mai Châu mùa em thơm nếp xôi. Dàn bài Mở bài: - Giới thiệu vài nét chính về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến. - Giới thiệu đoạn thơ (chép lại). Thân bài: 1. Hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội; được khắc hoạ bằng nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc: -Một loạt địa danh lạ tai: “Sài Khao”, “Mường Lát”, “Pha Luông”, gợi lên cảm giác xa xôi, hoang dã. - Nhiều từ láy đầy chất tạo hình: “Khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, có sức diễn tả mạnh mẽ, gây ấn tượng, làm hiện rõ hình ảnh núi rừng gập ghềnh, hiểm trở. Phối thanh tài hoa, lối tiểu đối đặc sắc: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” – “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, góp phần vẽ nên bức tranh thiên nhiên Tây Bắc vừa hoành tráng, hoang sơ với núi cao, dốc đứng, lại vừa thơ mộng, trữ tình, tạo cảm giác êm ái, thanh thản. 2. Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trong những cuộc hành quân gian khổ: - Đối mặt với thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ, cảnh thâm u, huyền bí của rừng thiêng: “súng ngửi trời”, “thác gầm thét/cọp trêu người”. - Hy sinh giữa chặng đường hành quân: “không bước nữa”, “bỏ quên đời” (cách nói giảm độc đáo của Quang Dũng). -Ấm áp tình quân dân sau những ngày hành quân vất vả: “nhớ ôi cơm lên khói thơm nếp xôi”. Kết bài: Bằng bút pháp lãng mạn có những sáng tạo về hình ảnh, ngôn ngữ giọng điệu, Quang Dũng không những khắc hoạ được một cách sinh động cảnh núi rừng hiểm trở, dữ dội, hoang vu mà còn diễn tả được sự ngang tàng rắn rỏi và chất hồn nhiên, tinh nghịch của người lính Tây Tiến. Đề 2: Phân tích hình ảnh người lính Tây Tiến trong đoạn thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ..................................... Sông Mã gầm lên khúc độc hành. 4
- Dàn bài: Mở bài: - Giới thiệu vài nét chính về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến. - Giới thiệu đoạn thơ (chép lại). Thân bài cần phân tích mấy ý chính: Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên qua đoạn thơ với: - Diện mạo khác thường, dáng vẻ oai phong dữ dội: “đầu không mọc tóc”, “xanh màu lá”, “dữ oai hùm”, “mắt trừng”. Người lính với căn bệnh sốt rét hiểm nghèo, cuộc sống sinh hoạt thiếu thốn làm tóc rụng, da xanh xao, nhưng ngòi bút lãng mạn của nhà thơ đã phủ lên hiện thực khắc nghiệt ấy một màn sương mờ ảo, làm cho sự gian khổ dường như giảm đi. Trong gian nan thử thách, dáng dấp người lính vẫn toát lên khí phách làm kinh sợ kẻ thù. - Tâm hồn lãng mạn: hướng về Hà Nội với những “dáng kiều thơm”. Đoàn quân Tây Tiến gồm những chàng trai vừa xếp bút nghiên, bỏ lại Hà Nội sau lưng, sẵn sàng chiến đấu cho Tổ quốc, nhưng bản chất hào hoa của người lính Hà thành vẫn có chỗ cho một “dáng kiều thơm”. - Sự hi sinh bi tráng: chẳng tiếc đời xanh, áo bào (mĩ từ) thay chiếu, về đất (nói giảm), sông Mã gầm lên (nhân hoá); biên cương, mồ viễn xứ, chiến trường, khúc độc hành: những từ Hán Việt gợi không khí trang trọng, cổ kính. Chân dung người lính Tây Tiến phảng phất hình bóng tráng sĩ thời xa xưa. Bằng bút pháp lãng mạn trên cơ sở hiện thực, Quang Dũng đã khắc hoạ bức chân dung người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa và sự hi sinh bi tráng với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một phẩm chất người lính bộ đội cụ Hồ. Tây Tiến là thi phẩm xuất sắc của nền thơ Việt Nam từ sau 1945, thời gian càng làm sáng lên vẻ đẹp và giá trị bền vững của bài thơ. BÀI 2: VIỆT BẮC (Tố Hữu) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1.Hoàn cảnh sáng tác: + Sau chiến thắng lịch sử ĐBP, hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lặp lại hoà bình ở ĐD được kí kết. Theo tinh thần của hiệp định, tháng 10 năm 1954, thực dân Pháp buộc phải rút quân khỏi miền Bắc VN. Vào thời điểm này, các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Chính phủ sẽ rời VB để về tiếp quản thủ đô HN. Tại VB sẽ diễn ra một cuộc chia tay lịch sử, một cuộc chia tay dạt dào kỉ niệm. Nhân sự kiện lịch sử trọng đại ấy TH đã viết bài thơ VB. 2. Nội dung bài thơ Nếu tập thơ “VB” là đỉnh cao của thơ TH và thơ kháng chiến thì bài thơ “VB” là đỉnh cao của tập thơ “VB”. - Đây là bài thơ dài được viết bằng thể thơ lục bát –một thể thơ truyền thống, theo lối đối đáp của ca dao giao duyên. - Bài thơ có hai nhân vật trữ tình là “mình” và “ta”. Mình và ta không phải là nhân vật cụ thể. Tác giả sử dụng hai đại từ này để chỉ người ra đi và người ở lại, tức những cán bộ kháng chiến và nhân dân VB gắn bó với nhau trong suốt 15 năm của hai thời kì CM bằng 5
- những tình cảm sâu nặng, thuỷ chung. Bởi thế khi đọc bài thơ lên, khó có thể phân biệt rạch ròi đâu là “ta” và đâu là “mình” vì trong “ta” có “mình” và trong „mình” có “ta”. Nhưng ở một phương diện khác cũng cần phải hiểu rằng “mình” và “ta” tuy hai mà một. Bản thân nhà thơ đã tự làm một cuộc phân thân để bày tỏ những tình cảm sâu nặng giữa VB và CM, giữa CM và VB. - Bài thơ vừa mang âm hưởng ngọt ngào, tha thiết vừa có giọng điệu hào hùng tràn đầy khí thế như một bản anh hùng ca tái hiện lại từng chặng đường của cuộc kháng chiến gian khổ và hào hùng. 2.1 - 20 Câu thơ đầu a. Khung cảnh chia li: Bịn rịn lưu luyến Sáng tạo của nhà thơ, cái cớ để nhà thơ bộc lộ cảm xúc. b.Tâm trạng của kẻ ở người đi * *Bốn câu đầu: Lời của người ởlại - Hỏi hai lần trực tiếp bộc lộ tâm trạng lo lắng, bồn chồn, băn khoăn - Nhắc: + Thời gian: 15 năm dài trong gắn bó tình cảm thiết tha mặn nồng + Không gian: cây- núi, sông – nguồn . Cội nguồn cách mạng, đạo lí truyền thống * Bốn câu sau: Tâm trạng của người ở lại - Từ ngữ; tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn .Tâm trạng lưu luyến, vấn vương - Hình ảnh: + áo chàm: hoán dụ chỉ ngườ dân VB + Cầm tay-biết nói gì: bịn rịn không nỡ xa rời - Nhịp điệu: 3/3/2 nghẹn ngào không nói nên lời c. Những câu thơ tiếp * Nhớ những ngày tháng gian khổ mà nghĩa tình - Cuộc sống, chiến đấu thiếu thốn, gian khổ nhưng tình nghia thủy chung. * Nhớ vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc - Cảnh vật núi rừng Việc Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa mơ mộng: “Nhớ gì ..vơi đầy”. + Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu” Nỗi nhớ thật da diết, mãnh liệt, cháy bỏng. + Điệp từ “nhớ” được đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể: nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng, sông suối mang những cái tên thân thuộc. => Nỗi nhớ bao trùm khắp cả không gian và thời gian. - Đẹp nhất trong nỗi nhớ là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người: Ta về mình có nhớ ta .............. Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. + Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp đa dạng, sinh động, thay đổi theo từng mùa: Mùa xuân: trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống với “mơ nở trắng rừng” Mùa hè: rực rỡ, sôi động với âm thanh “rừng phách đổ vàng” Mùa thu: yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình” Mùa đông: tươi tắn, không lạnh lẽo với hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi” + Gắn bó với thiên nhiên là những con người bình dị: Người đi làm nương rẫy (Ngày xuân ... trắng rừng) Người khéo léo trong công việc đan nón (Nhớ người ... sợi giang) 6
- Người đi hái măng giữa rừng tre nứa (Nhớ cô ... một mình) Bằng những việc làm nhỏ bé, họ góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. - Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp: + Hình ảnh “Hát hiu lau xám, đậm đà lòng son” Tuy họ nghèo về vật chất nhưng lại giàu về nghĩa tình. + Hình ảnh người mẹ: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô” nỗi xót xa về cuộc sống cơ cực của đồng bào miền núi. + Những tháng ngày: “Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” Họ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với người cán bộ kháng chiến. => Âm hưởng trữ tình tạo khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình yêu thương đồng chí, đồng bào, tình yêu thiên nhiên, đất nước. 2.2- Khung cảnh hùng tráng của VB trong chiến đấu, vai trò của VB trong cách mạng và kháng chiến a. Khung cảnh hùng tráng của VB trong chiến đấu: - Bức tranh Việt Bắc ra quân hùng vĩ : Những đường Việt Bắc của ta ........................ ngày mai lên. + Những hình ảnh không gian rộng lớn, những từ láy (rầm rập, điệp điệp, trùng trùng), biện pháp so sánh (như là đất rung), cường điệu (bước chân nát đá), biện pháp đối lập (Nghìn đêm >< mai lên), những động từ (rấm rập, đất rung, lửa bay) diễn tả được khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp: không khí sôi động với nhiều lực lượng tham gia, những hoạt động tấp nập + Âm hưởng hùng ca, mang tính sử thi của đoạn thơ thể hiện được sức mạnh của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. - Dân tộc ấy vượt qua bao khó khăn, thử thách, hi sinh để đem về những kì tích: + “Tin vui thắng trận trăm miền. ..... núi Hồng” + “Ai về ai có nhớ không? .... Nhị Hà ” Liệt kê những chiến công gắn liền với những địa danh lịch sử. - Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn đã làm nên chiến thắng: + Đó là sức mạnh của lòng căn thù: “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” + Đó là sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi” + Sức mạnh của tình đoàn kết: “Nhớ khi ........ một lòng” Khối đại đoàn kết toàn dân (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”), sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên (Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây): tất cả tạo thành hình ảnh một đất nước đứng lên tiêu diệt kẻ thù. b. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến: - “Mình về, ............. cây đa.” 7
- + Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước.. + Việt Bắc là chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc. -“Ở đâu ..... cộng hoà” + Khẳng định Việt Bắc là nơi có “Cụ Hồ sáng soi”, có “Trung ương chính phủ luận bàn việc công” + Khẳng định niềm tin yêu của cả nước với Việt Bắc bằng những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình. 3. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc: a. Về thể loại: - Cấu tứ bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình “ta” và “mình”, người ra đi, người ở lại đối đáp nhau. - Sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao: + “Mình về rừng núi nhớ ai, Trám bùi để rụng,/ măng mai để già.” + “Điều quân ... mở đường.” Tác dụng: + Nhấn mạnh ý + Tạo nhịp thơ uyển chuyển, cân xứng, hài hoà + Lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, cân xứng hài hoà. b. Về ngôn ngữ: - Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất mộc mạc, giản dị nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào nghĩa tình. Đó là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể: “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” “Nắng trưa rực rỡ sao vàng” + Ngôn ngữ giàu nhạc điệu: “Chày đêm nện cối đều đều suối xa” “Đêm đêm rầm rập như là đất rung” - Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của dân gian: + “Mình về, mình có nhớ ta” “Mình về, có nhớ chiến khu” tạo giọng điệu trữ tình thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỷ niệm và tình nghĩa thuỷ chung. B. ĐỀ LUYỆN TẬP. Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau: Ta về mình có nhớ ta .......................... Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. DÀN BÀI (Gợi ý) * Mở bài: - Giới thiệu vài nét về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc. - Giới thiệu đoạn thơ (chép lại). 8
- * Thân bài: Qua nỗi nhớ hiện lên bức tranh tứ bình về Việt Bắc trong bốn mùa với vẻ đẹp nhiều sắc màu của các loài hoa rừng hoà hợp với bóng dáng người lao động Việt Bắc. - Câu 1-2: nêu khái quát về vẻ đẹp của VB qua hình ảnh “những hoa cùng người”, vẻ đẹp hài hoà, gắn bó giữa thiên nhiên và con người. - Câu 3-4: Bức tranh mùa đông với nền cảnh là màu xanh của núi rừng bạt ngàn, nổi bật lên là màu đỏ tươi của hoa chuối. Không gian của cảnh mở rộng hơn theo chiều cao với hình ảnh ánh nắng phản chiếu lấp lánh trên “dao gài thắt lưng” của người lao động trên đèo cao. Cảnh mùa đông ở đây không lạnh lẽo, tàn lụi mà đầy ánh sáng, ấm áp. - Câu 5-6: Bức tranh mùa xuân mang vẻ đẹp thanh khiết với “mơ nở trắng rừng”. Câu 7- 8: Bức tranh mùa hè rộn rã, đầy sức sống với sự phối hợp cả màu sắc và âm thanh đặc trưng của mùa hè “ve kêu” và “rừng phách đổ vàng”. - Câu 9-10: Bức tranh mùa thu thơ mộng với ánh trăng chiếu sáng một khung cảnh yên bình ngân vang tiếng hát. Thấp thoáng trong từng cảnh là bóng dáng người VB cần cù, chăm chỉ, miệt mài lao động (người đan nón chuốt từng sợi giang, cô em gái hái măng một mình). Đánh giá chung: • Sự quan sát tinh tế và tình cảm yêu mến thiết tha đã giúp nhà thơ tái hiện và tạo dựng được những vẻ đẹp khác nhau của VB trong những thời khắc khác nhau. • Nghệ thuật: thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp, âm điệu ngọt ngào, sử dụng điệp từ “nhớ”, đại từ nhân xưng “mình – ta”; tả thiên nhiên và người hoà hợp gắn bó trong cấu trúc cân đối về hình ảnh, màu sắc (câu 6: cảnh/câu 8: người). Kết bài: Đoạn thơ hay và tiêu biểu cho bài thơ VB của Tố Hữu, giúp ta cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên VB và càng yêu mến “quê hương cách mạng”. Đề 2: Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Những đường Việt Bắc của ta ................................... Vui lên Việt Bắc Đèo De Núi Hồng DÀN BÀI: (Gợi ý) Mở bài: - Việt Bắc là một bài thơ hay của Tố Hữu và là một thành tựu xuất sắc của nền thơ kháng chiến chống Pháp 1945-1954. - Nội dung cảm xúc của bài thơ là nỗi nhớ - một nỗi nhớ hướng tới nhiều đối tượng cụ thể vừa khác biệt vừa thống nhất với nhau. Ở đoạn thơ sau, nỗi nhớ như xoáy vào những ngày tháng hào hùng của cuộc kháng chiến. ( .Trích dẫn) - Thân bài: a. Tám câu thơ đầu: - Nhà thơ vẽ lại sống động hình ảnh những đêm Việt Bắc chuyển quân trong mùa chiến dịch: + Chỉ vài nét phát hoạ khung cảnh hùng tráng của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc, Tố Hữu đã cho người đọc cảm nhận được khí thế hào hùng, mạnh mẽ của khối đoàn kết toàn dân, toàn diện, sự gắn bó giữa thiên nhiên với con người. 9
- + Từ “những” đặt ở đầu đoạn thơ mở ra bức tranh hoành tráng một không gian rộng lớn trong những ngày mớ chiến dịch Điện Biên Phủ. + Từ “của ta” thể hiện ý thức làm của những người tham gia kháng chiến đối với đất nước của mình. Những nẻo đường chiến khu Việt Bắc giờ đây là “của ta”. + Đêm đêm, những bước chân hành quân “rầm rập”, làm rung chuyển cả đất trời, bước chân những người khổng lồ đội trời đạp đất làm nên những kì tích anh hùng. -Khí thế bừng bừng của quân ta được miêu tả hết sức sinh động: + Các từ láy có gía trị tượng thanh, tượng hình: “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng”, biện pháp so sánh “ như là đất rung” diễn tả được không khí hồ hỡi, sôi sục trong những ngày hành quân ra mặt trận làm nổi bật được sức mạnh cuộn như thác lũ của quân ta. + Đoàn quân ra trận đông đảo, người người lớp lớp, như sóng cuộn “điệp điệp trùng trùng”. Có “ánh sáng đầu súng”, có “đỏ đuốc”, có “muôn tàn lửa bay”, có sức mạnh của bước chân “nát đá”. + Câu thơ “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” là một tứ thơ sáng tạo, vừa hiện thực vừa mộng ảo. Ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép. Ánh sao của bầu trời Việt Bắc, ánh sao lí tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do như soi sáng nẻo đường hành quân ra trận của anh bộ đội. + Tuy miêu tả cảnh ban đêm nhưng bức tranh thơ giàu chi tiết nói về ánh sáng: Màu đỏ của “đuốc”, của “muôn tàn lửa bay” gợi một cảnh tượng rực rỡ, hừng hực khí thế hào hùng trong những đêm tiến quân ra chiến trường Điện Biên Phủ. + Cách nói thậm xưng “bước chân nát đá” diễn tả sức mạnh đạp bằng mọi gian khó của đoàn người ra hoả tuyến. Bước chân của họ là bước chân của những người đội đá, vá trời, rung chuyển càn khôn, đạp bằng gian nguy làm nên chiến thắng diệu kì, khiến thế giới phải khâm phục. - Cảm hứng sử thi lãng mạn, hào hùng, ý thơ phóng xa vào viễn cảnh tương lai tươi sáng: - + Nhìn ánh đèn pha của đoàn xe cơ giới xuyên màn đêm của núi rừng Việt Bắc, tác giả so sánh như tương lai tươi sáng đất nước. Đó là tinh thần lạc quan, phấn khởi, tin tưởng ngày chiến thắng đã gần kề. + Nhà thơ dùng thủ pháp đối lập để diễn tả cản hứng tự hào, lạc quan đó.Dù hôm nay và cả nghìn đêm đã qua, dân tộc phải chìm trong thăm thẳm của khói lửa đau thương; tăm tối mịt mùa của chiến tranh, của đói nghèo thì hãy tin rằng ngày mai, ngày mai chúng ta sẽ chiến thắng. Cuộc đời sẽ rộng mở, tươi sáng như ánh đèn pha đang chiếu vào bóng tối, sương mù, mở đường cho xe ta ra mặt trận. Chúng ta sẽ độc lập, tự do, no ấm. b.Bốn câu thơ cuối: Các địa danh “chiến thắng trăm miền” trên đất nước thân yêu - Liệt kê các địa danh chiên thắng: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê, đèo De, núi Hồng. Mỗi địa danh ghi lại một chiến công. - Niềm vui chiến thắng dồn dập, giòn giã: “Tin vui chiến thắng vui về về từ vui lên”. Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp nên tin vui thắng trận khắp mọi miền đất nước báo cáo về đó, rồi từ đó toả đi trăm ngã. - Điệp từ “vui” như tiếng mừng thắng trận cất lên trong lòng hàng triệu con người từ Bắc chí Nam. Kết bài: 10
- - Đoạn thơ làm sống lại không khí hào hùng của một thời lịch sử không thể nào quên. - Việt Bắc trở thành biểu tượng chung cho sức mạnh kháng chiến, cho linh hồn cách mạng, cho ý chí của toàn dân trong cuộc trường chinh vĩ đại. - Đoạn thơ giàu chất “sử ca” thể hiện rõ khả năng tạo được một bức tranh hoành tráng về lịch sử dân tộc, gợi niềm tự hào về truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc. BÀI 3: ĐẤT NƯỚC (Nguyễn Khoa Điềm ) ( Trích Mặt đường khát vọng) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1/Vài nét về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm : - NKĐ sinh năm 1943 trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và CM ở huyện Phong Điền tỉnh TT - Huế. Sau khi tốt nghiệp trường ĐHSP Hà Nội năm 1964, ông trở lại miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên thành phố Huế. NKĐ từng giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Nhà nước. Năm 2006, ông nghỉ hưu, về sống tại Huế và tiếp tục làm thơ. - Thơ NKĐ cuốn hút người đọc bằng cảm xúc trữ tình nồng thắm và chất suy tư sâu lắng. Ông cất lên tiếng nói của một người trí thức thiết tha gắn bó với quê hương, giàu ý thức trách nhiệm với nhân dân, đất nước. - Tác phẩm chính: SGK. 2/ Trường ca “Mặt đường khát vọng": - Được hoàn thành ở chiến khu BTT năm 1971 (in lần đầu năm 1974) - Viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. 3/ Đoạn trích “Đất Nước”: *. Xuất xứ: - Phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng” - Giá trị: Được xem là đoạn thơ hay về đề tài quê hương đất nước của thơ ca Việt Nam hiện đại. - Thể loại: trường ca (có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình) * Nội dung: 1. Phần 1: Những nét riêng trong cảm nhận của tác giả về đất nước: a. Cội nguồn đất nước: - Chọn những hình ảnh tự nhiên và bình dị để cảm nhận về đất nước: Đất nước + có từ những cái ngáy xửa ngày xưa mẹ thường hay kể: những câu chuyện cổ tích – văn học dân gian + miếng trầu bà ăn: sinh hoạt hàng ngày + lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc: truyền thống đánh giặc + tóc mẹ búi sau đầu: phong tục, tập quán + cha mẹ thương nhau: tình nghĩa thủy chung + cái kèo cái cột: SVbình thường + Hạt gạo: đức tính cần cù chăm chỉ + Nguyễn Khoa Điềm giúp ta cảm nhận đất nước một cách thật gần gũi + Đất nước có lịch sử lâu đời, giàu truyền thống tốt đẹp: văn hóa, đánh giặc, lao động Đất nước được cảm nhận từ chiều sâu văn hoá và lịch sử. 11
- b. Bản chất của đất nước * Đất nước là sự thống nhất hài hòa giữa không gian địa lí và thời gian lịch sử: - Về không gian địa lí: Tác giả chia tách khái niệm đất nước thành hai yếu tố đất và nước để cảm nhận và suy tư về đất nước một cách sâu sắc: + Đất nước là nơi tình yêu đôi lứa nảy nở: “Đất là nơi anh đến trường... đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm + Đất Nước bao gồm cả núi sông, rừng bể: “Đất là nơi móng nước biển khơi”. Hình ảnh gợi không gian mênh mông: Niềm tự hào về đất nước trù phú, giàu đẹp, tài nguyên vô tận. + Đất Nước cũng chính là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ: Từ quá khứ (Những ai đã khuất), hiện tại (Những ai bây giờ), đến các thế hệ tương lai (Dặn dò con cháu chuyện mai sau) + Tất cả đều không quên nguồn cội: “Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. - Mạch thơ thể hiện những suy ngẫm về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với Đất Nước: - Đất Nước không ở đâu xa mà có mặt trong mỗi con người: “Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước” Mỗi người Việt Nam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước. + Đất nước là sự hài hoà hợp trong nhiều mối quan hệ: cá nhân với cá nhân (“Khi hai đứa cầm tay nhau - Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm), cá nhân với cộng đồng (Khi chúng ta cầm tay mọi người - Đất Nước vẹn tròn to lớn”) Đất nước được xây dựng trên cơ sở của tình yêu thương và tình đoàn kết dân tộc. - Vì vậy, mỗi con người cần có trách nhiệm đối với đất nước: “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời” Điệp ngữ “phải biết”, những từ ngữ “máu xương”, “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân”, cách xưng hô thân mật “Em ơi em”, giọng thơ ngọt ngào tha thiết như lời tâm sự, nhắn gửi chân thành dành cho thế hệ trẻ cũng như bản thân mình. - Là phần đầu chương V của bản trường ca, được xem là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ VN hiện đại. - Thể hiện những quan niệm hết sức mới mẻ và độc đáo của tác giả về đất nước trong chiều sâu văn hoá - lịch sử và trong cuộc sống đời thường của mỗi người. - Tư tưởng cốt lõi của nhận thức về đất nước trong đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”. Nó quy tụ mọi cách nhìn về lịch sử, địa lý, văn hoá của đất nước. 2. Phần 2: Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”: a. Những phát hiện mới mẻ về không gian – lãnh thổ - địa lí của đất nước: “Những người vợ nhớ chồng Bà Đen, Bà Điểm” 12
- Dưới cái nhìn của NGuyễn Khoa Điềm, thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hoá mà còn được hình thành từ cuộc đời và số phận của nhân dân, từ: người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, người học trò nghèo, đến những người dân vô danh được gọi bằng những cái tên mộc mạc như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm. - Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát: “ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.” Theo tác giả: Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng khắp mọi miền của đất nước đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân, của những con người bình thường, vô danh. b.Trên phương diện thời gian - lịch sử cũng chính nhân dân, những con người bình dị, vô danh đã “Làm nên đất nước muôn đời”: + Chính vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị: Có biết bao người con gái con trai Nhưng họ làm ra đất nước Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên Đất Nước là nét mới mẻ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm c. Trên phương diện văn hoá, cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc: Họ giữ và truyền cho ta hái trái” + Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh” Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ. + Chính những con người “giản dị và bình tâm” “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau mọi giá trị tinh thần và vật chất của Đất nước từ “hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói đến cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân. - Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù: “Có ngoại xâm vùng lên đánh bại” Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình. - Điểm hội tụ và cũng là cao điểm của cảm xúc trữ tình trong đoạn thơ là ở câu: “Để cho Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”. + Khi nói đến “Đất Nước của nhân dân”, tác giả mượn văn học dân gian để nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của đất nước: “Đất Nước của ca dao thần thoại” + Từ nền văn học dân gian, nhà thơ đã khám phá ra những vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc: Họ là những con người yêu say đăm và thuỷ chung: “Dạy anh yêu em từ thuở trong nôi”, Quý trọng nghĩa tình (Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội) Quyết liệt trong chiến đấu với kẻ thù (Biết trồng tre đợi ngày thành gậy - Đi trả thù mà không sợ dài lâu) - Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với những điệu hò: 13
- “Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhìêu cung bậc của bản trường ca về Đất Nước. * Nghệ thuật: Sử dụng chất liệu văn học dân gian: ca dao, thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, thành ngữ, tục ngữ, sự phong phú linh hoạt của giọng điệu. B.ĐỀ LUYỆN TẬP. Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về 9 câu thơ đầu của đoạn trích “Đất Nước”: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi .. Đất Nước có từ ngày đó ” GỢI Ý Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn thơ. Cảm nhận về đoạn thơ: - Đoạn thơ trả lời cho câu hỏi: Đất Nước có từ bao giờ? Đất Nước có từ đâu? Được thể hiện bằng câu mệnh đề: “Đất Nước có trong”, “Đất Nước bắt đầu”, “Đất Nước lớn lên”, “Đất Nước có từ” - Sự độc đáo trong cách cảm nhận, lí giải về đất nước ở đoạn thơ này là: Đất nước hiện lên không kỳ vĩ, mỹ lệ, trang trọng (như trong các tác phẩm viết cùng đề tài) mà rất cụ thể, bình dị, gần gũi, thân thiết với mỗi người Việt Nam. Đất nước ở ngay trong cuộc sống hàng ngày, trong mỗi gia đình, mỗi căn nhà, trong những vật dụng quen thuộc. Nó có trong “miếng trầu bây giờ bà ăn”, trong “những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể”, trong “cái kèo cái cột” thân quen và trong hạt gạo mà người nông dân “phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng”. Đất Nước có từ lâu đời: “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi” Cụm từ “đã có rồi” không xác định thời gian cụ thể nhưng hình ảnh “miếng trầu” (trong sự tích Trầu cau) và cụm từ quen thuộc “ngày xửa ngày xưa” (trong các câu chuyện cổ tích) đã khẳng định được sự tồn tại lâu đời của đất nước ta. - Không chỉ hình thành từ lâu đời mà Đất nước còn “lớn lên”, trưởng thành và phát triển nhờ: ý thức đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta từ thời xa xưa “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc” (hình ảnh cây tre => gợi truyền thuyết Thánh Gióng); nhờ tình nghĩa thuỷ chung, gắn bó với con người mà cụ thể là: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” (thành ngữ “gừng cay muối mặn” trích từ ca dao: Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau); nhờ sự lao động cần cù của người lao động: “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” Cuối cùng, tác giả khẳng định: “Đất Nước có từ ngày đó ” Mặt khác, sự cảm nhận ấy cũng làm cho những điều bình dị, quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người mang chứa ý nghĩa sâu xa, thiêng liêng vì nó chính là sự cụ thể hoá của đất nước. 14
- -Nghệ thuật đặc sắc: chất liệu văn hoá, văn học dân gian được sử dụng rất sáng tạo (cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ ) tạo không khí cổ kính và thơ mộng. Âm điệu thơ nhẹ nhàng như lời kể, lời tâm tình. Từ “Đất Nước” được láy lại nhiều lần và viết hoa một cách trang trọng; cách cảm nhận, thể hiện rất độc đáo, mới mẻ Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau: “Họ đã sống và chết Để Đất Nước này là Đất Nước của Nhân dân”. (Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm). GỢI Ý: Đoạn thơ thể hiện rõ tư tưởng cốt lõi: “Đất Nước của Nhân dân”. Nói về Đất Nước, nhà thơ không nói đến các triều đại và những anh hùng nổi tiếng mà lại khẳng định: Họ - những con người bình dị, vô danh: “Không ai nhớ mặt đặt tên, Nhưng họ đã làm ra Đất Nước” Tác giả lại khẳng định công lao vĩ đại của Nhân dân. Chính họ đã sáng tạo nên mọi giá trị vật chất và tinh thần cho đất nước: “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng, Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái” Những hình ảnh cụ thể và giàu sức gợi cảm: hạt lúa, ngọn lửa, giọng điệu, tên xã, tên làng đã khẳng định vai trò to lớn của nhân dân, khẳng định công sức, trí tuệ, tâm huyết của bao thế hệ con người Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhân dân còn đóng vai trò chủ thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Không chỉ tạo nên ruộng đồng, bờ bãi phì nhiêu cho thế hệ sau: “trồng cây hái trái”, họ còn đánh đuổi giặc ngoại xâm và nội thù để giữ gìn độc lập, tự do cho quê hương, đất nước: “Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại” Cuối cùng, tác giả khái quát tư tưởng cốt lõi trong câu thơ cô đúc: “Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân” Nghệ thuật: Giọng thơ trữ tình – chính luận sâu lắng, từ ngữ và hình ảnh cụ thể, biểu cảm, gần gũi với đời sống. Điệp từ “họ” nhấn mạnh vai trò to lớn, công lao vĩ đại của Nhân dân. Đoạn thơ là bức tượng đài kì vĩ khẳng định, ca ngợi vai trò chủ thể của nhân dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nhấn mạnh tư tưởng cốt lõi của cả đoạn trích: tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”. BÀI 4: SÓNG ( Xuân Quỳnh) A.KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1/Vài nét về nhà thơ Xuân Quỳnh : - XQ thuộc số những nhà thơ lớp đầu tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của thơ ca VN hiện đại. Thơ XQ in đậm dấu ấn riêng của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, hóm hỉnh mà đằm thắm, sâu sắc, thiết tha gắn bó với cuộc đời. Đặc biệt, thơ tình XQ toát lên vẻ đẹp tự nhiên, dung dị. Hình tượng người phụ nữ trong thơ chị luôn được khắc hoạ với sự chân thành và mãnh liệt trong khát vọng tình yêu, với niềm trân trọng, nâng niu hạnh phúc của đời thường. 15
- 2/ Tác phẩm a. Hoàn cảnh sáng tác: - Sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). - Là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. - In trong tập Hoa dọc chiến hào (1968). b. Nội dung: b.1. Những cảm xúc, suy nghĩ về sóng biển và tình yêu: - Khổ 1: + Tiểu đối: Dữ dội - dịu êm; ồn ào - lặng lẽ mở đầu bằng 4 tính từ: Miêu tả trạng thái đối lập của sóng và liên tưởng đến tâm lí phức tạp của người phụ nữ khi yêu (khi sôi nổi, mãnh liệt khi dịu dàng, sâu lắng). + Phép nhân hoá: “Sông - không hiểu mình” “Sóng - tìm ra bể” Con sóng mang khát vọng lớn lao: Nếu “sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp để “tìm ra tận bể”, tìm đến nơi cao rộng, bao dung. => Hành trình “tìm ra tận bể” của sóng cúng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức, chính bản thân, khát khao sự đồng cảm, đồng điệu trong tình yêu.. - Khổ 2: + Quy luật của sóng: Sóng: ngày xưa, ngày sau: vẫn thế sự trường tồn của sóng trước thời gian: vẫn dạt dào, sôi nổi. + Quy luật của tình cảm: “Khát vọng tình yêu - bồi hồi trong ngực trẻ” Tình yêu là khát vọng lớn lao, vĩnh hằng của tuổi trẻ và nhân loại. => Xuân Quỳnh đã liên hệ tình yêu tuổi trẻ với con sóng đại dương. Cũng như sóng, con người đã đến và mãi mãi đến với tình yêu. Đó là quy luật muôn đời. b.2 Sóng và cội nguồn cuả tình yêu đôi lứa: - Khổ 3: Điệp từ: “em nghĩ” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” quay về lòng mình, nhu cầu tìm hiểu, phân tích, khám phá tình yêu - Khổ 4: Đi tìm câu hỏi tu từ cho câu hỏi ở khổ 3: Câu hỏi tu từ: Gió bắt đầu từ đâu? Khi nào ta yêu nhau? XQ dựa vào quy luật tự nhiên để truy tìm khởi nguồn của tình yêu nhưng nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu đều bất ngờ, đầy bí ẩn, không thể lí giải. Đây là cách cắt nghĩa tình yêu rất chân thành và đầy nữ tính. - Khổ 5: Nỗi nhớ + Bao trùm cả không gian: «sóng dưới lòng sâu, sóng trên mặt nước » + Thao thức trong mọi thời gian: «ngày đêm không ngủ được» Phép đối, giọng thơ dào dạt, náo nức, mãnh liệt : diễn tả nỗi nhớ da diết, không thể nào nguôi, cứ cuồn cuộn, dào dạt như sóng biển triền miên. + Sóng nhớ bờ mãnh liệt, tha thiết, còn em nhớ anh đắm say hơn bội phần : 16
- «Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức» Cách nói cường điệu nhưng hợp lí : nhằm tô đậm nỗi nhớ (choáng ngợp cõi lòng không chỉ trong ý thức mà thấm sâu vào trong tiềm thức). Bày tỏ tình yêu một cách chân thành, tha thiết mà mạnh dạn, mãnh liệt . - Khổ 6: Lòng chung thuỷ + Cách nói khẳng định: em: dẫu xuôi - phương bắc; dẫu ngược - phương nam, em: vẫn « Hướng về anh một phương » Lời thề thủy chung tuyệt đối trong tình yêu: dù đi đâu về đâu vẫn hướng về người mình đang thương nhớ đợi chờ. + Các điệp ngữ: « dẫu xuôi về, dẫu ngược về » + điệp từ « phương » + các từ « em cũng nghĩ, hướng về anh » Khẳng định niềm tin đợi chờ trong tình yêu. - Khổ 7: Bến bờ hạnh phúc. + Mượn hình ảnh của sóng: « Sóng ngoài đại dương » - « Con nào chẳng tới bờ » quy luật tất yếu. + Sóng tới bờ dù cách trở: Tình yêu là sức mạnh giúp em và anh vượt qua gian lao, thử thách để đạt đến bến bờ hạnh phúc. => XQ thể hiện cái tôi của một con người luôn có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu. b.3 Sóng và khát khao tình yêu vĩnh cửu: - Khổ 8: Những từ ngữ diễn tả quan hệ đối lập : « ... tuy ... (nhưng) ... » « ... dẫu ... (nhưng) ... » Cuộc đời - dài >< Năm tháng - đi qua Sự nhạy cảm và âu lo, phấp phỏng về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc - Khổ 9: Dùng từ chỉ số lượng lớn : Làm sao tan ra → trăm con sóng → ngàn năm còn vỗ + Khao khát được sẻ chia, hoà nhập vào cuộc đời. + Khát vọng được sống hết mình trong biển lớn tình yêu, muốn hoá thân vĩnh viễn thành TY muôn thuở. Khát vọng khôn cùng về tình yêu bất diệt. d. Nghệ thuật: - Kết cấu tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em. - Nhịp điệu tự nhiên, linh hoạt - Ngôn từ, hình ảnh trong sáng, giản dị hội tụ nhiều nét tiêu biểu trong phong cách thơ XQ B. ĐỀ LUYỆN TẬP: Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh : Dữ dội và dịu êm ....................... Bồi hồi trong ngực trẻ. DÀN BÀI: Mở bài: 17
- Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ nữ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. “Sóng” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh luôn luôn trăn trở, khao khát được yêu thương gắn bó. Bài thơi in trong tập “Hoa dọc chiến hào” (1968). Đoạn thơ trích nằm ở phần đầu của bài thơ, thể hiện tình yêu thủy chung của một tâm hồn khát khao yêu mãnh liệt. Thân bài - Sóng là bài thơ tình yêu thời chiến và ở đó người đọc nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình – người phụ nữ Việt Nam khi yêu: chân thành, da diết, tận tuỵ, thuỷ chung và tin tưởng ở tin yêu dù “muôn vời cách trở” . - Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ; là ẩn dụ cho tình yêu và khát vọng cao đẹp của tâm hồn người phụ nữ. a. Bốn câu đầu: Khát vọng một tình yêu cao đẹp : - Từ việc khám phá những trạng thái khác nhau của sóng, tác giả diễn tả các cung bậc tình cảm của người phụ nữ đang yêu và thể hiện một quan niệm mới về tình yêu – yêu là tự nhận thức, là vươn tới cái cao rộng, lớn lao. - Mượn tính chất và quy luật muôn đời của sóng, tác giả khẳng định khát vọng tình yêu thường trực trong trái tim tuổi trẻ. + Cái dữ dội của sóng biển như sự mãnh liệt trong tình yêu con người. + Sự dịu êm của sóng như những phút giây êm đềm trong tình yêu. + Cái ồn ào của sóng như sự sôi nổi khi yêu .+ Khi sóng lặng lẽ như sự suy tư, trăn trở để bồi đắp trong tình yêu. - Biểu hiện của tình yêu cao đẹp + “Sông không hiểu nổi mình” có nghĩa là không hiểu nổi sóng vì sự giới hạn chật hẹp của sông, không đủ sức chứa hết những sác thái phong phú của sóng và như một tất yếu, “sóng tìm ra tận bể”, bởi lẽ chỉ có đại dương bát ngát, bao la mới đủ cho sóng phô diễn hết sác thái và vẻ đẹp của mình .==> cũng vậy, một tâm hồn tầm thường làm sao nuôi dưỡng được một tình yêu cao đẹp. vì thế, ngay khổ thơ đầu, cái tôi trữ tình đã bộc lộ một khát vọng về tình yêu đẹp. b. Bốn câu tiếp theo: Khát vọng một tình yêu muôn thuở - Nhà thơ không nói con sóng “ngày xưa – ngày nay”, mà nói “ngày xưa – ngày sau” như khẳng định sự muôn đời và tình yêu cũng vậy sẽ mãi tồn tại với con người và nhân loại. Khám phá mới về sóng: Tượng trưng cho sự bất diệt của tuổi trẻ và khát vọng tình yêu. Nhà thơ quan niệm tình yêu gắn liền với tuổi trẻ “nỗi khát vọng tình yêu; bồi hồi trong ngực trẻ” . Mượn quy luật tự nhiên để diễn tả một triết lí dung dị nhưng thấm thía về tình yêu và tuổi trẻ; còn tình yêu là khát vọng yêu thương mãi còn, tức là con người mãi trẻ trung (so sánh với triết lí của Xuân Diệu: Nói làm chi rằng xuân vẫn tồn tại – Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại). => sự nồng nàn, sôi nổi , hồn nhiên và phóng khoáng trong tình yêu. - Nghệ thuật: Thể thơ 5 chữ sáng tạo, sử dụng sáng tạo hình tượng sóng, âm điệu sâu lắng, dạt dào; nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ, đối lập, tương phản; nhịp thơ chậm, thấm đẫm suy tư. Các biện pháp điệp từ, điệp cú pháp góp phần tạo nên nhịp điệu nồng nàn, say đắm, thích hợp cho việc diễn tả cảm xúc mãnh liệt. Kết bài: 18
- Trong đoạn thơ, Xuân Quỳnh đã thể hiện rất gợi cảm và sinh động những trạng thái cảm xúc, những khao khát mãnh liệt của một người phụ nữ đang yêu. Mượn hiện tượng thiên nhiên để bất tử hóa cảm xúc, trường cửu hóa tình yêu và khát vọng yêu thương. Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ sau trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh: “Con sóng dưới lòng sâu .. Dù muôn vời cách trở”. (Sóng – Xuân Quỳnh) DÀN BÀI Mở bài: - Giới thiệu Xuân Quỳnh và bài thơ Sóng. - Giới thiệu đoạn thơ: nằm ở phần giữa bài thơ. Có thể xem đó là một đoạn tiêu biểu của tác phẩm. Giống như toàn bài, ở đoạn này hai hình tượng “sóng” và “em” luôn song hành, khắc hoạ rõ nét nỗi nhớ, sự thuỷ chung tha thiết và niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, hạnh phúc của tâm hồn người phụ nữ khi yêu. - Thân bài: a. Sáu câu đầu: nỗi nhớ trong tình yêu. - Nỗi nhớ được thể hiện qua hình tượng sóng: • Thể thơ 5 chữ và sự lặp lại đến hai lần những từ con sóng, nhớ tạo nhạc điệu đặc biệt cho đoạn thơ, đồng thời cũng góp phần bày tỏ nỗi nhớ như sóng đang dâng trào, da diết. • Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, choáng ngợp cả thời gian: “dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”, “ngày đêm không ngủ được” - Mượn hình tượng sóng để nói chưa đủ, nhà thơ còn trực tiếp giải bày: “Lòng em nhớ đến anh – Cả trong mơ còn thức”. Nỗi nhớ không chỉ trong ý thức mà còn len cả vào trong tiềm thức. Cái thức trrong mơ ấy mới thực là nỗi lòng. Nét mới trong thơ Xuân Quỳnh chính là ở tiếng nói trực tiếp giải bày, chân thực, mạnh dạn, hồn nhiên, dám sống thật là mình (có thể so sánh với tiếng thơ tình yêu của một số nhà thơ khác để thấy sự chân thành trực tiếp giãi bày của Xuân Quỳnh là rất riêng và độc đáo). b. Bốn câu tiếp theo: khát vọng thuỷ chung. - Cách nói khẳng định cho thấy tấm lòng chung thuỷ của người phụ nữ: dù ở nơi nào, tâm hồn của người phụ nữ cũng chỉ có một phương duy nhất, đó là phương anh. - Dù rất mới mẻ, hiện đại nhưng với khát vọng thuỷ chung này, tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh vẫn có gốc rễ sâu sắc từ trong tâm thức và truyền thống dân tộc. c) Bốn câu còn lại: niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, hạnh phúc - Dù gió xô bão dạt tới phương nào đi nữa cuối cùng sóng vẫn về với bờ. Đó là hiện thực, là qui luật. - Hình như khẳng định tình yêu chung thủy e chưa đủ, nên cảm xúc thơ lúc này như lắng xuống, nhập vào sóng để khẳng định thêm vẻ đẹp tình yêu của mình: có cách trở - vẫn thủy chung trọn vẹn. - Tình yêu vượt lên trên mọi không gian, thời gian, mọi khó khăn cách trởcủa cuộc đời để đi đến đích. Đó là niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, hạnh phúc của một tâm hồn người phụ nữ đang yêu. 19
- - Nghệ thuật: thể thơ năm chữ với âm điệu nhịp nhàng; hình tượng ẩn dụ độc đáo; giọng thơ tha thiết, sâu lắng. - Kết bài: Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. Nhận xét về nét đẹp trong tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu. BÀI 5: ĐÀN GHI TA CỦA LOR – CA ( Thanh Thảo) A. KIẾN THỨC CƠ BẢN. 1- Tác giả: - Thanh Thảo là một trong những gương mặt tiêu biểu cho các nhà thơ trưởng thành trong k/c chống Mĩ. - Ngòi bút hướng nội giàu suy tư, trăn trở về cuộc sống của nhân dân, đất nước và thời đại; luôn tìm tòi những hình thức biểu đạt mới. 2- Tác phẩm: - In trong tập “Khối vuông ru bích”- 1985, là một trong những sáng tác tiêu biểu cho kiểu tư duy thơ tượng trưng. - Đàn ghi ta (Tây Ban Cầm) có 6 dây, một nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha. - Lor-ca (1898 - 1936): nhà thơ thiên tài của TBN, người có khát vọng tự do và cách tân nghệ thuật mãnh liệt, bị chính quyền phản động thân phát xít bắt giam và giết hại. .3. Ý nghĩa tựa đề và lời đề từ : a. Tựa đề “Đàn ghi ta của Lorca” - Đàn ghi ta là niềm tự hào, là hồn của đất nước Tây Ban Nha (nên còn được gọi là Tây Ban cầm). - Đàn ghi ta gắn bó thân thiết với Lor-ca trên những nẻo đường ca hát và sáng tạo. Đàn ghi ta là biểu tượng cho tình yêu của Lor-ca đối với đất nước Tây Ban Nha, cho con đường nghệ thuật của tác giả, cho khát vọng cao cả mà Lor-ca nguyện phấn đấu suốt đời. b. Lời đề từ : Đây là di chúc của nhà thơ, khi tiên cảm về cái chết. - Hãy chôn tôi với cây đàn - phần hồn của đất nước Tây Ban Nha tình yêu Tổ quốc nồng nàn. - Hãy chôn tôi với cây đàn - biểu trưng cho sự nghiệp của Lor-ca ước nguyện suốt đời theo đuổi sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật, mong muốn xóa bỏ ảnh hưởng của bản thân để dọn đường cho thế hệ sau vươn tới. 4. Ý nghĩa tượng trưng qua hệ thống hình ảnh Đoạn 1 : + Hình ảnh Lor-ca được giới thiệu bằng những nét chấm phá, phần nào chịu ảnh hưởng của trường phái ấn tượng: những tiếng đàn bọt nước – Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt – li-la-li- la-li-la – đi lang thang về ven biển đơn độc – với vầng trăng chếnh choáng – trên yên ngựa mỏi mòn. + Những hình ảnh tương phản vừa giúp ta hình dung về Lor-ca, vừa gợi ta liên tưởng tới khung cảnh của một đấu trường. Nhưng ở đấy không phải đấu trường với cuộc đấu giữa võ sĩ với bò tót mà là một đấu trường đặc biệt với cuộc đấu giữa khát vọng dân chủ của công 20

