Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2021-2022

pdf 12 trang An Diệp 25/06/2026 70
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2021-2022", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_kiem_tra_cuoi_hoc_ki_ii_ngu_van_lop_12_nam_h.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn Lớp 12 - Năm học 2021-2022

  1. Tổ Ngữ văn ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II MÔN NGỮ VĂN 12 Năm học: 2021-2022 A. CẤU TRÚC ĐỀ KIỂM TRA I. Đọc hiểu văn bản ( 3.0 điểm) - Trích một ngữ liệu là: Văn bản văn học, văn bản thông tin, văn bản nghị luận (ngoài chương trình). - Yêu cầu học sinh trả lời 4 câu hỏi với các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng II. Làm văn ( 7.0 điểm) Câu 1. Nghị luận xã hội ( 2.0 điểm) - Trích một câu, một đoạn hoặc một ý kiến từ phần đọc hiểu hoặc liên quan đến phần đọc hiểu. - Yêu cầu: Anh/ chị viết một đoạn văn khoảng 150 từ bàn luận về ý kiến nêu trên. Câu 2. Nghị luận văn học ( 5.0 điểm) - Trích một ngữ liệu là đoạn văn (văn xuôi) hoặc đoạn kịch. - Yêu cầu: Phân tích/ cảm nhận về đoạn văn, đoạn kịch đó B. PHẠM VI ÔN TẬP I. ĐỌC HIỂU 1. Ngữ liệu đọc hiểu 1.1. Văn bản văn học - Văn bản trong chương trình (Văn bản đọc thêm) - Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được học trong chương trình). 1.2. Văn bản thông tin - Văn bản có thông tin cập nhật, mới mẻ về các vấn đề của đời sống xã hội - Chủ đề trong các văn bản: dịch bệnh covit 19, thiên tai, môi trường, năng lượng, dân số 1.3. Văn bản nghị luận - Văn bản bàn luận về các vấn đề cấp thiết và có tính thời sự về cuộc sống, con người, tư tưởn, đạo lý được nhiều người quan tâm. - Chủ đề trong các văn bản: lối sống, quan điểm, nghị lực, xu hướng của thanh niên; đạo lí, ứng xử, niềm tin, giá trị, lựa chọn của con người 2/ Yêu cầu cơ bản của phần đọc – hiểu. 2.1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt/ thao tác lập luận/ phong cách ngôn ngữ - Các phương thức biểu đạt chủ yếu: Miêu tả, biểu cảm, tự sự, nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ. - Các thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bổ, so sánh - Phong cách ngôn ngữ: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách hành chính. 2.2. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) các hình thức, phương tiện ngôn ngữ. - Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh - Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng, - Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối,
  2. Biện pháp tu từ Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật) So sánh Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc Ẩn dụ Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc. Nhân hóa Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn hơn. Hoán dụ Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc Điệp từ/ngữ/cấu trúc Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cẳm Nói giảm Làm giảm nhẹ đi ý đau thương, mất mát nhằm thể hiện sự trân trọng Thậm xưng (phóng đại) Tô đậm ấn tượng về Câu hỏi tu từ Bộc lộ cảm xúc Đảo ngữ Nhấn mạnh, gây ấn tượng về Đối Tạo sự cân đối Im lặng ( ) Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc Liệt kê Diễn tả cụ thể, toàn điện 2.3. Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ đặt nhan đề cho văn bản 2.4. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản - Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh thể hiện nội dung cụ thể/ nội dung chính của văn bản - Chỉ ra từ ngữ chứa đựng chủ đề đoạn văn 2.5. Yêu cầu nhận diện thông điệp/hoặc trình bày ý kiến cá nhân về một chi tiết, hình ảnh, vấn đề của văn bản. 2.6. Yêu cầu nêu cảm nhận nội dung và cảm xúc thể hiện trong văn bản . - Cảm nhận về nội dung phản ánh - Cảm nhận về cảm xúc của tác II. LÀM VĂN 1. Nghị luận xã hội 1.1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống được nêu trong phần đọc hiểu. a. Đề tài * Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm: + Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng + Tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã... + Thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi ... + Về các quan hệ gia đình: tình mẫu tử, anh em ... + Về quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè + Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống ... * Đề tài của nghị luận hiện tượng đời sống + Sống ảo, sống gấp, chọn ngành nghề theo xu hướng xã hội... + Đề cao vật chất, vụ lợi, tress... b. Cách làm bài - Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí / hoặc hiện tượng đời sống cần bàn luận. - Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận. - Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội / Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí.
  3. 1.2. Lưu ý về phương pháp làm bài: - Với dung lượng 200 chữ, thang điểm 2/ 10 điểm, vấn đề nghị luận đã được khai thác sâu kĩ ở phần đọc hiểu, đoạn nghị luận xã hội nên dành thời gian nhiều nhất là 20- 25 phút, tránh lan man, dài dòng ở câu hỏi này. - Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3 tờ giấy thi, tương đương khoảng 20 dòng viết tay. - Nên linh hoạt lựa chọn hình thức đoạn văn phù hợp, có thể là diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp.... Tuy nhiên nên ưu tiên lựa chọn hình thức tổng - phân- hợp để tạo ấn tượng về 1 đoạn văn hoàn chỉnh, độc lập, hấp dẫn. - Nguyên tắc viết đoạn văn: Tránh kể lể lan man trùng lặp. Phần mở đoạn và kết đoạn chỉ nên viết trong một câu ngắn gọn, trong đó phần mở đoạn giới thiệu vấn đề nghị luận, thân đoạn triển khai nội dung nghị luận, kết đoạn viết bài học cho bản thân. 2. Nghị luận văn học Nghị luận về một đoạn trích văn xuôi (truyện ngắn/ kịch) a. Đối tượng của bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nói chung, có thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một tác phẩm hoặc của các tác phẩm, đoạn trích khác nhau. b. Nội dung của bài nghị luận, về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: + Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận. + Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích. + Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích. c. Lưu ý * Các bước tiến hành làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi: + Đọc kĩ tác phẩm, đoạn trích, nắm chắc nội dung, cốt truyện, các nhân vật, các chi tiết tiêu biểu thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm. + Nếu nhận xét, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích. + Triển khai các luận cứ phù hợp. + Lựa chọn các thao tác lập luận: Ngoài các thao tác thường gặp như giải thích, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận, ... trong bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi rất cần kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự (thuật kể tóm tắt nội dung, cốt truyện, nhân vật, chi tiết,...), miêu tả, thuyết minh. * Khi làm kiểu bài này, học sinh hay rơi vào thuật, kê lại chi tiết mà thiếu sự phân tích, đánh giá cụ thể trên cơ sở khoa học - hiểu văn bản. Để tránh đưa ra những ý kiến chung chung, người viết cần nắm chắc đặc trưng của văn bản truyện. Việc trích dẫn, tóm tắt cốt truyện cần luôn đi cùng những nhận xét. C. ĐỀ MINH HỌA I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Cách nhìn và ý chí của từng người dẫn đến các ứng xử khác nhau trước sai lầm. Với người này, sai lầm để lại những bài học bổ ích, những kinh nghiệm quý giá. Với người khác, sai lầm lại trở thành vỏ ốc để họ thu mình trong đó, không dám mạo hiểm lần nữa. Hãy biết chấp nhận sai lầm như một động lực để bạn tiếp tục phấn đấu [...]. [...] Con người thường mắc phải một trong hai loại sai lầm sau đây: một loại sai lầm do thiếu hiểu biết và một loại sai lầm do bất cẩn. Trong khi những sai lầm do thiếu hiểu biết có thể khắc phục bằng quyết tâm học hỏi không ngừng thì sai lầm do bất cẩn thường khiến con người trở nên yếu đuối và nhu
  4. nhược. Những người thường xuyên mắc phải loại sai lầm này luôn phải đối diện với thất bại vì họ đã lãng phí bầu nhiệt huyết và nguồn năng lượng của mình. Một trong những điều tốt đẹp mà bạn có thể làm mỗi ngày là hãy nỗ lực hết mình, và không sợ phạm sai lầm. Đừng chối bỏ, cũng đừng thất vọng nếu bạn mắc phải một sai lầm nào đó. (Trích Không gì là không thể - George Matthew Adams - NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr. 119 - 120) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Theo đoạn trích, con người thường mắc phải những sai lầm nào? Câu 3. Chỉ ra mối quan hệ giữa cách nhìn và ý chí với cách ứng xử trước sai lầm của con người được đề cập trong đoạn trích. Câu 4. Lời khuyên Hãy biết chấp nhận sai lầm như một động lực để bạn tiếp tục phấn đấu trong đoạn trích có ý nghĩa gì với anh/chị? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải sống là chính mình. Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài được nhà văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích sau: Người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn - vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã. - Phác, con ơi! Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt, và cái thằng nhỏ, lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt. Thế rồi bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền. (Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 72 - 73) ĐÁP ÁN ĐỀ MINH HỌA Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 3,0 1 Phương thức biểu đạt chính: nghị luận. 0,75 2 Theo đoạn trích, con người thường mắc những sai lầm: 0,75 - Sai lầm do thiếu hiểu biết. - Sai lầm do bất cẩn. 3 Mối quan hệ giữa cách nhìn và ý chí với cách ứng xử trước sai lầm của con người: 1,0 - Cách nhìn tích cực và ý chí mạnh mẽ sẽ ứng xử: xem sai lầm là những bài học bổ ích, những kinh nghiệm quý giá. - Cách nhìn tiêu cực và ý chí yếu đuối: xem sai lầm lại trở thành vỏ ốc để thu mình trong đó, không dám mạo hiểm lần nữa. 4 Ý nghĩa của lời khuyên Hãy biết chấp nhận sai lầm như một động lực để bạn tiếp 0,5 tục phấn đấu. -Học sinh rút ra ý nghĩa khác nhau cho bản thân, có thể theo hướng: Khi biết chấp nhận sai lầm, con người rút ra được bài học kinh nghiệm, có thêm nghị lực, phấn đấu hoàn thiện bản thân.
  5. II LÀM VĂN 7,0 1 Trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải sống là chính mình. 2,0 a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo 0,25 cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Sự cần thiết phải sống là chính mình. 0,25 c. Triển khai vấn đề nghị luận 0,75 Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết phải sống là chính mình. Có thể theo hướng sau: Sống là chính mình giúp mỗi người chủ động khẳng định năng lực; vươn lên hoàn thiện bản thân, đóng góp cho xã hội. d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. 0,25 e. Sáng tạo:Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. 0,5 2 Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài được 5,0 nhà văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích. a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai 0,25 được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tâm trạng và hành động của nhân vật 0,5 người đàn bà hàng chài được nhà văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích.. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu tác giả (0,25 điểm), tác phẩm và đoạn trích (0,25 điểm) 0,5 * Phân tích tâm trạng và hành động nhân vật người đàn bà hàng chài 2,5 - Hoàn cảnh: người đàn bà hàng chài bị chồng bạo hành. - Tâm trạng và hành động + Tâm trạng: đau đớn về thể xác và tinh thần; xấu hổ, nhục nhã với đứa con. + Hành động: ôm con, chắp tay vái lạy con thể hiện tình thương yêu con, lo sợ đứa con làm điều có lỗi với bố; buông con ra đi theo chồng thể hiện sự chấp nhận số phận. - Nghệ thuật: miêu tả tâm trạng và hành động nhân vật bằng ngôn ngữ tự nhiên, sinh động, giàu tính biểu cảm, giọng điệu cảm thương,... * Đánh giá 0,5 - Tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài góp phần làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa. - Tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu. d. Chính tả, ngữ pháp :Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.. 0,25 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới 0,5 mẻ. Tổng điểm 10,0 ..........................Hết............................
  6. D. ĐỀ LUYỆN TẬP ĐỀ 01 I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích dưới đây: Không thể phủ nhận những thiết bị công nghệ như máy tính, mạng Internet, điện thoại thông minh hay máy tính bảng đã và đang hỗ trợ con người rất nhiều trong cuộc sống, công việc. Thế nhưng hệ lụy là những thiết bị này khiến các bạn trẻ càng ngày càng sống trong “thế giới ảo” nhiều hơn. Vì vậy, việc tổ chức tốt các thư viện trường học, đầu tư nhiều đầu sách hay cho học sinh đọc là điều cần thiết. Đọc, tìm tòi, hiểu biết, sáng tạo góp phần nâng cao trình độ, nâng cánh ước mơ, làm phong phú trí tưởng tượng, đồng thời giúp học sinh trở về “thế giới thực” hơn. Đó chính là mục tiêu đổi mới giáo dục đạo đức, nhân cách, lối sống tạo nên sự liên thông từ lớp học đến thư viện, từ nhà trường đến cuộc sống (Dẫn theo Thúy Quỳnh: Trở về “Thế giới thực”, Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Theo tác giả, các thiết bị công nghệ có những tác động nào? Câu 3. Việc tác giả đề cập những tác động của những thiết bị công nghệ đến cuộc sống có tác dụng gì? Câu 4. Anh/ chị có nhận xét gì về giải pháp mà tác giả đưa ra nhằm giúp học sinh trở về “thế giới thực” hơn ? II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn về vai trò của Internet trong việc học tập của học sinh hiện nay. Câu 2. (5.0 điểm) Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hóm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi... Người kia việc gì mà phải chết thế. A Phủ ... Mị phảng phất nghĩ như vậy. Ðám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy. Mị chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ... Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại... Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng "Ði ngay...", rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy. Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:
  7. - A Phủ cho tôi đi. A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: - Ở đây thì chết mất. A Phủ chợt hiểu ra. Người đàn bà chê chồng đó vừa cứu sống mình. A Phủ nói: “Đi với tôi”. Và hai người lẳng lặng đỡ nhau lao chạy xuống dốc núi. (Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018) Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về giá trị nhân đạo của tác phẩm “Vợ chồng A phủ”. ĐỀ 02 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Khó có thể nói có ai đó là hoàn hảo, mặt nào cũng tốt, khi nào cũng tốt và ai đó là hoàn toàn ngược lại, không có gì đáng giá cả, cuộc đời họ là một màu đen tuyền. . Ngay cả người được coi là xấu nhất, nếu chịu khó nhìn kỹ, theo dõi kỹ, ta vẫn cảm nhận được không ít điều hay lẽ phải với những nét hấp dẫn mà chưa chắc người bình thường đã có. Còn người tốt thì cũng đừng có nghĩ rằng không có lúc nào họ xấu hoặc có những mặt những tính chất khác người khó chịu, làm nhiều người phiền muộn. Vấn đề ta thường thấy ở đây là có người tốt nhiều, người tốt ít, người xấu nhiều, người xấu ít hoặc người này bản chất là tốt hay người kia bản chất là xấu. Nhà văn hóa M. Twain (Mỹ) có dùng một hình ảnh khá chí lý: "Ai cũng có một vầng trăng và một đám mây đen". Câu nói đó có ý nghĩa tích cực là khuyên răn con người hãy luôn làm cho ánh hào quang của vầng trăng thêm rực rỡ và xóa dần màu xám xịt của đám mây đen. Người tốt cũng đừng chủ quan là mình sẽ không biến chất và người xấu cũng không phải không giáo dục được, không tự tu dưỡng điều chỉnh mình được. Đời người là một sự phấn đấu không ngừng, một sự điều chỉnh bổ sung liên tục. (Phong cách sống của người đời, Nhà báo Trường Giang, Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Theo tác giả, vấn đề ta thường thấy là vấn đề gì? Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng 01 biện pháp tu từ trong câu: "Ai cũng có một vầng trăng và một đám mây đen". Câu 3. Theo anh/chị,việc xóa dần màu xám xịt của đám mây đen thể hiện trong văn bản có tác dụng gì? Câu 4. Lời khuyên về người tốt và người xấu của tác giả gợi anh/chị suy nghĩ gì? Phần II. Làm văn (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ ý nghĩa sự phấn đấu không ngừng của con người trong cuộc sống. Câu 2 (5.0 điểm) “Lần thứ hai, Tràng vừa trả hàng xong, ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tỉnh thì thị ở đâu sầm sập chạy đến. Thị đứng trước mặt hắn sưng sỉa nói: Điêu! Người thế mà điêu! Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. Thật ra lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị là ai. Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt. – Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt. À, hắn nhớ ra rồi, hắn toét miệng cười: Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này hẵng ngồi xuống ăn miếng giầu đã. Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu. Thị vẫn đứng cong cớn trước mặt hắn. – Đây, muốn ăn gì thì ăn.
  8. Hắn vỗ vỗ vào túi: Rích bố cu, hở! Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: Ăn thật nhá! ừ ăn thì ăn sợ gì. Thế là thị ngồi sà xuống ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì. ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở: Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố. Hắn cười: – Làm đếch gì có vợ. Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về. Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật. Mới đầu anh chàng cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Sau không biết nghĩ thế nào hắn chặc lưỡi một cái: Chặc, kệ! Hôm ấy hắn đưa thị vào chợ tỉnh bỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa thật no nê rồi cùng đẩy xe bò về ”. (Trích “Vợ nhặt”, Kim Lân, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020) Cảm nhận của anh/chị về nhân vật người vợ nhặt qua đoạn trích trên. Từ đó làm rõ sự tác động của hoàn cảnh đến nhân phẩm của con người. ĐỀ 03 I.ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản sau: Cuộc sống là bộ sách vô số chữ, mỗi người có cách đọc riêng mình. Cuộc sống là một câu hỏi nhiều lời giải, mỗi người có đáp án của riêng mình. Cuộc sống là một tách trà, mỗi người có cách thưởng thức của riêng mình. Những lúc không vui hãy tự nhủ với bản thân: Rằng tất thảy của tất thảy, chính là để cuộc sống thoải mái hơn, vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn. Mỗi người đều có cách sống của riêng mình, chúng ta không cần phải ngưỡng mộ cuộc sống của người khác. Có người ngoài mặt tươi cười rạng rỡ nhưng ẩn trong đó là bao giọt nước mắt, lại có người nhìn có vẻ cơ cực nhưng kỳ thực họ lại đang trải qua một cuộc sống rất thoải mái. Hạnh phúc không có đáp án chuẩn mực, niềm vui cũng không chỉ xuất phát từ một con đường. Thu lại ánh mắt ngưỡng mộ người khác và nhìn lại tâm hồn mình. Sống cuộc sống mình mong muốn chính là những ngày tháng tươi đẹp nhất, cách sống mà mình muốn mới là cách sống tốt nhất. (Nguồn Thực hiện các yêu cầu: Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2: Dựa vào văn bản, hãy nêu điểm đối lập giữa bên ngoài và bên trong cuộc sống của con người. Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng một biện pháp tu từ trong đoạn văn được trích: Cuộc sống là bộ sách vô số chữ, mỗi người có cách đọc riêng mình. Cuộc sống là một câu hỏi nhiều lời giải, mỗi người có đáp án của riêng mình. Cuộc sống là một tách trà, mỗi người có cách thưởng thức của riêng mình. Câu 4: Anh (chị) có đồng tình với quan điểm:“Mỗi người đều có cách sống của riêng mình, chúng ta không cần phải ngưỡng mộ cuộc sống của người khác” hay không? Vì sao? II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Từ văn bản Đọc – hiểu, anh(chị) hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày giải pháp để có cách sống tốt nhất của con người. Câu 2 (5.0 điểm) Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật người vợ được nhà văn Kim Lân thể hiện trong đoạn trích sau: Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà, cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại. Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng
  9. thở dài. Tràng xăm xăm bước vào trong nhà, nhấc tấm phên rách sang một bên, thu dọn những niêu bát, xống áo vứt bừa bộn cả trên giường, dưới đất. Hắn quay lại nhìn Thị cười cười: - Không có người đàn bà, nhà cửa thế đấy! Thị nhếch mép cười nhạt nhẽo. Tràng vỗ vỗ xuống giường đon đả: - Ngồi đây!... Ngồi xuống đây, tự nhiên... Người đàn bà theo lời hắn ngồi mớm xuống mép giường. Cả hai bỗng cùng ngượng nghịu. Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ. Chính hắn cũng không hiểu sao hắn sợ, hắn lấm lét bước vội mấy bước ra sân gắt lên: - Sao hôm nay bà lão về muộn thế không biết! Hắn loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng, lại chạy vào sân nhìn trộm vào trong nhà. Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần. Hắn nghĩ bụng: “Quái sao nó lại buồn thế nhỉ?... Ồ sao nó lại buồn thế nhỉ?...”. Hắn nhổ vu vơ một bãi nước bọt, tủm tỉm cười một mình. Nhìn Thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư? Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng... (Trích Vợ nhặt, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam 2020) ĐỀ 04 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Bên kia những hàng cây bằng lăng, tiết trời đầu thu đem đến cho con sông Hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra. Vòm trời cũng như cao hơn. Những tia nắng sớm đang từ từ di chuyển từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông và cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi ở bên kia sông Hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ một thứ màu vàng thau xen lẫn với màu xanh non- những sắc màu thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ. Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến- cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình. (Trích Bến quê, Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn, NXB Văn học, năm 2003, Tr 287) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Đoạn trích trên sử dụng những phương thức biểu đạt nào? Câu 2. Bên kia sông Hồng được miêu tả ra sao? Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật trong câu văn: Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, đây là một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến- cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình. Câu 4. Nhân vật Nhĩ đã cảm nhận được những gì về cái bờ bên kia sông Hồng ? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của những điều bình dị trong cuộc sống. Câu 2 (5,0 điểm) Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn Nguyễn Minh Châu hai lần miêu tả hành động van xin của người đàn bà hàng chài: Tại bờ biển, khi bị chồng đánh và chứng kiến cảnh đứa con trai - thằng Phác đánh lại bố: “Người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã. - Phác, con ơi!
  10. Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xếp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy.” Và tại tòa án huyện, khi chánh án tòa án huyện - Đẩu - yêu cầu bỏ chồng: “Người đàn bà hướng về phía Đẩu, tự nhiên chắp tay lại vái lia lịa: - Con lạy quý tòa... Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó...” (Trích Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục) Hãy phân tích hình ảnh người đàn bà hàng chài trong hai lần miêu tả trên. Từ đó, làm rõ vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật này. ĐỀ 5 I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Khó có thể nói có ai đó là hoàn hảo, mặt nào cũng tốt, khi nào cũng tốt và ai đó là hoàn toàn ngược lại, không có gì đáng giá cả, cuộc đời họ là một màu đen tuyền. . Ngay cả người được coi là xấu nhất, nếu chịu khó nhìn kỹ, theo dõi kỹ, ta vẫn cảm nhận được không ít điều hay lẽ phải với những nét hấp dẫn mà chưa chắc người bình thường đã có. Còn người tốt thì cũng đừng có nghĩ rằng không có lúc nào họ xấu hoặc có những mặt những tính chất khác người khó chịu, làm nhiều người phiền muộn. Vấn đề ta thường thấy ở đây là có người tốt nhiều, người tốt ít, người xấu nhiều, người xấu ít hoặc người này bản chất là tốt hay người kia bản chất là xấu. Nhà văn hóa M. Twain (Mỹ) có dùng một hình ảnh khá chí lý: "Ai cũng có một vầng trăng và một đám mây đen". Câu nói đó có ý nghĩa tích cực là khuyên răn con người hãy luôn làm cho ánh hào quang của vầng trăng thêm rực rỡ và xóa dần màu xám xịt của đám mây đen. Người tốt cũng đừng chủ quan là mình sẽ không biến chất và người xấu cũng không phải không giáo dục được, không tự tu dưỡng điều chỉnh mình được. Đời người là một sự phấn đấu không ngừng, một sự điều chỉnh bổ sung liên tục. (Phong cách sống của người đời,Nhà báoTrường Giang, Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Theo tác giả, vấn đề ta thường thấy là vấn đề gì? Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng 01 biện pháp tu từ trong câu: "Ai cũng có một vầng trăng và một đám mây đen". Câu 3. Theo anh/chị,việc xóa dần màu xám xịt của đám mây đen thể hiện trong văn bản có tác dụng gì? Câu 4. Lời khuyên về người tốt và người xấu của tác giả gợi anh/chị suy nghĩ gì? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ ý nghĩa sự phấn đấu không ngừng của con người trong cuộc sống. Câu 2. (5,0 điểm) Từ chỗ chiếc xe tăng mà tôi đang đứng với chiếc máy ảnh, đi quá mười bước sâu vào phía trong có một chiếc xe rà phá mìn của công binh Mỹ, chiếc xe sơn màu vàng tươi và to lớn gấp đôi một chiếc xe tăng. Hai người đi qua trước mặt tôi. Họ đi đến bên chiếc xe rà phá mìn. Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân. Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão
  11. lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đây nhân nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy. Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới. Bóng một đứa con nít lao qua trước mặt tôi. Tôi vừa kịp nhận ra thằng Phác – thằng bé trên rừng xuống vừa nằm ngủ với tôi từ lúc nửa đêm. Thằng bé cứ chạy một mạch, sự giận dữ căng thẳng làm nó khi chạy qua không nhìn thấy tối. Như một viên đạn trên đường lao tới đích đã nhắm, mặc cho tôi gọi nó vẫn không hề ngoảnh lại, nó chạy tiếp một quãng ngắn giữa những chiếc xe tăng rồi lập tức nhảy xổ vào cái lão đàn ông. Cũng y hệt người đàn bà, thằng bé của tôi cũng như một người câm, và đến lúc này tôi biết là nó khỏe đến thế! Khi tôi chạy đến nơi thì chiếc thắt lưng da đã nằm trong tay thằng bé, không biết làm thế nào nó đã giằng được chiếc thắt lưng, liền dướn thẳng người vung chiếc khóa sắt quật vào giữa khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc ngược lên. Lão đàn ông định giảng lại chiếc thắt lưng nhưng chẳng được nữa, liền dang thẳng cánh cho thằng bé hai cái tát khiến thằng nhỏ lảo đảo ngã dúi xuống cát. (Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, SGK Ngữ văn 12, NXBGD 2008) Phân tích phát hiện của nghệ sĩ Phùng được thể hiện ở đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét tình huống nhận thức trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. ĐỀ 06 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Có một quy luật gọi là “quy luật mười nghìn giờ”. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng trong những điều kiện thông thường, một người bình thường kiên trì làm một loại công việc gì đó, sau nhiều nhất là mười nghìn giờ người ấy sẽ đạt đến trình độ thành thạo như một chuyên gia trong công việc ấy. Nếu các em đạt đến trình độ chuyên gia, các em sẽ có chỗ dùng, không phải nơi này thì là nơi khác, chắc chắn như vậy. Còn một điều khác quan trọng hơn cả mười nghìn giờ, đó là sự yêu thích công việc của mình. Các em có bao giờ nhìn thấy một người đầu bếp nổi danh và tài hoa nào lại miễn cưỡng nấu bếp như một công việc khổ sai? Có bao giờ thấy một ông thầy lên lớp chốc chốc lại nhìn đồng hồ mong cho hết giờ để ra về lại được học trò yêu quý và nhớ mãi? Chắc chắn là không! Các em không thể thành công thật sự trong công việc nếu các em không yêu thích công việc ấy. Có rất nhiều người không may buộc phải làm một công việc nhàm chán mà họ không hề thấy hứng thú, chỉ như một kế sinh nhai. Thật đáng tiếc vì tám giờ vàng ngọc, tức một phần ba cuộc đời của họ đã trôi qua một cách nhạt nhẽo vô vị và tuổng phí. (Cuộc đời là một sự lựa chọn, TS.Phạm Thị Ly, báo Tuổi trẻ Online, ngày 29/4/2013) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên. Câu 2. Theo đoạn trích, một điều khác quan trọng hơn cả mười nghìn giờ là gì? Câu 3. Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong các câu văn sau: Các em có bao giờ nhìn thấy một người đầu bếp nổi danh và tài hoa nào lại miễn cưỡng nấu bếp như một công việc khổ sai? Có bao giờ thấy một ông thầy lên lớp chốc chốc lại nhìn đồng hồ mong cho hết giờ đề ra về lại được học trò yêu quý và nhớ mãi?
  12. Câu 4. Anh/Chị có cho rằng: buộc phải làm một công việc nhàm chán mà họ không hề thấy hứng thú, chỉ như một kế sinh nhai tức là một phần ba cuộc đời của họ đã trôi qua một cách nhạt nhẽo vô vị và uổng phí không? Vì sao? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm ) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của việc lựa chọn đúng công việc mình yêu thích. Câu 2 (5,0 điểm) Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa, không thể được! Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu! Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. Đế Thích: Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả tư? Ngay cả tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào. Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu! Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!". (Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam) Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba thể hiện trong đoạn trích trên. Từ đó, hãy nêu giá trị nhân văn cao cả được tác giả gửi gắm qua vở kịch. ----------------------Hết ----------------------