Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 - Bài: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

pdf 22 trang An Diệp 27/06/2026 340
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 - Bài: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_on_tap_ngu_van_12_bai_chiec_thuyen_ngoai_xa_nguyen.pdf

Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 - Bài: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

  1. ÔN TẬP: CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA ( NGUYỄN MINH CHÂU) I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm: 1. Tác giả: Nguyễn Minh Châu. – Nguyễn Minh Châu(1930-1989) – Quê Nghệ An, là nhà văn quân đội, sáng tác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. – Trong kháng chiến chống Mỹ ông tập trung viết và ngợi ca cuộc sống hào hùng của các thế hệ con người Việt Nam dũng cảm, chấp nhận mọi hi sinh vì sự nghiệp chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc. Từ những năm 80 của thế kỉ XX, sáng tác của Nguyễn Minh Châu khẳng định ông luôn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức, thế sự. – Trong thời kì nào Nguyễn Minh Châu đều sáng tác theo phương châm “Đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn mỗi con người” và ông luôn có cái nhìn thấu hiểu, trĩu nặng tình thương và nỗi lo âu đối với con người. Nguyễn Minh Châu có lối văn giản dị mà sâu sắc, thấm thía, nhiều dư vị, nhiều trải nghiệm, chiêm nghiệm. – Tác phẩm tiêu biểu:Cửa sông( tiểu thuyết,1966),Dấu chân người lính (tiểu thuyết,1972), Miền cháy (tiểu thuyết,1977), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành( truyện ngắn, 1983),Bến quê ( truyện ngắn, 1985) * Nhận định: · Nhà văn Nguyễn Khải: “Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này”. · Nhà phê bình Nikolai Nikulin: “Niềm tin vào tính bất khả chiến thắng của cái đẹp tinh thần, cái thiện đã được khúc xạ ở chỗ, anh (Nguyễn Minh Châu) đã tắm rửa sạch sẽ các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong một bầu không khí vô trùng”.
  2. 2. Tác phẩm: Chiếc thuyền ngoài xa. – Xuất xứ: Chiếc thuyền ngoài xa được viết năm 1983 – khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đi qua được 6 năm, đất nước trở lại với cuộc sống đời thường. Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa nhân sinh mà trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý, nay được đặt ra. Tác phẩm nằm trong xu hướng nghệ thuật chung của văn học thời kỳ đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người đời thường. – Thể loại: Truyện ngắn. – Nội dung: Từ câu chuyện về một bức ảnh nghệ thuật và sự thật cuộc đòi đằng sau bứcảnh, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhậncuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật sau vẻđẹp bên ngoài của hiện tượng. * Tóm tắt: Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biểnmiền Trung (cũng là nơi anh đã từng chiến đấu) để chụp một tấmảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trờicho”– đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. Nhưng khichiếc thuyền vào bờ, anh đã kinh ngạc hết mức khichứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh một gã chồng vũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đãđánhtrả lại cha mình. Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩđãratay can thiệp Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng), người đànbà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người phụ nữ ấy đã từ chối sự giúp đỡcủaĐẩuvà Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mìnhvàđó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệsĩđã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy.Tuynhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng củaánhsương mai và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lamlũấy bước ra từ bức tranh. * Nhan đề: “Chiếc thuyền ngoài xa” – “Chiếc thuyền ngoài xa” trước hết là biểu tượng của nghệ thụât, đó là thứ nghệ thụât đạttới sự toàn mĩ và thánh thiện đến mức mà chiêm ngưỡng nó, người nghệ sĩ thấy tâm hồnmình được thanh lọc. – Chiếc thuyền khi về gần đó lại là hiện thân của cuộc đời lam lũ, khó nhọc, thậmchícủa những éo le, trái ngang và nghịch lí trong cuộc sống. – Như vậy, chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa nhưng cuộc đời thì lại rất gần. Ngườinghệ sĩ cần có một khoảng cách nhất định để khám phá và thưởng thức vẻ đẹp đích thựccủanghệ thụât nhưng lại cũng cần bám sát cuộc đời để phát hiện ra những sự thật của cuộcsống. – Nhan đề là một ẩn dụ về mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật!
  3. * Tình huống truyện: – Tình huống:Phùng - một nghệ sĩ nhiếp ảnh đến một vùng ven biển miền Trung để chụpmột tấm ảnh về cảnh biển buổi sớm có sương. Tại đây, anh đã phát hiện vàchụpđược một cảnh tượng “trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớmmờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, người nghệ sĩ đã chứng kiến cảnh một gã chồngvũ phu đánh đập người vợ hết sức dã man. Ba hôm sau, cảnh tượng ấylạidiễn ra, người đàn bà được mời đến tòa án huyện, tại đây, người nghệ sĩ lắng nghe câu chuyện về cuộc đời củangười đàn bà hàng chài kể lại và đó như một lời giải thích vì sao chị ta không bỏ chồng dùngười chồng tàn bạo. – Đây là một “tình huống nhận thức”, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về chân lí đời sống, chân lí nghệ thuật. Phùng đã phát hiện sau cảnh đẹp như mơ kia là những ngang trái, nghịch lícủa đời thường. – Tình huống truyện, thể hiện cái nhìn đa chiều về cuộc sống. Chánh án Đẩu và nghệsĩPhùng đã hiểu ra nhiều điều về con người, cuộc sống khi chứng kiến câu chuyện và tiếp xúc vớingười đàn bà hàng chài.Từ tình huống truyện, tác giả đã đặt ra vấn đề “đôi mắt”, cách nhìnđời, người trong cuộc sống. II. Phân tích văn bản: 1. Nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. * Phùng là một người nghệ sĩ đích thực, người đã phát hiện, cảm nhận được vẻ đẹp và giá trị của một “cảnh đắt trời cho”- một cảnh tượng tuyệt đẹp – Phát hiện thứ nhất: Đó một “bức họa” diệu kì mà thiên nhiên, cuộc sống đã ban tặng cho con người. – Mặt khác, như chính cảm nhận của nghệ sĩ Phùng, trong sự cảm nhận ban đầu cái cảnhtượng ấy giống như “một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Toàn bộkhungcảnh “từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. – Đứng trước một sản phẩm nghệ thuật tuyệt tác của hoá công, người nghệ sĩ trở nên“bốirối” và “trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Tức là bức ảnh đã khiến cho tâm hồn ngườinghệ sĩ rung động thật sự và một cảm xúc thẩm mĩ đang dấy lêntrong lòng anh. – Chưa hết, trong giây lát, người nghệ sĩ còn “khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Nói cách khác, trong một khoảnh khắc của cuộc sống, nghệ sĩ Phùng đã cảm nhận được cái Chân,cái Thiện của cuộc đời, anh cảm thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi – Phát hiện thứ 2: ngay khi tâm hồn đang bay bổng trong những xúc cảm thẩm mĩ, đang tận hưởng cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn thì người nghệ sĩnhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện: + Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi ;mộtgã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn nhẫn : gã chồng đánh đập người vợ một cáchthô
  4. bạo ; Đứa con vì thương mẹ đã đánh lại chađể rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát Chứng kiến những cảnh tượng đó, nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ:“Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng hámồmra mà nhìn”. Người nghệ sĩ như “chết lặng”, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt. + Sở dĩ nghệ sĩ Phùng trở nên như vậy là vì anh không thể ngờ rằng đằng sau cái vẻ đẹpdiệu kì của tạo hoá kia lại có cái ác, cái xấu đến không thể tin được. Vừa mới lúc trước, anhcòn cảm thấy “bảnthân cái đẹp chính là đạo đức”, thấy “chân lí của sự toàn thiện” thế mà chỉngay sau đó chẳng còn cái gì là “đạo đức”, là cái “toàn thiện” của cuộc đời. Phùng xót xacayđắng nhận thấy cái xấu xa, ngang trái, bi kịch trong gia đình người dân chài đã làmcho tấm ảnh của anh chụp được kia như nhuốm màu đau thương ghê sợ. Chao ôi! Nghệ thuật không thể là màn sương mờ ảo màu sữa pha ánh hồng ban mai che lấp đi nỗi đau thương của kiếp người. – Qua hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc nhận thức về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Nghệ thuật không thể chỉ dừng lại ở vẻ đẹpbềngoài nhất là cái vẻ đẹp tuyệt vời thơ mộng, mà còn phải thấu nhị tới bề sâu, bề sâu của cuộcđời không hề đơn giản, mà tâm điểm chính là con người với sốphận đa đoan, với mọi nhọc nhằn và cả khổ đau, không hiếm những ngang trái bi kịch. Cuộc đời đâu phải chỉ toàn màuhồng, cuộc đời không đơn giản, xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí. Cuộc sống luôn tồntại những mặt đối lập, những mâu thuẫn : đẹp– xấu, thiện – ác, Vì thế mà nhà văn đã có dụng ý khi để cảnh tượng “trời cho” hiện ra trước như là vỏ bọc bên ngoài hòng che giấu cáibản chất thực của đời sống ở bên trong. Nhà văn khẳng định : Đừng nhầm lẫn hiện tượng vớibản chất, giữa hình thức bên ngoài với nội dung bên trong không phải bao giờ cũng thống nhất ; đừng vội đánh giá con người, sự vật ở dáng vẻ bên ngoài, phải phát hiện ra bản chất thựcsau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng. * Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một con người có lòng tốt, không chấp nhận bất công nhưng lại đơn giản khi nhìn nhận cuộc sống. – Chứng kiến cảnh tượng người đàn bà bị đánh đập một cách đầy vô lí như thế, nghệsĩnhiếp ảnh Phùng đã đánh nhau với lão chồng để bảo vệ chị ta, để rồi bị thương, với những vếtthương trên mặt đã lên da non nhưng vẫn còn lại dấu tích. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng cũng cảm thấyhết sức bức bối khi nghe người phụ nữ van xin vị chánh án đừng bắt chị phải li hôn vớingười chồng vũ phu. Cảm giác căn phòng ngủ lồng lộng gió của chánh án Đẩu (bạn anh) tự nhiênbị hút hết không khí và trở nên ngột ngạt quá! – Những lời nói chẳng dễ nghe chút nào của người đàn bà hàng chài khiến cho Phùng phảisuy nghĩ: “Chị cám ơn các chú, lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khónhọc”. Những câu hỏi lạc đề “Lão ta trước hồi 75 có đi lính ngụy không?” cho thấy Phùng cũng lại bị định kiếnchi phối. Rồi Phùng thốt lên “không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được”, đúng, Phùng không thể hiểu cái lí của sự cam chịu ở những con người phải sống trong vòng vây của cái đói
  5. nghèo, lạc hậu, của cuộc sống nhọc nhằn, không thể hiểu “suốt hàng tháng, cả nhà vợchồng con cái ăn toàn cây xương rồng luộc chấm muối”, cũng không thể hiểu sự đan cài giữa tình thương và hành động tàn nhẫn, giữa niềm vui và nỗi buồn trong một gia đình và “bởi vì, các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của mộtngười đàn bà trên chiếc thuyền không có đàn ông dù hắn man rợ và tànbạo”. – Câu chuyện mà người đàn bà hàng chài kể ở toà án đã giúp Phùng hiểu ra: Người đàn bà không hề cam chịu một cách vô lí, không hề nông nổi một cách ngờ nghệch mà thực rachịta là người rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời. Người phụ nữ này có một cuộc đời nhọc nhằn,lamlũ nhưng biết chắt chiu những hạnh phúc đời thường. Sống cam chịu và kín đáo, hiểu sâu sắclẽ đời nhưng chị không để lộ điều đó ra bên ngoài. Đây là người phụ nữ có ngoại hình xấuxí,thô kệch nhưng tâm hồn đẹp đẽ, thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ Việt Namnhân hậu, bao dung, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. – Qua câu chuyện của người đàn bà hàng chài Phùng cũng nhận ra người đồng độicũ– chánh án Đẩu cũng có lòng tốt giống anh, sẵn sàng bảo vệ công lí nhưng chánh án Đẩu chưa thựcsự đi sâu vào đời sống nhân dân. Lòng tốt làđáng quý nhưng chưa đủ. Luật pháp là cần thiết nhưng cần phải đi vào đời sống. Cả lòng tốt và luật pháp đều phải được đặt vào nhữnghoàn cảnh cụ thể, không thể áp dụng với mọi đối tượng và có những vấn đề không thể giảiquyết bằng luật pháp. Và cũng qua câu chuyện của người đàn bà hàng chài nghệ sĩ Phùng cũng nhận ra: Mình đã đơn giản khi nhìn nhận cuộc đời và con người. – Những thông điệp nghệ thuật về cách nhìn nhận con người và cuộc đời: Đừng bao giờnhìn nhận cuộc đời và con người một cách dễ dãi, xuôichiều. Cần phải nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể của nó và trong quan hệ với nhiều yếu tố khácnữa. * Nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng chính là “điểm nhìn nghệ thuật” của nhà văn, là hình tượng nhân vật kể chuyện vừa đem lại tính chân thực và hấp dẫn cho câu chuyện kể vừa tạo ra một khoảng cách, một “cự ly”, một độ lùi nhất định để suy ngẫm. – Hình ảnh người nghệ sĩ “khoác máy ảnh đi lang thang cho đến tận khuya” đã gián tiếpnói rằng: nhận thức của Phùng thực sự đã đổi khác, anh đã đểngỏtâm hồn mình cho bao cảnh sắc của một hiện thực ít thi vị ùa tới “trời trở gió đột ngột, từng mảng mây đen xếp ngổnngang trên mặt biển đen ngòm, và biển bắt đầu gào thét, sóng bạc đầu và “ chiếc thuyền đangchống chọi với sóng gió giữa phá”. Chiếc thuyền được đặt trong khung cảnh dữ dội của một cơn biển động, cuộc vật lộn mưu sinh nhọc nhằn vẫn còn đó. Nó cho thấy rằng, chiếc thuyền ngoàixa đâu chỉ là vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Sức ám ảnh người đọcởtác phẩm này còn là mối quan hoài đến xót xa, day dứt của nhà văn về những nỗi nhọc nhằnđau khổ của con người, giống như những người đi biển họ vẫn luôn phải chống chọi với phongba và bão táp và cuộc sống vốn chẳng bao giờ bình yên. – Truyện ngắn kết thúc bằng những suy nghĩ cảm nhận của người nghệ sĩ mỗi lẫn ngắm bức ảnh được chụp tại vùng biển nọ: nhìn kĩ vào bức ảnh đen trắng, người nghệ sĩ đều thấy“hiện
  6. lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai”. Và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ anh cũng thấy “người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh ”. “Cái màu hồng hồng của ánh sương mai” là chất thơ của cuộc sống, là vẻ đẹp lãng mạn của cuộc đời, là biểu tượng của nghệ thuật. Cònhìnhảnh “người đàn bà ấy bước ra khỏi bức tranh” là hiện thân của những lam lũ, khốn khó củađời thường. Nó là sự thật cuộc đời đằng sau bức tranh. 2. Nhân vật người đàn bà hàng chài. * Ngoại hình: – Có vẻ ngoài xâu xí, thô kệch “vốn là đứa con gái xấu lại rỗ mặt sau một bận lên đậumùa”. Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn này đâu có được cái nhan sắc “trời phú”,chịta xấu xí, khuôn mặt rỗ càng khó nhìn hơn khi chị ta bước sang cái tuổi trạc ngoài40. * Số phận, cuộc đời : + Số phận kém may mắn: Trong câu chuyện về cuộc đời mình, chị đã nhận thức được rấtrõ sự kém may mắn của mình: “cũng vì xấu, trong phố không ailấy, tôi có mang với một anh con trai của một hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”. + Cuộc đời lam lũ, vất vả. * Tính cách : – Một người đàn bà cam chịu, nhẫn nhục: + Hành động và lời nói của người chồng :“trút cơn giận như lửa cháy bằngcách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, haihàmrăng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ, đauđớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. + Trước hành động rất tàn bạo của người chồng, người đàn bà hàng chài đã không hềkêumột tiếng, không chống trả cũng không tìm cách chạy trốn. – Một người đàn bà rất giàu lòng tự trọng. + Chồng đánh như vậy, chị ta đâu có khóc, cắn răng chịu đựng từng trận đòn của gã chồng vũ phu, tàn bạo. + Nhưng chỉ sau khi biết được hành động vũ phu của chồng đã bị thằng Phác và người khách lạ (nghệ sĩ Phùng) phát hiện chị lại cảm thấy đau đớn, vừa đau đớn, vừa vô cùng xấuhổvà nhục nhã. Nhiều khi, sự đau đớn do đòn roi không thể làm con người ta bật khóc, điều này đúng trong trường hợp của người đàn bà hàng chài. Những giọt nước mắt đau đớn chứađựng biết bao sự nhọc nhằn chỉ thực sự rơi khi thấy đứa con yêu của mình chứng kiến cảnhtượng mình bị chồng đánh, chỉ thực sự rơi khi có người khách lạ chứng kiến – Một người đàn bà sống rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, hiểu chồng, thương con vô bờ bến, một người phụ nữ vị tha giàu đức hy sinh. + Được mời đến tòa án huyện để giải quyết việc gia đình, lúc đầy chị ta rụt rè,tìmmột góc tường ở chốn công đường kia để ngồi. Nhà văn có miêu tả, đây không phải là lần đầungười đàn bà đến chốn công đường nhưng người đàn bà ấy vẫn có cái vẻ sợ sệt, lúngtúng- cái sợ sệt
  7. lúng túng ấy ngay lúc chị ta đứng ở bãi xe tăng cũng không hề thấycó. Chị thấy sợ hãi khi đến một không gian lạ. Chị ta thật tội nghiệp, cái thế ngồi bị động, ngồi vào mép ghế vàcốthi người lại, ngồi như thể để tự vệ cho dù đã được Đẩu nói bằng những lời rất thân mật, chiasẻ, cảm thông. + Nguyễn Minh Châu đã dụng công nhấn vào sự thay đổi ngôn ngữ và tâm thế của người đàn bà hàng chài. Ban đầu, khi gặp chánh án Đẩu, chị còn xưng “con” và có lúc đã van xin,“con lạy quý tòa” “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏnó”. Nhưng khi thấy Phùng xuất hiện, đang cúi gục lập tức người đàn bà hàng chài ngẩng lên, nhìn thẳng, “ chị cám ơn các chú . Lòng cách chú tốt nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc”.Vẻ bề ngoài khúm núm, sợ sệt, điệu bộ khác, ngôn ngữ khác đã làm cho cả Đẩu và Phùng hếtsức ngạc nhiên. + Người đàn bà hàng chài kia không hề giản đơn như Đẩu và Phùng nghĩ. Thì ra, cái nghềchài lưới trên một chiếc thuyền vó bè lênh đênh không thể thiếu bàn tayvàsức lực của người đàn ông. Để duy trì sự tồn tại cho cả gia đình thì họ phải hợp sức lại mà làm quần quật đểnuôimột đàn con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Tình cảnh của người đàn bà hàng chài kiacũngnhư của bao gia đình hàng chài khác, trừ phi chị nói “giá tôi đẻ ít đi hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rông hơn” + Trong câu chuyện kể về cuộc đời mình, người đàn bà hàng chài kia đã chấp nhận đaukhổ, coi nỗi khổ vận vào đời mình như một lẽ đương nhiên. Chị sống cho con chứ không phảilà sống cho mình. Nếu những phụ nữ trên các thuyền khác chấp nhận người đàn ông uốngrượu thì chị cũng chấp nhận để chồng đánh chỉ xin chồng là đánh ở trên bờ, đừng để cácconnhìn thấy. Đó là một cách ứng xử rất nhân bản. + Ở đây, lẽ đời đã chiến thắng. Người laođộng lam lũ, nghèo khổ không có uy quyền nhưng có cái tâm của một người thương con, thấu hiểu lẽ đời cũng là một thứ quyền uy cósứccông phá lớn. Nó đã làm chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng thức nhận được nhiều điều. Thứcnhận được, nỗi nhọc nhằn vất vả trong công việc làm ăn của cư dân vùng biển. Thức nhận được cuộc sống bấp bênh khiến họ phải chấp nhận không ít những nghịch cảnh, những ngangtrái. Thức nhận được người đàn bà kia không hề chịu đòn roi một cách vô lí, cả Đầu và Phùngchua chát nhận ra rằng : trên thuyền cần có một người đàn ông dù hắn man rợ, tàn bạo, cầncó một người đàn ông để chèo chống khi biển phong ba bão táp. + Thức nhận được ở người phụ nữ ấy chứa đựng mẫu tính sâu xa như một bản năng: “Ôngtrời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”, những lời lẽ ấy của người đàn bà hàng chài được thốt lên từ một niềm tin đơngiảnmà vững chắc vào cái thiên chức mà trời đã giao phó cho người đàn bà. Thức nhận đượcrằng, người đàn bà hàng chài kia rất biết tìm cho mình những niềm vui, hạnh phúc dẫu rất nhỏ nhoi trong cuộc sống đầy khó khăn. Ở chị vững bền một niềm tin, một tình yêu và sự lạc quanvào
  8. cuộc sống. Hãy biết sống ngay khi cả cuộc đời không thể chịu được nữa, nụ cười chợtửng sáng lên trên khuôn mặt rỗ chằng chịt chị nghĩ đến “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng concái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ” và niềm vui “nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Hạnh phúc với người đàn bà hàng chài kia thật giản dị mà không kém phần sâu sắc.Thức nhận được nỗi đau, cũng như sự thâm trầm trong việc thấu hiểu các lẽ đời người đàn bà kia khôngbao giờ để lộ ra bên ngoài cả – Kết thúc truyện ngắn, người đọc vẫn không biết người đàn bà hàng chài kia tên gì, phảichăng là nhà văn đã sơ xuất? Không phải, đó chính là dụng ý nghệ thuật của nhà văn, người nghệ sĩ nhiếp ảnh kể rằng mỗi khi nắm thật kĩ bức ảnh mà mình chụp anh lại thấy người đànbàhàng chài ấy bước ra từ bức ảnh “mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân rậm trên mặt đấtchắc chắn, hòa lẫn trong đám đông .” nghĩa là người đàn bà ấy chỉ là một người trong đámđông của những con người lam lũ, nhọc nhằn, những con người lao khổ, đông đúc và vôdanh. + Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu cũng khẳng định: sự lam lũ,vất vả, nhọc nhằn không làm mất đi ở người phụ nữ vùng biển nói riêng, người phụ nữ ViệtNam nói chung tấm lòng yêu thương, nhân hậu bao dung, vị tha. Và với người phụ nữ, gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên cho dù đây đó vẫn có những tính cáchthiện. chưahoàn + Nhà văn có cái nhìn thấu hiểu và tấm lòng trĩu nặng tình thương, nỗi lo âu cho con người; có cái nhìn đa diện nhiều chiều về cuộc sống và con người. Tác phẩm thể hiện phương châm sáng tác của tác giả” Đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn mỗi con người”. 3. Một số nhân vật khác. * Nhân vật chánh án Đẩu : + Là người đại diện cho công lý, luật pháp; có lòng tốt, sẵn sàng bảo vệ cônglý. + Nhưng Đẩu mới nhìn cuộc đời của người đàn bà vùng biển ở một phía, anhchưa thực sự đi sâu vào đời sống nhân dân. * Nhân vật người chồng của người đàn bà hàng chài: + Vốn là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm” + Một gã đàn ông vũ phu, tàn nhẫn, ích kỉ. + Một nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt. * Nhân vật thằng bé Phác: + Một cậu bé giàu tình cảm yêu thương đối với mẹ. + Nhưng cũng giống như Đẩu, Phùng, nó mới chỉ nhìn thấy ở cha nó ở khía cạnh độc ác, tàn nhẫn mà chưa hiểu được “lẽ đời” bên trong. + Hình ảnh tiêu biểu của những đứa trẻ trong những gia đình có nạn bạo hành. III. Tổng kết: 1. Nội dung: Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã thể hiện sự cảm thông sâusắc đối với những cảnh đời, những thân phận trớ trêu, gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sốngđồng
  9. thời gửi gắm những chiêm nghiệm sâu sắc của mình về nghệ thuật : nghệ thuật chân chính phải luôn luôn gắn bó với cuộc đời và vì cuộc đời; người nghệ sĩ không thể nhìn đời mộtcáchgiản đơn, cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện, nhiều chiều 2. Nghệ thuật – Tình huống truyện nghịch lí độc đáo, là nổi bậc “tình huống nhận thức”, có ý nghĩa khám phá, phát hiện về chân lí đời sống, chân lí nghệ thuật. – Ngôi kể, điểm nhìn nghệ thuật sắc sảo, đa diện. – Lời văn đằm thắm, giản dị mà sâu sắc. – Giọng điệu chiêm nghiệm, suy tư ,phù hợp với nhận thúc 3. Giá trị nhân đạo: – Tư tường nhân đạo của truyện ngắn thể hiện ở thái độ quan tâm đến con người đến conngười bất hạnh của nhà văn. Phê phán hành động vũ phu của người chồng, đồng thời Nguyễn Minh Châu muốn cho người đọc thấy rõ tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng tối của xãhội đương đại. Nhà văn còn mạnh dạn nêu lên phản ứng dữ dội của đứa con để nhấn mạnhhậu quả trầm trọng của tệ nạn này. Chính người vợ đã gửi đứa con lên ở với ông ngoại đểkhỏi chứng kiếncái ác hoành hành ngay trong gia đình. Người vợ hy sinh cũng để bảo vệ chohạnh phúc gia đình. Dẫu viết về bạo lực gia đình, nhưng Nguyễn Minh Châu đã báo động những vấn đề xã hội nhức nhối. Gióng lên một tiếng chuông báo hiệu điều ác, Nguyễn MinhChâuđã đấu tranh cho cái thiện. Tư tưởng nhân đạo của truyện chính là ở điểmấy. – Hình ảnh người đàn bà vùng biển xấu xí, nhẫn nhục vẫn toát lên vẻ đẹp của tình mẫu tử,một vẻ đẹp đầy nữ tính, vị tha của người phụ nữ ở một miền biển còn nghèo đói, lạc hậu.Nhưvậy ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Minh Châu đã thể hiện nhưng khát khao hạnh phúc bình dịcủa người lao động. Dẫu nghiệt ngã những phận đời, dẫu còn nhiều nghịch lý, nhưng ẩn chìm trong những trang văn của Nguyễn Minh Châu vẫn là chất nhân văn lấp lánh. III. Đề luyện tập: ĐỀ 1: Cảm nhận của anh/ chị về đoạn trích sau: Ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào trước chỗ tôi đứng. Một người đàn ông và một người đàn bà rời chiếc thuyền. Họ phải lội qua một quãng bờ phá nước ngập đến quá đầu gối. Bất giác tôi nghe người đàn ông nói chõ lên thuyền như quát: “Cứ ngồi nguyên đấy. Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”. Chắc chắn họ không trông thấy tôi. Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Người đàn ông đi sau. Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc
  10. tổ quạ. Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ lúc nào cũng nhìn dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà. Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!”. Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy. Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới. (Trích Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019). Từ đó làm rõ cái nhìn của nghệ sĩ Phùng trong việc phát hiện cái đẹp. GỢI Ý: 1. Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” và vấn đề nghị luận là : cảnh bạo hành trong gia đình hàng chài và tâmtrạng của nghệ sĩ Phùng.Tình huống truyện có ý nghĩa nhận thức và khám phá. 2. Phân tích đoạn trích: – Cảnh bạo hành trong gia đình hàng chài: + Trên chiếc thuyền bước xuống một người đàn ông và một người đàn bà lam lũ. Người đàn ông hung dữ, thô kệch ( “ Người đàn ông đi sau .đầy vẻ độc dữ” ). Người đàn bà nhếch nhác, mệt mỏi ( “ Khuôn mặt dường như đang buồn ngủ” ) + Người đàn ông đánh người đàn bàộ m t cách dã man ( “ Lão đàn ông lập tức trở nên cho ông nhờ” ).Người đàn bà cam chịu, nhẫn nhục ( “không hề kêu một tiếng, , ..chạy trốn”). + Thằng Phác từ đâu lao ra “ giằng được chiếc thắt lưng .cháy nắng” của người đàn ông để che chở cho mẹ. Nó bị lão tát, ngã dúi xuống cát. + Người đàn bà bật khóc, chị “ ngồi xệp trước mặt thằng bé, .., rồi lại ôm chầm lấy” . – Tâm trạng nghệ sĩ Phùng: Bức tranh hiện thực cuộc sống trần trụi hiện ra khiến Phùng trải qua biết bao thái cực khac nhau của cảm xúc: + Bất ngờ trước sự cam chịu, nhẫn nhục của người đàn bà.
  11. +Kinh ngạc bởi hiện thực cuộc sống quá trớ trêu, nghiệt ngã. Anh kinh ngạ đến mức “ trong mấy phút đầu ..mà nhìn”. + Hành động “ vứt chiếc máy ảnh” : * Trong giây phút này chuyện quan trông nhất với anh là cứu người đàn bà. * Chiếc thuyền đẹp như mơ bỗng chốc là những trái chiều trớ trêu đến mức Phùng không thể tin vào những gì mình vừa chứng kiến. - Ý nghĩa: Đó là những phát hiện sâu sắc của người nghệ sĩ về cuộc đời, con người, sự gắn kết giữ nghệ thuật và đời sống. - Giá trị nghệ thuật: + Xây dựng tình hống độc đáo. + Giong văn linh hoạt + Chọn lọc chi tiết đặc sắc - Gía trị nhân đạo: đau đớn, xót xa cũng như đồng cảm chia sẻ với nỗi cơ cực của người lao động nghèo sau chiến tranh. ĐỀ 2: “Người đàn bà bổng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình: - Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hang tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối - Lão ta trước hồi bảy nhăm có đi lính nguỵ không ? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề. - Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt – nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật. - Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi. - Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó ? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được ! - Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không ? – Tôi hỏi. - Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu Giá mà lão uống rượu thì tôi còn đỡ khổ Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão đưa tôi lên bờ mà đánh - Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được ! – Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên.
  12. - là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông - Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chat, - trên thuyền phải có một người đàn ông dù hắng man rợ, tàn bạo ? - Phải – Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động song gió chứ chú ? Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp: - Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hang chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rôi nuôi con cho đến khi khôn lớncho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được ! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó ! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sang lên như một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ. - Cả đời chị có một lúc nào thật vui không ? – Đột nhiên tôi hỏi? - Có chứ, chú ! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no ” ( Trích “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu – Sách Ngữ văn 12, tập hai , NXB giáo dục Việt Nam, trang 75-76). Phân tích hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó nhận xét về vẻ đẹp của hình tượng người phụ nữ được thể hiện trong văn học. GỢI Ý: 1. Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” và đoạn trích. 2.Hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài thể hiện trong đoạn trích - Sơ lược về ngoại hình người đàn bà hàng chài: xấu xí -Tính cách, phẩm chất: + Cam chịu, giàu đức hy sinh, bao dung . Bị chồng đánh vẫn cam chịu vì sống cho con; . Nhận lỗi hết về mình, không kể tội chồng ở toà án. + Yêu thương con vô bờ bến . Không bỏ chồng vì cần chồng phụ bà nuôi đàn con
  13. .Bị chồng đánh bà không khóc, nhưng nhìn thằng Phác bị bố nó đánh thì bà khóc. . Vui nhất là bà nhìn đàn con được ăn no. + Thấu hiểu lẽ đời, chắt chiu hạnh phúc . Người đàn bà phải cần có người đàn ông để chèo chống thuyền lúc phong ba . . Gia đình bà có lúc cũng vui vẻ, hạnh phúc. - Hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài thể hiện trong đoạn trích với nghệ thuật đặc sắc: + Khắc hoạ nhân vật tiêu biểu + Cách kể chuyện tự nhiên, cảm xúc. + Ngôn ngữ đậm tính tiết lý, phù hợp với tính cách nhân vật. * Đánh giá Nhân vật người đàn bà hàng chài mang vẻ đẹp tuyệt vời của người phụ nữ, tuy xấu xí, nghèo khổ nhưng có phẩm chất tốt đẹp. Qua đó, nêu lên cách nhìn nhận, đánh giá con người phải có cái nhìn toàn diện, không nhìn vào hiện tượng, vẻ bên ngoài. 3. Nhận xét về vẻ đẹp của hình tượng người phụ nữ được thể hiện trong văn học. Thí sinh nêu được những ý sau: - Người phụ nữ trong văn học được khắc hoạ với những phẩm chất cao đẹp, tiêu biểu cho người mẹ, người vợ Việt Nam. - Họ là những con người chịu nhiều khổ cực nhưng luôn toả sáng với vẻ đẹp tâm hồn cao quý. ĐỀ 3: “Trong phút chốc ngồi trước mặt chúng tôi lại vẫn là một người đàn bà đầy lúng túng, đầy sợ sệt nhưng có vẻ thông cảm với chúng tôi hơn. Mụ bắt đầu kể: - Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. Hồi bấy giờ nhà tôi còn khá giả, nhà tôi trước ở trong cái phố này. Cũng vì xấu xí, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới. Lão chồng tôi khi ấy là anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi. Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình: - Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối - Lão ta hồi bảy lăm có đi lính ngụy không? Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề. - Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính-bỗng mụ đỏ mặt - nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật. - Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi. - Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có được cái nghề lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!
  14. - Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không ?- Tôi hỏi. - Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão lôi tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu Giá mà lão uống rượu thì tôi còn đỡ khổ Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão đưa tôi lên bờ mà đánh - Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! Đẩu và tôi cùng lúc thốt lên.” ( Trích Chiếc Thuyền Ngoài Xa của Nguyễn Minh Châu- Ngữ Văn, tập hai, NXBGD 2017). Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài qua đoạn trích trên. Từ đó bình luận ngắn gọn về quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. GỢI Ý: 1. Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, đoạn trích, nhân vật người đàn bà hàng chài. 2. Cảm nhận nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích - Ngoại hình xấu xí: + một đứa con gái xấu, + rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. ->Không ai lấy, có mang với người con trai hay đến mua bả về đan lưới => làm nổi bật thân phận đáng hươngt của người đàn bà - Số phận bất hạnh: + Nghèo khổ : Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã ỡđ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối + Đông con: Giá tôi đẻ ít đi, nhưng cái lỗi chính là đám đàn bàở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật. + Bị bạo hành: Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão lôi tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu Giá mà lão uống rượu thì tôi còn đỡ khổ => Khốn khổ, bất hạnh, không có sự che chở yêu thương - Phẩm chất: + Sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời => con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình ->chi tiết cho thấy người phụ nữ có vốn sống, hiểu biết cuộc đời sâu sắc => Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có được cái nghề lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được! ->Người đàn bà quê mùa, thất học đã chỉ cho Phùng và Đẩu bất cập trong chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước + Nhân hậu, vị tha, hi sinh vì con
  15. => Với chồng: Thấu hiểu nỗi khổ của chồng: Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão lôi tôi ra đánh ->người đàn bà hiểu chồng đánh mình không phải vì ghét mà vì cuộc sống mưu sinh đè nặng, vì hoàn cảnh sống tối tăm nên người chồng đánh vợ như 1 cách giải tỏa đau đớn, khổ sở trong lòng; cái lỗi chính là đám đàn bàở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật ->tự nhận lỗi về mình: coi mình là 1 nguyên nhân đẩy người chồng tới đau khổ + Với con: Sợ con bị tổn thương nên xin chồng lên bờ đánh + Đằng sau cái vẻ lam lũ, cam chịu là tình thương vô bờ bến dành cho chồng, con – hình ảnh tiêu biểu người phụ nữ Việt Nam - Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Nhân vật đặt trong cuộc đối thoại giữa Phùng, Đẩu; Ngôn ngữ đối thoại sinh động; Lời văn giản dị mà sâu sắc, đa nghĩa . 3. Nhận xét về quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu: - Nghệ thuật phải gắn liền với hiện thực cuộc sống. - Nhà văn phải có cái nhìn đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thật của hiện tượng , con người. ĐỀ 4: Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã miêu tả những phát hiện của người nghệ sỹ Phùng. Suốt một tuần liền “phục kích” Phùng đã thu vàoố ng kính một cảnh “đắt” trời cho: “Trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngòi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum đang tiến mặt vào bờ” Và khi con thuyền đó vào bờ - một người đàn ông và một người đàn bà rời thuyền- Phùng đã chứng kiến cảnh người đàn ông đánh vợ: “ chẳng nói chẳng rằng lão chút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két ” (Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr. 70,71) Anh/Chị hãy làm rõ phát hiện của người nghệ sỹ trong hai lần miêu tả trên, từ đó nhận xét quan niệm của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. GỢI Ý: 1. Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm. - Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiên phong của thời kỳ đổi mới, người được xem là “không thể thay thế” cho giai đoạn văn học này.
  16. - Chiếc thuyền ngoài xa in trong tập truyện ngắn cùng tên, tác phẩm đem đến cái nhìn đúng đắn về cuộc sống và con người. - Tác giả muốn gửi tới người đọc một thông điệp về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. 2. Phân tích hai chi tiết. 2.1. Giới thiệu khái quát. - Câu chuyện bắt đầu từ một tình huống truyện độc đáo, người nghệ sỹ nhiếp ảnh Phùng trở về chiến trường xưa để chụp bức tranh cảnh biển theo đề nghị của trưởng phòng. - Ở đó, người nghệ sỹ đã phát hiện ra bức tranh “cảnh đắt trời cho” nhưng đằng sau bức tranh ấy là cả một sự thật nghiệt ngã. 2.2. Phân tích chi tiết hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa (đoạn 1). - Hoàn cảnh xuất hiện: + Suốt một tuần liền “phục kích” nay Phùng mới có dịp thu vào ống kính “hết một phần tư cuốn phim” với cảnh đẹp mà suốt đời Phùng chưa bao giờ có được. + Đứng trước cảnh tự nhiên, Phùng cảm thấy bức tranh đẹp như “bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”. - Ý nghĩa ủc a hình ảnh: + Vẻ đẹp của chiếc thuyền trên biển trong sáng sớm mờ sương, vẻ đẹp đơn giản và toàn bích, toàn thiện. + Khoảnh khắc khám phá phát hiện ra cái ẹđ p của thiên nhiên tạo vật- con người: xúc động ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tinh khôi của chiếc thuyền lúc bình minh. Một khám phá chân lý của nghệ thuật đích thực. =>Đó là phát hiện của người nghệ sỹ về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. 2.3. Phân tích hành động đánh vợ của người đàn ông (đoạn 2). - Hoàn cảnh xuất hiện: Khi chiếc thuyền tiến vào bờ, người nghệ sỹ đã tận mắt chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, mệt mỏi và cam chịu; một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như một phương cách để giải tỏa những uất ức, đau khổ - Ý nghĩa ủc a hành ộđ ng: + Phát hiện đầy nghịch lý của người nghệ sỹ sau bức tranh cảnh biển, một sự thật nghiệt ngã về cuộc sống của gia đình hàng chài.
  17. + Nhà văn lên án, phê phán hành động vũ phu, thô bạo của người chồng trong cách ốđ i xử với vợ, con. Lên án thói bạo hành trong cuộc sống gia đình. + Nhà văn còn thể hiện nỗi lo âu, khắc khoải về tình trạng nghèo khổ, tăm tối của con người (cảnh đói nghèo, cơ ực c, bất trắc trong cuộc sống là nguyên nhân sâu sa của sự bạo hành) => Cảm thương cho số phận bất hạnh của người đàn bà hàng chài. 2.4. Nhận xét quan niệm của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời. - Từ hai phát hiện ấy nhà văn muốn gửi tới bạn đọc ý nghĩa ềv mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời: + Chiếc thuyền khi ngoài xa mang vẻ đẹp tuyệt mỹ nhưng khi chiếc thuyền lại gần thì ta lại thấy chiếc thuyền đó chứa đựng nhiều điều phi lý, nếu ở ngoài xa ta sẽ không thấy được. + Cuộc đời luôn chứa đựng nhiều nghịch lý và mâu thuẫn. Không nên đánh giá sự vật, hiện tượng nếu chỉ nhìn từ bên ngoài mà phải có cái nhìn đa diện, nhiều chiều để đánh giá đúng bản chất bên trong. Từ đó, Nguyễn Minh Châu đã đưa nghệ thuật vươn tới chiều sâu nhân bản “Nghệ thuật phải gắn liền với đạo đức”. - Nhà văn ặđ t ra trách nhiệm của người nghệ sỹ: + Đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời, đừng mượn danh nghệ thuật mà vô trách nhiệm trước cuộc đời. + Người nghệ sỹ trước khi biết rung động trước cái ẹđ p hãy là con người biết yêu ghét, buồn vui trước mọi lẽ thường, biết hành động để có được cuộc sống tốt đẹp; bởi nghệ thuật luôn gắn liền với cuộc đời, nghệ huật phải vì cuộc đời, đó chính là nghệ thuật “Vị nhân sinh”. => Đánh giá: + Đây là những chi tiết, hình ảnh nghệ thuật độc đáo mà Nguyễn Minh Châu đã dụng công xây dựng để khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người nghệ sỹ trước cái đẹp và hiện thực cuộc đời. + Ngôn ngữ kể chuyện: thể hiện qua nhân vật Phùng, sự hóa thân của tác giả. Chọn người kể chuyện như thế đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết phục. => Người nghệ sỹ Phùng là một trái tim nghệ sỹ thăng hoa trước cái đẹp và cũng làộ m t trái tim nghệ sỹ trước cuộc đời. Trước khi là trái tim nghệ sỹ, Phùng có một trái tim con người. ĐỀ 5: Khép lại tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu viết:
  18. “Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất, hòa lẫn trong đám đông ” (Sách Ngữ văn 12- tập 2, tr.78 NXB Giáo dục, năm 2011) Hãy phân tích ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn trên để thấy quanniệm của tác giả về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộcsống. GỢI Ý: 1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật Phùng, vấn đề nghị luận: đoạn kết tác phẩm và quan niệm tác giả. 2. Phân tích ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng ở đoạn văn. * GIÁ TRỊ CỦA TẤM ẢNH ĐỐI VỚI CÔNG CHÚNG : - Tấm ảnh Phùng đã chụp đã chụp được là cảnh chiếc thuyền lưới vó đang tiến vào bờ. Cảnh thật huyền ảo, tinh khôi, tinh khiết như “một bức tranh mực tàu của một danh họa đời cổ”.. - Tấm ảnh được bổ sung vào bộ lịch năm ấy và góp phần nâng cao uy tín cho tác giả của tấm ảnh. Tấm ảnh có giá trị nghệ thuật cao, được mọi người yêu thích ,“được treo rất nhiều nơi nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Không những thế, nó còn có giá trị lâu bền “không những cho bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau”. * ẤN TƯỢNG CỦA PHÙNG VỀ TẤM ẢNH MÌNH CHỤP: - Tuy chụp được tấm ảnh toàn mĩ nhưng dường như tâm trạng của Phùng vẫn còn nhiều băn khoăn, day dứt. Bởi vì Phùng còn nhìn thấy từ tấm ảnh, đằng sau tấm ảnh , những hình ảnh khác. Đó là hình ảnh của những con người khốn khổ. - Vẻ đẹp nghệ thuật gợi lên từ tấm ảnh: + Ấn tượng đặc biệt về hiệu ứng màu sắc của Phùng lúc chụp ảnh, là niềm hân hoan khi Phùng phát hiện ra vẻ đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh. + Thể hiện niềm tin vào tương lai của gia đình hàng chài nghèo khổ, đầy nghịch lí sống trên chiếc thuyền. - Vẻ đẹp cuộc sống đời thường sau tấm ảnh: + Hình ảnh người đàn bà hàng chài cứ hiện lên trong sự gợi nhớ của Phùng sau khi ngắm nhìn vẻ đẹp của bức ảnh. Điều đó cho thấy Phùng luôn bị ám ảnh bởi cuộc sống của gia đình hàng chài, đặc biệt là số phận đáng thương của những người phu nữ ở vùng biển này .Đó là người mẹ giàu đức hi sinh và thấu hiểu lẽ đời.
  19. + Chị là đại biểu cho những kiếp người lao động vất vả trăm chiều. Hạnh phúc trong cuộc đời họ là những điều rất đơn sơ, giản dị nhưng không phải bao giờ cũng có được . Hạnh phúc của chị là những lúc được ngắm nhìn “đàn con chúng nó được ăn no”, vợ chồng con cái “hòa thuận vui vẻ”, dẫu đó là những niềm vui hiếm hoi trong cuộc đời nhiều cay đắng, nghiệt ngã của chị. - Nghịch lí của đời sống: + Cuộc đời họ bình thường, thầm lặng, vô danh không ai biết đến nhưng họ là số đông, là thành phần đại đa số của cư dân trên mặt đất nầy “bàn chân chị giậm lên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông”. Họ chính là đám đông đã bám gốc rễ trên trên hành tinh nầy từ thuở có loài người. + Nhưng đám đôngấ y dường như xa lạ với những bức ảnh tuyệt mĩ thể hiện cuộc sống của họ. Đằng sau bóng dáng thấp thoáng ẩn hiện của người phụ nữ này là trái tim nhân đạo của người nghệ sĩ. - Niềm tin vào con người: Phùng thấy người đàn bàấ y bước ra khỏi tấm ảnh “bước những bước chậm rãi, bàn chân giậm trên mặt đất, hòa lẫn trong đám đông ”. Những bước đi chắc chắn và hòa lẫn vào đám đông của người đàn bà hàng chài thể hiện niềm tin của Phùng về sự hòa nhập của họ trong hành trình đi lên ủc a cuộc sống. 3. Mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống: - Nghệ thuật xuất phát từ cuộc sống. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng có vẻ đẹp lí tưởng như nghệ thuật. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng bị ám ảnh mỗi khi nhìn lại tấm ảnh, có thể anh nghĩ rằng tấm ảnh đó sang trọng, xa cách quá với cuộc sống của những người lao động nghèo khổ kia. Quan niệm về nghệ thuật của nhà văn: - Nghệ thuật không thể xa cách với hiện thực nhọc nhằn, cay cực của con người. Nghệ thuật phải dành ưu tiên trước hết cho con người, phải góp phần giải phóng con người khỏi sự cầm tù của đói nghèo, tăm tối và bạo lực. Người nghệ sĩ phải có tấm lòng biết trăn trở về số phận; phải nhìn cuộc đời sâu sắc, đa chiều, không giản đơn, dễ dãi và và phải dũng cảm nhìn thẳng vào hiện thực. - Một tác phẩm nghệ thuật chân chính phải là tác phẩm thể hiện được chiều sâu, bản chất của hiện thực đằng sau cái vẻ ngoài ẹđ p đẽ, lãng mạn. Để làm được điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều, sâu sắc, toàn diện về hiện thực, phải có sự trải nghiệm và quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, gian khổ. * Nghệ thuật Truyện được xây dựng theo lối kết cấu vòng tròn : mở đầu là đi tìmả nh, kết thúc là ngắm nhìn ảnh mà ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm nhằm nhấn mạnh tính triết lí của truyện. Giọng văn trầm lắng, suy tư, nhiều dư vị, nhiều liên tưởng bất ngờ
  20. IV. BÀI VĂN THAM KHẢO. NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI TRONG TRUYỆN "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời chống Mĩ, cũng là “người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học từsau 1975. Nhà nghiên cứu hàng đầu Nga Nikulin nhận xét: “Các nhân vật của Nguyễn Minh Châu trước 1980 được Nguyễn Minh Châu tắm rửa sạch sẽ, được bao bọc trong bầu không khí vô trùng”. Ta có thể thấy điều ấy qua nhân vật Nguyệt trong “Trăng sáng”. Giai đoạn sau này,nổi bật là truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang nhiều cảm hứng thế sự cùng những triếtlí nhân sinh hơn. Nhưng quan điểm sáng tác của ông là “gắng đi tìm các hạt ngọc còn ẩn giấu trong bề rộng tâm hồn con người” thì không thay đổi. Nhân vật trung tâm của tình huống truyện nghịch lý trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” chính là người đàn bà hàng chài. Từnhân vật này, nhà văn bộc lộ tấm lòng nhân đạo và gửi gắm những bức thông điệp về nghệ thuậtvà cuộc đời. Đọc tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” ta thấy nhân vật người đàn bà hàng chàiđược nhà văn giới thiệu là người đàn bà trạc ngoài 40. Và khi đề cập đếnnhânvật này Nguyễn Minh Châu không gọi bằng một cái tên cụ thể nào cả mà gọi một cách phiếm định: “mụ”, “người đàn bà hàng chài” Việc nhà văn không đặt tên cho nhân vật của mình không phải ngẫu nhiên vô tình mà đó là một dụng ý nghệ thuật sâu xa: Ông muốn nhấnmạnh đây chỉ là một trong vô số những người đàn bà đau khổ, bất hạnh, cần cảm thông sẻ chia màthôi. Người đàn bà hàng chài mang một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển vớinhững nét thô, mặt rỗ “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như buồn ngủ. Đây chính là hình ảnh một người lao động lam lũ và đau khổ. Có lẽ gánh nặngcủa cuộc mưu sinh đầy sóng gió trên biển cả đã ấy đi tất cả của chị: sinh lực, niềm vui vàsứcsống. Sự nghèo khổ nhọc nhằn đến mức nhác, thảm hại còn hiện rõ trong chi tiết miêu tả tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng. Sự khốn khổ của chị còn hiện ra ngaytrong dáng vẻ: ” sợ sệt, lúng túng” khi ở tòa án, “tìm đến một góc tường để ngồi”. Thậm chí khiĐẩu phải mời đến lần thứ hai chị mới “rón rén đến ngồi ghé vào mép chiếc ghế và cố thu người lại”. Có lẽ đó là dáng vẻ của một con người tội nghiệp luôn thấy sự có mặt của mìnhtrong cuộc đời này là một phi lí, luôn mặc cảm, tự ti và do đó muốn giảm thiểu sự vướng víu,phiền phức đến khó chịu mà mình có thể gây ra cho mọi người xung quanh. Nguyễn Minh Châu không chỉ dừng lại ở vẻ ngoài của nhân vật mà ngòi bút thấm đẫm tinh thần nhân đạo của ông đã lách thật sâu để khám phá cho được cái mạch ngầmhiện thực về số phận bất hạnh của người đàn bà hàng chài. Ấn tượng lớn nhất về sự bất hạnhmà người đàn bà đưa và cho người đọc chính là thái độ cam chịu nhẫn nhục của chị. Khiđiqua bãi xe tăng hỏng trước lúc đến bên chiếc xe, người đàn bà đứng lại “ngước mắt nhìn rangoài .rồi đưa một cánh tay lên định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. Có thể nhận thấy đây là nơi quá quen thuộc với chị, mộtsựquen thuộc khủng khiếp bởi những trận đòn đã thành lệ của người chồng: ba ngàymột trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cặp mắt nhìn xuống chân mệt mỏi như một kẻ tội đồ chờ đợi mộthình phạt không tránh khỏi. Khi bị đánh dã man, người đàn bà chịu đòn với vẻ cam chịu nhẫn nhục,