Đề cương ôn thi tốt nghiệp THPT Ngữ văn
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn thi tốt nghiệp THPT Ngữ văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_thi_tot_nghiep_thpt_ngu_van.pdf
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn thi tốt nghiệp THPT Ngữ văn
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT QUY TRÌNH BIÊN SOẠN CÂU HỎI/BÀI TẬP KIẾM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC + Bước 1: Lựa chọn chủ đề: Đọc hiểu văn bản, Làm văn, Tiếng Việt căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học. Mỗi chủ đề lớn có thể chia thành những chủ đề nhỏ để xây dựng câu hỏi/ bài tập. + Bước 2: Xác định mục tiêu kiểm tra, yêu cầu của kiến thức, nội dung đạt được trong bài làm của học sinh: Chuẩn kiến thức- kỹ năng theo yêu cầu của môn học. Chú ý kĩ năng cần hướng đến những năng lực có thể hình thành và phát triển sau mỗi bài tập. + Bước 3: Lập bảng mô tả mức độ đánh giá theo định hướng năng lực. Bảng mô tả mức độ đánh giá theo năng lực được sắp xếp theo các mức: nhận biết - thông hiểu - vận dụng - vận dụng cao. Khi xác định các biểu hiện của từng mức độ, đến mức độ vận dụng cao chính là học sinh đã có được những năng lực cần thiết theo chủ đề. Các bậc nhận thức Động từ mô tả Biết: Sự nhớ lại, tái hiện kiến thức, tài - (Hãy) định nghĩa, mô tả, nhận biết, đánh dấu, liệu được học tập trước đó như các sự liệt kê, gọi tên, phát biểu, chọn ra, kiện, thuật ngữ hay các nguyên lí, quy trình. Hiểu: Khả năng hiểu biết về sự kiện, - (Hãy) biến đổi, ủng hộ, phân biệt, ước tính, giải nguyên lý, giải thích tài liệu học tập, thích, mở rộng, khái quát, cho ví dụ, dự đoán, nhưng không nhất thiết phải liên hệ các tóm tắt. tư liệu Vận dụng thấp: Khả năng vận dụng các - (Hãy) xác định, khám phám tính toán, sửa đổi, tài liệu đó vào tình huống mới cụ thể dự đoán, chuẩn bị, tạo ra, thiết lập liên hệ, chứng hoặc để giải quyết các bài tập. minh, giải quyết. - (Hãy) vẽ sơ đồ, phân biệt, minh họa, suy luận, tách biệt, chia nhỏ ra Vận dụng cao: - (Hãy) phân loại, tổ hợp lại, biên tập lại, thiết Khả năng đặt các thành phần với nhau để kế, lí giải, tổ chức, lập kế hoạch, sắp xếp lại, cấu tạo thành một tổng thể hay hình mẫu trúc lại, tóm tắt, sửa lại, viết lại, kể lại. mới, hoặc giải các bài toán bằng tư duy - (Hãy) đánh giá, so sánh, đưa ra kết luận thỏa sáng tạo. thuận, phê bình, mô tả, suy xét, phân biệt, giải Khả năng phê phán, thẩm định giá trị của thích, đưa ra nhận định. tư liệu theo một mục đích nhất định. + Bước 4: Xác định hình thức công cụ đánh giá (các dạng câu hỏi/bài tập): Công cụ đánh giá bao gồm các câu hỏi/bài tập định tính, định lượng, nhằm cung cấp các bằng chứng cụ thể liên quan đến chuyên đề và nội dung học tập tương ứng với các mức độ trên. Chú ý các bài tập thực hành gắn với các tình huống trong cuộc sống, tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm theo bài học. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. VD : BẢNG MÔ TẢ MỨC ĐỘ ĐÁNH GIÁ CHỦ ĐỀ (Truyện ngắn Việt Nam 1945 đến 1975 theo định hướngphát triển phẩm chất, năng lực) Thông hiểu Vận dụng Nhận biết Cấp độ thấp Cấp độ cao - Nêu thông tin về tác - Lý giải được mối - Vận dụng hiểu biết - So sánh các phương giả, tác phẩm, hoàn quan hệ, ảnh hưởng về tác giả, tác phẩm diện nội dung nghệ cảnh sáng tác, thể loại của hoàn cảnh sáng để viết đoạn văn thuật giữa các tác tác với việc xây giới thiệu về tác giả, phẩm cùng đề tài, dựng cốt truyện và tác phẩm hoặc thể loại, phong thể hiện nội dung, tư cách tác giả. tưởng của tác phẩm - Hiểu, lý giải ý nghĩa nhan đề - Nhận diện được - Phân tích giọng kể, - Khái quát được - Trình bày những ngôi kể, trình tự kể ngôi kể đối với việc đặc điểm phong kiến giải riêng, phát thể hiện nội dung tư cách của tác giả từ hiện sáng tạo về văn tưởng của tác phẩm. tác phẩm bản. - Nắm được cốt - Lý giải sự phát - Khái quát các đặc - Biết tự đọc và khám truyện, nhận ra đề tài, triển của cốt truyện, điểm của thể loại từ phá các giá trị của cảm hứng chủ đạo sự kiện, mối quan hệ tác phẩm một văn bản mới cùng giữa các sự kiện thể loại - Liệt kê/chỉ ra/gọi tên - Giải thích, phân - Trình bày cảm - Vận dụng tri thức hệ thống nhân vật tích đặc điểm, ngoại nhận về tác phẩm đọc – hiểu văn bản để (xác định nhân vật hình, tính cách, số tạo lập văn bản theo trung tâm, nhân vật phận nhân vật. yêu cầu. chính, phụ) - Đánh giá khái quát - Đưa ra những ý kiến về nhân vật quan điểm riêng về tác phẩm, vận dụng vào tình huống, bối cảnh thực để nâng cao giá trị sống cho bản thân - Phát hiện, nêu tình - Hiểu, phân tích Thuyết minh về tác - Chuyển thể văn bản huống truyện được ý nghĩa của phẩm (vẽ tranh, đóng tình huống truyện kịch...) - Nghiên cứu khoa học, dự án. - Chỉ ra/kể tên/ liệt kê - Lý giải được ý được các chi tiết nghệ nghĩa và tác dụng thuật đặc sắc của mỗi của các từ ngữ, hình Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. tác phẩm/đoạn trích ảnh, chi tiết nghệ và các đặc điểm nghệ thuật, câu văn, các thuật của thể loại biện pháp tu từ... truyện. CÂU HỎI ĐỊNH TÍNH, ĐỊNH LƯỢNG BÀI TẬP THỰC HÀNH - Trắc nghiệm khách quan - Trình bày miệng, thuyết trình - Câu tự luận trả lời ngắn (lý giải, nhận xét, - So sánh tác phẩm, nhân vật theo chủ đề phát hiện, đánh giá...) - Đọc diễn cảm, kể chuyện sáng tạo, trao đổi - Bài nghị luận (trình bày suy nghĩ, cảm thảo luận nhận, kiến giải riêng của cá nhân...) - Nghiên cứu khoa học... - Phiếu quan sát làm việc nhóm, tao đổi, thảo luận về các giá trị của tác phẩm A. KIẾN THỨC LÍ THUYẾT: I/ Phạm vi và yêu cầu của phần đọc – hiểu . 1. Phạm vi: 1.1. Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật): - Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm) - Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được học trong chương trình). 1.2. Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: Vấn dề chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý, ... Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản song có thể nghiêng nhiều về loại văn bản nghị luận và văn bản báo chí). 2/ Yêu cầu cơ bản của phần đọc – hiểu. 2.1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt. Phương thức biểu đạt Nhận diện qua mục đích giao tiếp 1 Tự sự Trình bày diễn biến sự việc 2 Miêu tả Tái hiện trạng thái, sự vật, con người Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. 3 Biểu cảm Bày tỏ tình cảm, cảm xúc 4 Nghị luận Trình bày ý kiến đánh giá, bàn luận 5 Thuyết minh Trình bày đặc điểm, tính chất, phương pháp 6 Hành chính – công vụ Trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện quyền hạn, trách nhiệm giữa người với người 3. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) các hình thức, phương tiện ngôn ngữ. - Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh, (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu) - Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng, - Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng, Biện pháp tu từ Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật) So sánh Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc Ẩn dụ Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc. Nhân hóa Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn hơn. Hoán dụ Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc Điệp từ/ngữ/cấu trúc Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cẳm Nói giảm Làm giảm nhẹ đi ý đau thương, mất mát nhằm thể hiện sự trân trọng Thậm xưng (phóng đại) Tô đậm ấn tượng về Câu hỏi tu từ Bộc lộ cảm xúc Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Đảo ngữ Nhấn mạnh, gây ấn tượng về Đối Tạo sự cân đối Im lặng ( ) Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc Liệt kê Diễn tả cụ thể, toàn điện Ví dụ 1: Chỉ ra biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si;” (Vội vàng – Xuân Diệu) (Trả lời: - Biện pháp tu từ được sử dụng là phép trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc): Của này đây / Này đây của Hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ là nhấn mạnh vẻ đẹp tươi non, phơi phới, rạo rực, tình tứ của mùa xuân qua tâm hồn khát sống, khát yêu, khát khao giao cảm mãnh liệt của nhân vật trữ tình). 4. Yêu cầu nhận diện kiểu câu và nêu hiệu quả sử dụng. 4.1. Câu theo mục đích nói: Câu tường thuật (câu kể);Câu cảm thán (câu cảm); Câu nghi vấn ( câu hỏi); Câu khẳng định; Câu phủ định. 4.2. Câu theo cấu trúc ngữ pháp: Câu đơn ; Câu ghép/ Câu phức; Câu đặc biệt. 5. Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ Đặt nhan đề cho văn bản. Ví dụ 1: “Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bàn ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò - món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây ” (Trích Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng) ? Đọc kĩ và xác định nội dung chính của đoạn trích trên? Hãy đặt nhan đề cho đoạn văn. (Trả lời: Đoạn văn miêu tả mâm cỗ Tết thịnh soạn do bàn tay tài hoa, chu đáo của cô Lí làm ra để thết đãi cả gia đình. Có thể đặt nhan đề là “Mâm cỗ Tết”. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. 6. Yêu cầu nhận diện các lỗi diễn đạt và chữa lại cho đúng. 6.1. Lỗi diễn đạt ( chính tả, dùng từ, ngữ pháp) 6.2. Lỗi lập luận ( lỗi lô gic ) 7. Yêu cầu nêu cảm nhận nội dung và cảm xúc thể hiện trong văn bản . - Cảm nhận về nội dung phản ánh - Cảm nhận về cảm xúc của tác giả Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau trong bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa...của Nguyễn Duy và trả lời câu hỏi sau: “( ) Mẹ ta không có yếm đào nón mê thay nón quai thao đội đầu rối ren tay bí tay bầu váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa” ?Ở khổ thơ này, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì? (Trả lời: - Hình ảnh của người mẹ nghèo bình dị, lam lũ, quê mùa, tần tảo, tất tả, bươn chải giữa chốn trần gian được gợi qua trang phục, qua lam lũ nhọc nhằn lao động với bao lo toan vất vả. - Cảm xúc của nhà thơ là nỗi buồn lặng thấm thía về gia cảnh nghèo nàn của mẹ là tình yêu thương, trân trọng và niềm tự hào về mẹ). 8. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản. - Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh thể hiện nội dung cụ thể/ nội dung chính của văn bản - Chỉ ra từ ngữ chứa đựng chủ đề đoạn văn Ví dụ 1 : Đọc đoạn thơ và trả lời câu hỏi: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan. Đôi mái nhà gianh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang” ( Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử) Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Bức tranh mùa xuân được tác giả vẽ lên bằng những hình ảnh nào? ( Trả lời: Bức tranh mùa xuân được tác giả vẽ lên bằng những hình ảnh: nắng ửng, khói mơ tan, đôi mái nhà gianh, tà áo biếc, giàn thiên lí. 9. Yêu cầu nhận diện các hình thức nghị luận (hoặc cách thức trình bày của đoạn văn/ Kết cấu đoạn văn). - Diễn dịch ;- Qui nạp ;- Tổng – Phân – Hợp . 10. Nhận diện các thao tác lập luận Các thao tác lập luận - Giải thích: Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của mình. - Phân tích: Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng. Sau đó tích hợp lại trong kết luận chung - Chứng minh: Chứng minh là đưa ra những cứ liệu - dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề. - Bình luận: Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại ; để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng - Bác bỏ: Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của mình. - So sánh: So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm. Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương phản. 11. Yêu cầu nhận diện thể thơ. - Các thể thơ VN có thể chia làm 3 nhóm chính: + Các thể thơ dân tộc gồm: Lục bát, song thất lục bát, Hát nói. + Các thể thơ đường luật gồm: Ngũ ngôn, Thất ngôn ( Tứ tuyệt, bát cú). + Các thể thơ hiện đại: 5 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng, tự do, văn xuôi. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. 12. Yêu cầu nhận diện thông điệp của văn bản. II/ Phạm vi và yêu cầu của phần làm văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học. 1. Nghị luận xã hội. - Mục đích: Kiểm tra kĩ năng viết NLXH của học sinh. - Hình thức: Viết 1 đoạn văn ngắn ( khoảng 200 chữ) . - Nội dung: Yêu cầu của câu viết NLXH thường được lấy từ văn bản đọc hiểu: Có thể là 1 câu phát biểu/ một quan niệm/ hoặc từ văn bản đọc hiểu yêu cầu học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về bài học, thông điệp mà người viết muốn trao đổi với người đọc. 2. Nghị luận văn học: - Mục đích : Kiểm tra kĩ năng cảm thụ tác phẩm văn chương của học sinh. - Hình thức: Viết bài NLVH . - Nội dung: Phân tích, cảm nhận bài thơ/ đoạn thơ/ Phân tích hình tượng nhân vật trong văn xuôi/ Phân tích tình huống truyện/ giá trị hiện thực, nhân đạo .. B. MỘT SỐ ĐỀ THI TNTHPT Đề thi môn Ngữ văn kỳ thi THPT quốc gia 2018 1. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích: Hãy thức dậy, đất đai! phù sa muôn đời như sữa mẹ cho áo em tôi không còn vá vai sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào? ngô, khoai, sắn... lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao? xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm *** rồi thì đi xa hơn - đẹp, và giàu, và sung Lúc này ta làm thơ cho nhau sướng hơn đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non ta ca hát quá nhiều về tiềm lực châu báu vô biên dưới thềm lục địa tiềm lực còn ngủ yên.. rừng đại ngàn bạc vàng là thế (Trích "Đánh thức tiềm lực", Ánh trăng - Cát trắng - Mẹ và em,Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn, 2015, tr. 289-290) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? Câu 2: Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những yếu tố nào thuộc về tiềm lực tự nhiên của đất nước? Câu 3: Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích. Câu 4: Theo anh/chị, quan điểm của tác giả trong hai dòng thơ: “ta ca hát quá nhiều về tiềm Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. lực/tiềm lực còn ngủ yên có còn phù hợp với thực tiễn ngày nay không? Vì sao? II LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sứ mệnh đánh thức tiềm lực đất nước của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện nay? Câu 2 (5.0 điểm) Phân tích sự đối lập giữa vẻ đẹp của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực gia đình hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu). Từ đó anh/chị hãy liên hệ sự đối lập giữa thành cảnh phố huyện lúc đêm khuya và hình ảnh đoàn tàu (Hai đứa trẻ - Thạch Lam) để nhận xét về cách nhìn hiện thực của hai tác giả. KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA NĂM 2019 Bài thi: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề I. ĐỌC HIỂU(3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Biết nói gì trước biển em ơi Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng Trước cái xa xanh thanh khiết không lời Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm Cái hào hiệp ngang tàng của gió Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ căng Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời Bay trên biển như bồ câu trên đất Cái giản đơn sâu sắc như đời Biển dư sức và người không biết mệt Chân trời kia biển mãi gọi người đi Mũi thuyền lao mặt sóng lại cày bừa Bao khát vọng nửa chừng tan giữa sóng Những chân trời ta vẫn mãi tìm đi (Trước biển – Vũ Quần Phương, Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Văn học, 1985, tr.391) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? Câu 2. Anh/ Chị hiểu nội dung các dòng thơ sau như thế nào? Vầng trán mặn giọt mồ hôi cay đắng Bao kiếp vùi trong đáy lạnh mù tăm Câu 3. Hãy cho biết hiệu quả của phép điệp trong các dòng thơ sau: Cái hào hiệp ngang tàng của gió Cái kiên nhẫn nghìn đời sóng vỗ Cái nghiêm trang của đá đứng chen trời Cái giản đơn sâu sắc như đời Câu 4. Hành trình theo đuổi khát vọng của con người được thể hiện trong đoạn trích gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? II. LÀM VĂN(7.0 điểm) Câu 1(2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về sức mạnh ý chí của con người trong cuộc sống. Câu 2 (5,0 điểm) Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khoá trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng. (Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.198) Cảm nhận của anh/ chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2020 Bài thi: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Không cần ngôn ngữ, mọi sự sống nhỏ nhoi trong tự nhiên đều dạy cho loài người chúng ta biết tầm quan trọng của việc "sống hết mình ở thời khắc này”. Chẳng hạn tại vùng Tsunoda thuộc Bắc cực, giữa mùa hè ngắn ngủi, các loài thực vật đua nhau nảy mầm, nở thật nhiều hoa, kết hạt, chen chúc vươn mình trong khoảng không với mảnh đời thật ngắn ngủi. Có lẽ chúng chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với mùa đông dài khắc nghiệt sắp tới và phó thác sinh mạng mình cho tự nhiên. Rõ ràng là chúng thực sự sống hết mình cho hiện tại, không ảo tưởng, không phân tâm. Ngay cả ở vùng sa mạc khô cằn Sahara, nơi mà mỗi năm chỉ có một hai cơn mưa, nhưng mỗi khi có những giọt nước mưa hiểm hoi trút xuống thì các loài thực vật lại vội vã nảy mầm và nở hoa. Và trong khoảng thời gian từ một đến hai tuần ngắn ngủi, chúng ra hạt, oằn mình chịu đựng trong cát, trong cái nóng như thiêu như đốt, tiếp tục sống chờ đến trận mưa sau để nòi giống của chúng sẽ lại trỗi dậy... Quả thật là muôn loài trong tự nhiên đều sống hết mình, sống nghiêm túc trong từng khoảnh khắc, trong suốt khoảng thời gian sống được hạn định. Sống hết mình cho hiện tại sẽ đưa sự sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai. Vậy thì loài người chúng ta lại càng phải biết trân trọng cuộc sống mỗi ngày để không thua kém cỏ cây muông thú.. (Trích Cách sống: từ bình thường trở nên phi thường, Inamori Kazuô, NXB Lao động 2020, tr. 103-104) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chỉnh được sử dụng trong đoạn trích. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Câu 2. Theo đoạn trích, các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực sinh trưởng như thế nào giữa mùa hè ngắn ngủi? Câu 3. Chỉ ra những điểm tương đồng về sự sống của các loài thực vật ở vùng Tsunoda thuộc Bắc cực và ở vùng sa mạc Sahara trong đoạn trích. Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với nhận định của tác giả “Sống hết mình cho hiện tại sẽ đưa sự sống, dù nhỏ bé, vươn đến ngày mai”? Vì sao? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải trân trọng cuộc sống mỗi ngày. Câu 2. (5,0 điểm) Phân tích tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện trong đoạn trích sau: Em ơi em Họ đã sống và chết Hãy nhìn rất xa Giản dị và bình tâm Vào bốn nghìn năm Đất Nước Không ai nhớ mặt đặt tên Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Cần cù làm lụng Họ chuyển lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cái Khi có giặc người con trai ra trận Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Người con gái trở về nuôi cái cùng con Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến đi dân Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hải trải Nhiều người đã trở thành anh hùng Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ Nhưng em biết không Có nội thà thì vùng lên đánh bại. Có biết bao người con gái, con trai Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Trong bốn nghìn lớp người giống ta lửa tuổi Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại (Trích Đất Nước - trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tp một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 121) ------------------------ HẾT ------------------- ĐỀ THI TNTHPT NĂM 20121 I. Đọc hiểu (3,0 điểm): Đọc đoạn trích: Từ những kẽ hở trên mặt đất, nước trào lên, mát lạnh và trong lành. Từ một dòng nước nhỏ, nước hòa vào với nước tươi mát rơi từ trên trời và nước thấm vào đất để tạo nên một dòng suối nhỏ cứ chảy mãi xuống cho tới khi, một dòng sông ra đời. Sông hình thành lực đẩy và cuốn trôi dần các lớp đất và nền khi dòng chảy từ từ mở rộng và sâu thêm, giống như một đứa trẻ với đôi mắt sáng ngời vươn mình lớn dậy. Dòng sông trở nên đủ mạnh mẽ để xuyên qua núi hay thậm chỉ tạo thành một hẻm núi.[...] Khi nước gặp con người, nó còn được chứng kiến nhiều chuyện nhiều hơn. Một ông lão băng qua cây cầu, một cô gái trên chiếc xe đạp, một đôi tình nhân ngồi ngắm sông trôi. Cứ mãi chầm chậm và cứ mãi xanh, dòng sông chứng kiến lũ trẻ chơi đùa trong công viên hai bên bờ và người cha cùng cậu con nhỏ đang chơi bắt bóng. Dòng sông, giờ đã ở tuổi xế chiều, lại càng trở nên dịu dàng khi nó tiến dần ra phía biển. Rồi Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. cũng đến lúc nó ra tới biển và dòng chảy của nước cuối cùng cũng đi tới hồi kết. Tất cả những trầm tích được nước mang theo lúc đó lắng lại ở cửa sông. Kết quả là một vùng châu thổ được hình thành. Sông Hằng, sông Mississippi và sông Amazon đều đã hình thành những châu thổ tựa như thành một vùng đất rộng lơn, tạo nên một đường bờ biển mới và rộng rãi. Những vùng châu thổ màu mỡ này hình thành nên những vùng nông nghiệp vĩ đại nhất trên thế giới - món quà cuối cùng mà nước dành tặng cho loài người, trước khi nó hiến mình cho đại dương vào lúc cuối đời. (Trích Bí mật của nước, Masaru Emoto, NXB Lao động, 2019, tr.90-93 Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1: Theo đoạn trích, sự ra đời của một dòng sông diễn ra như thế nào? Câu 2: Trong đoạn trích, món quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người trước khi hòa vào biển cá là gì? Câu 3: Những câu văn sau giúp anh/chị hiểu gì về dòng chảy của nước và cuộc sống của con người? “Một ông lão băng qua cây cầu, một cô gái trẻ trên chiếc xe đạp, một đôi tình nhân ngồi ngắm sông trôi. Cứ mãi chầm chậm và cứ mãi xanh, dòng sông chứng kiến lũ trẻ chơi đùa trong công viên hai bên bờ và người cha cùng cậu con nhỏ đang chơi bắt bóng”. Câu 4: Qua hành trình từ sông ra biển của nước trong đoạn trích, anh/chị rút ra những bài học gì về lẽ sống? II. làm văn: Câu 1. ( 2, 0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải biết sống cống hiến. Câu 2 ( 5,0 điểm). Trong bài thơ Song, nhà thơ Xuân Quỳnh viết: Trước muôn trùng sóng bể Khi nào ta yêu nhau Em nghĩ về anh,em Con sóng dưới lòng sâu Em nghĩ về biển lớn Con sóng trên mặt nước Từ nơi nào sóng lên? Ôi con sóng nhớ bờ Sóng bắt đầu từ gió Ngày đêm không ngủ được Gió bắt đầu từ đâu? Lòng em nhớ đến anh Em cũng không biết nữa Cả trong mơ còn thức (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.155) Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. C. BÀI TẬP LUYỆN TẬP PHẦN ĐỌC HIỂU VÀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI. ĐỀ 1: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: ... Chúng ta hồn nhiên khi tham gia mạng xã hội và ném vào đại dương dữ liệu lớn mọi thông tin cá nhân. Ai cũng có thể tìm theo dấu tích số của chúng ta trên Internet. Nó không chỉ là những thứ thông tin được viết ra, hay bức ảnh được chủ động đăng tải: với nhu cầu gây dựng dữ liệu, các nhà cung cấp theo dõi nhất cử nhất động của bạn, từ vị trí, các thói quen đọc, những từ khóa bạn tìm kiếm, những người bạn hay tương tác... mọi cú nhấp chuột dù là vô thức đều được ghi lại và trở thành hàng hóa. ... Liệu những nút report (báo cáo) nội dung bị xâm hại cá nhân của các nhà cung cấp là đủ? Liệu khung pháp lý đã đủ để trấn an người dùng về an toàn mạng? Trước khi mọi thứ được kiểm soát thì có thể hậu quả đã xảy ra như một nữ sinh ở Nghệ An mới tự tử vì bạn trai đưa clip hôn nhau lên mạng. Diễn viên, nhà văn Steven Wright từng nói: “Internet giống như miền Tây hoang dã vậy. Chẳng có luật lệ” Vấn đề hôm nay không phải là giá cổ phiếu của Facebook sụt bao nhiêu hay Mark Zuckerberg mất mấy tỷ USD, mà là sự cẩn trọng của chính bạn khi tham gia môi trường mạng đang ra sao. Thế hệ tôi, 8x đời đầu, may thay vẫn có được một tuổi thơ không Internet. Tôi đang nghĩ về những thế hệ lớn lên trong thời đại số. Làm sao để con tôi, cháu tôi được giáo dục Internet đầy đủ, biết ý thức khai thác mặt tốt của Internet và biết tự bảo vệ mình?... (Đời tư là hàng hóa - Phạm Hải Chung - vnexpress.net 22/03/2018). Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ chính được sử dụng trong đoạn văn bản trên? Câu 2. Anh/chị hiểu như thế nào về nhận xét: “Internet giống như miền Tây hoang dã vậy. Chẳng có luật lệ”? Câu 3. Tại sao tác giả lại cho rằng “Mọi cú nhấp chuột dù là vô thức đều được ghi lại và trở thành hàng hóa”. Câu 4. Hãy nêu một số biện pháp thiết thực theo quan điểm cá nhân của anh/chị để trả lời câu hỏi: “Làm sao để con tôi, cháu tôi được giáo dục Internet đầy đủ, biết ý thức khai thác mặt tốt của Internet và biết tự bảo vệ mình?”. ĐỀ 2: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ Vô tư quá để bây giờ xao xuyến Bèo lục bình mênh mang màu mực tím Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông... Ta lớn lên bối rối một sắc hồng Phượng cứ nở hoài như đếm tuổi Như chiều nay, một buổi chiều dữ dội Ta nhận ra mình đang lớn khôn... Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Biết ơn những cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồng Rút những cọng rơm vàng về kết tổ Đã dạy ta với cánh diều thơ nhỏ Biết kéo về cả một sắc trời xanh Biết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành “Tuổi của mụ” con nằm tròn bụng mẹ Để con quý yêu tháng ngày tuổi trẻ Buổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi... (Trích Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm) Câu 1. Xác định phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên. Câu 2. Tìm những hình ảnh đẹp đẽ của năm tháng tuổi trẻ được tác giả nhắc đến trong đoạn trích? Câu 3. Nêu hiệu quả của việc sử dụng phép điệp trong hai khổ thơ cuối của đoạn trích. Câu 4. Em có đồng tình với quan điểm của tác giả trong những câu thơ sau hay không? Vì sao? Biết ơn mẹ vẫn tính cho con thêm một tuổi sinh thành “Tuổi của mụ” con nằm tròn bụng mẹ Để con quý yêu tháng ngày tuổi trẻ Buổi mở mắt chào đời, phút nhắm mắt ra đi... ĐỀ 3: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Người Thái phát minh ra chiếc bát làm từ lá cây, thay thế cho hộp đựng thức ăn bằng xốp độc hại Với những chiếc bát đĩa từ lá cây này, những tác giả người Thái Lan mong chúng sẽ giữ gìn môi trường sống tốt hơn. Xuất phát từ quan ngại về sự gia tăng trong việc sử dụng những đồ đựng thức ăn làm từ xốp styrofoam gây ô nhiễm môi trường, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Naresuan đã sáng tạo và phát triển một loại bát từ lá cây. Những chiếc bát này có khả năng tự phân huỷ và không thấm nước. Các giáo sư trong khoa công nghệ của trường đã dành hơn 1 năm để phát triển thành công quy trình sản xuất này, tạo ra những chiếc bát chắc chắn, hữu dụng từ lá cây để thay thế những đồ đựng thức ăn bằng xốp. Qua nhiều thử nghiệm và cả những sai sót, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng lá của 3 loại cây bastard teak , teak và banyan là những vật liệu tốt nhất để sản xuất bát đĩa đựng thức ăn. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Những chiếc bát này có thể đựng được nước nóng mà không bị rò rỉ và chúng có khả năng phân huỷ trong tự nhiên sau khi sử dụng xong. Trưởng khoa Sirintip Tantanee cho biết những chiếc bát này đang trong quá trình chờ cấp bằng sáng chế, tuy nhiên khoa công nghệ sẽ phối hợp với hội đồng thành phố để quảng bá việc sử dụng chúng tại các lễ hội ẩm thực thường niên được tổ chức trong suốt dịp lễ Songkran và năm mới. Samorn Hiranpraditsakul- giáo sư khoa kỹ thuật công nghiệp cũng đã chia sẻ cảm hứng để sáng tạo nên những chiếc bát thân thiện với môi trường. Đó là sau khi cô tới thăm một ngôi đền ở phía Bắc Thái Lan, tại đây cô đã chứng kiến cảnh tượng những bát đĩa xốp với nguy cơ gây ô nhiễm môi trường được xếp thành những chồng khổng lồ. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng tinh bột để tạo thêm độ bóng cho những chiếc bát đĩa từ lá cây này. Sản phẩm sẽ được giới thiệu đến công chúng trong dịp lễ Songkran vào tháng 4 năm nay với rất nhiều kiểu dáng khác nhau. (Phong Linh, www.cafebiz.vn, 12/04/2016) Câu 1. Lá của những loại cây nào được dùng làm vật liệu để sản xuất bát đĩa đựng thức ăn? Câu 2. Cảm hứng để Samorn Hiranpraditsakul sáng tạo nên những chiếc bát được từ lá cây bắt nguồn từ đâu? Câu 3. Việc sản xuất ra những chiếc bát từ lá cây thay thế cho hộp đựng thức ăn bằng xốp có ý nghĩa gì đối với môi trường và với người sử dụng? Câu 4. Từ văn bản, trình bày suy nghĩ của anh/chị về tác hại của việc lạm dụng túi nilon hoặc các hộp xốp để đựng thức ăn. ĐỀ 4: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: (1) Không thể phủ nhận trong xã hội hiện nay vẫn tồn tại kiểu người vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, sống thiếu trách nhiệm với cộng đồng, chỉ quan tâm đến những cảm giác và cảm xúc của cá nhân Tuy nhiên, những điều chưa tốt đó đã bị khai thác quá nhiều, khoét quá sâu nên nhiều người dễ nghĩ đó là sự phổ quát. Hơn nữa, người ta thường có xu hướng nhìn thấy những cái xấu nhiều hơn cái tốt, vì thế mọi sự liên quan đến hành vi xấu dễ bị đánh giá chủ quan. (2) Trong khi đó, những điều giản đơn như gặp người lớn phải chào thưa, gặp người thân lễ phép, gặp người ơn phải trân quý, kính trọng được cụ thể hóa thành những điều bình dị rất đời thường, ngay trong chính mỗi gia đình. Lớn lên trong lời ru của mẹ, trưởng thành từ chiếc nôi gia đình với những câu ca dao, tục ngữ; những bài học làm người khó quên Tất cả là hành lang quan trọng để người ta làm người tử tế. [ ] (3) Tuy nhiên, sự tử tế không phải là tài sản quý theo kiểu của để dành cũng không phải là món quà tự nhiên được ban tặng mà đó là hành trình làm người, hoàn thiện bản thân. Sự tử tế có được nhờ nguyên tắc của việc làm theo cái đúng dẫu là bắt chước; dựa trên quá trình rèn giũa, điều chỉnh và hoàn thiện để có những suy nghĩ, bày tỏ cảm xúc và hành vi tốt – ngay cả với nút like hay những dòng bình luận trên mạng xã hội. (Dẫn theo la-mon-qua-20171009222913227.htm) Câu 1. Chỉ ra thao tác lập luận chính của văn bản. Câu 2. Theo tác giả, không thể phủ nhận điều gì trong xã hội hiện nay? Câu 3. Chỉ ra 01 phép tu từ trong đoạn văn (2) và nêu tác dụng của phép tu từ đó? Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Câu 4. Anh/chị có đồng tình với ý kiến : “Sự tử tế có được nhờ nguyên tắc của việc làm theo cái đúng dẫu là bắt chước” ? Vì sao? ĐỀ 5: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: (1) Mỗi người trên thế giới này đều có một cuộc đời riêng và duy nhất, với những ngoại hình và hoàn cảnh khác nhau không bao giờ trùng lặp. Hãy gọi mỗi cuộc đời như vậy là một bộ phim - những bộ phim cuộc đời con người. Ai cũng có bộ phim cuộc đời của riêng mình, bất kể đó là kẻ hành khất hay một vị vua. (2) Trong bộ phim cuộc đời ấy, chúng ta vừa là người viết kịch bản, vừa là đạo diễn kiêm diễn viên và thậm chí kiêm khán giả nữa. Nhưng có một sự thật đáng tiếc, thay vì làm đạo diễn điều khiển cuộc đời mình, dường như chúng ta lại thích thú hơn với việc làm khán giả cho bộ phim của người khác, từ người thân quen, người trong các mối quan hệ xã giao hay thậm chí là người hoàn toàn xa lạ. Việc tình nguyện làm khán giả cho người khác là một thói quen nguy hiểm. Nó không chỉ làm bạn hao phí nhiều thời gian, sinh lực mà còn khiến bạn quen với thế bị động, bị động theo dõi người khác và rồi bị động luôn với chính cuộc đời mình. Mỗi ngày, nhờ internet bạn biết được bao nhiêu chuyện “hay hay” trên thế giới, từ cô nàng minh tinh màn bạc Hollywood lộ hàng khi dạo phố cho đến anh nhà quê tung clip âm nhạc mới, từ hotgirl khoe đường cong cho tới anh chàng trẻ tuổi công khai làm lành với vợ... Thừa nhận đi, một ngày bạn đọc bao nhiêu tin tức kiểu này, theo dõi bao nhiêu người xa lạ kiểu này? Tình nguyện làm khán giả vô hình cho những thứ vô bổ, những người xa lạ ở tận đâu đâu như vậy, bạn sẽ mãi đóng vai quần chúng trong cuộc đời người khác. Cứ như vậy, cuộc đời bạn ai sẽ đóng thay đây hay nói đúng hơn, cuộc đời bạn ai sẽ sống thay? (Trích Sống như ngày mai sẽ chết, Phi Tuyết, Nxb Thế giới, tr.10-11) Câu 1: Một thói quen nguy hiểm được nhắc đến trong văn bản là gì? Câu 2: Nêu tác dụng biện pháp tu từ so sánh trong đoạn văn (1). Câu 3: Vì sao tác giả lại cho rằng: Việc tình nguyện làm khán giả cho người khác là một thói quen nguy hiểm? Câu 4: Theo anh/chị, vì sao nhiều bạn trẻ ngày nay có xu hướng hứng thú với vai trò khán giả trong bộ phim cuộc đời của người khác hơn là làm đạo diễn của bộ phim cuộc đời mình? ĐỀ 6: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: “Cả một thế giới rộng lớn ngoài kia đang chờ bạn, mặc dù con đường tới đó không hiện ra cho những ai chỉ muốn đi trên các lối mòn quen thuộc và làm những công việc quen thuộc. Với những người này thì thế giới cũng chật hẹp giống như những lối mòn quen thuộc của họ và công việc của họ cũng hạn chế như những thói quen của họ vậy. Còn với những người tiên phong quyết tâm đi trên những con đường mới và thử làm những cái mới với tinh thần cầu tiến và chấp nhận thử thách, thế giới thật sự là một địa bàn rộng lớn và có vô số công việc để làm. Đó là cách thức mà tôi đã và sẽ tiếp tục sống – đi tìm những công việc mới và dồn tất cả những gì tôi có cho chúng. Bạn là thanh niên. Vậy hãy trở thành người đi tiên phong. Đi tiên phong mới là cách sống thực sự. Thế giới đang trở nên khá nhỏ để có thể gọi là “Cái làng địa cầu” nhưng vẫn còn rất nhiều nơi để khám phá. Hành tinh chúng ta có rất nhiều người đang làm rất nhiều việc vẫn chưa ai từng làm. Hãy nghĩ đến cả thế giới và có những dự định to lớn, và đừng sợ thất bại. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Con đường của những người đi tiên phong là một con đường đơn độc, nhưng bạn phải tự mở đường cho tương lai của chính mình. Đó là tất cả những gì gọi là một cuộc sống thực sự”. (Trích Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm, Kim Woo Chung – Nguyên Giám đốc Tập đoàn Deawoo, NXB Văn hóa thông tin, tr.159,160) Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2: Trong đoạn trích: “Với những người tiên phong quyết tâm đi trên những con đường mới và thử làm những cái mới, thế giới trong mắt họ là gì? Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: “Với những người này thì thế giới cũng chật hẹp giống như những lối mòn quen thuộc của họ và công việc của họ cũng hạn chế như những thói quen của họ vậy”. Câu 4: Lời khuyên: “Con đường của người đi tiên phong là một con đường đơn độc, nhưng bạn phải tự mở đường cho tương lai của chính mình” trong đoạn trích có ý nghĩa gì với anh/chị? ĐỀ 7:Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình chỉ vì học sợ bị thất bại. Họ không muốn thử sức mình với các kỳ thi quốc gia vì họ không tin rằng họ sẽ chiến thắng. Họ sợ phải nhận những bức thư từ chối, nên họ không nộp đơn xin việc ở nước ngoài. Họ ngại tham gia khóa học cải thiện một kỹ năng còn yếu vì lo sợ phải đối mặt với những sự chế giễu. Nhưng nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang. “Có chắc không?” là câu hỏi khiến chúng ta cảm thấy bất ổn khi muốn thoát ra khỏi vùng an toàn. “Chắc hẳn mà” là câu trả lời mà chúng ta muốn nghe. Chúng ta muốn chắc chắn sẽ nhận được học bổng khi đăng ký, chúng ta muốn chắc chắn sẽ không bị hổ vồ khi đi thám hiểm Safari, chúng ta muốn chắc chắn rằng người mà chúng ta chọn là vợ hay chồng sẽ ở với chúng ta mãi mãi. Nhưng có gì trên thế giới này mà không có độ rủi ro nhất định? Sự rủi ro đó đến với từng người trong chúng ta bất kỳ lúc nào. Rủi ro có thể đến với bạn ngay trong khi bạn chấp nhận làm bất cứ điều gì. Để chắc chắn rằng rủi ro không đến với mình, việc duy nhất bạn có thể làm là không làm gì cả, nằm trên giường và... mơ về những thứ mà bạn không dám làm trong thế giới thật. Nhưng bạn có dám chắc là trong cơn mơ, bạn sẽ không giật mình và ngã xuống đất? Nếu rủi ro ập đến với bạn cả khi bạn đang mơ, vậy tại sao bạn lại không dám ra ngoài và dám biến những ước mơ của bạn trở thành hiện thực? (Trích Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới, Hồ Thu Hương, Nguyễn Phan Linh, Phạm Anh Đức) Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. Câu 2: Theo tác giả, vì sao rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình? Câu 3: Qua đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là vùng an toàn? Với những người đang ở trong vùng an toàn, theo anh/chị cách nào có thể giúp họ bước ra khỏi vùng an toàn đó? Nêu ít nhất 02 cách. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Câu 4: Anh/chị có đồng tình với quan niệm: nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang? Vì sao? (Viết đoạn văn khoảng 15 dòng). ĐỀ 8: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Bạn không cần phải thắng bằng mọi giá Một trong những câu hỏi quan trọng bạn có thể tự hỏi là: “Tôi muốn mình luôn luôn đúng hay tôi muốn được hạnh phúc”. Trong nhiều trường hợp, hai điều này thường không đi cùng nhau Việc tỏ ra mình là người luôn đúng - nghĩa là người khác sai - sẽ đẩy chúng ta vào thế sẵn sàng tranh cãi với bất kỳ ai không cùng quan điểm. Và nếu tình trạng này cứ tiếp diễn sẽ khiến đầu óc chúng ta tốn rất nhiều năng lượng cũng như làm chúng ta xao nhãng với cuộc sống xung quanh. Mặc dù vậy, nhiều người vẫn dành rất nhiều thời gian và công sức để chứng minh (hay bảo vệ) quan điểm của mình và cho rằng người khác đã sai. Vô tình hay hữu ý, nhiều người tin rằng việc đưa ra ý kiến riêng “đúng đắn” sẽ giúp người khác điều chỉnh họ và học hỏi thêm nhiều điều. Thực ra, điều này hoàn toàn sai. Bạn hãy nhớ lại xem, đã bao giờ bạn bị ai đó “sửa lưng” và bạn nói với họ: “Cảm ơn bạn đã chỉ cho tôi thấy điều tôi sai!”. Hoặc đã bao giờ có ai đó nói cảm ơn khi bạn phản đối họ hay chứng tỏ bạn đúng họ sai. Sự thật là đa phần chúng ta đều không thích bị người khác vạch ra sai lầm của mình. (Trích Tất cả đều là chuyện nhỏ, Richard Carlson, NXB Tổng hợp Thành phố HCM, trang 35) Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Theo tác giả, việc tỏ ra mình là người luôn đúng có tác hại gì? Câu 3. Dựa vào đoạn trích, anh/ chị hiểu thế nào về quan điểm “Bạn không cần phải thắng bằng mọi giá” Câu 4. Lời khuyên: “Bạn không cần phải thắng bằng mọi giá” trong đoạn trích có ý nghĩa gì với anh/ chị? ĐỀ 9: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi : Thế giới đó đây thật phong phú. Trong những câu chuyện tưởng chừng vô thưởng vô phạt, thậm chí lẩm cẩm, đôi khi ta tìm được ý nghĩa nhân văn sâu sắc và giá trị tích cực trong cuộc sống con người. Chương trình Thế giới đó đây trên TV cách đây ít lâu có giới thiệu một cụ già nông thôn mang chứng bệnh không ngủ được. Thay vì than thở và căng thẳng thì ông vui vẻ dùng thời gian ngủ để khâu cúc áo thành những tấm hoa văn rất đẹp, thành những bộ quần áo rất lạ. Ông trở thành "vua cúc áo". Ông còn "khảm" cúc áo lên cả cây đàn ghita. Khi ông đàn hát trông rất "cá tính" và lạc quan yêu đời như một thanh niên 18. Cũng trong chương trình TV này giới thiệu một người bị liệt phải ngồi xe lăn. Ông này rất mê Tổng thống Lincoln. Ông sưu tầm tiền xu có hình Tổng thống Lincoln rồi đem dán lên xe hơi. Vì phải đứng lên thường xuyên để dán tiền đồng lên xe mà cuối cùng ông đã tự đứng được Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. một mình rồi... đi lại được. Từ đó ông và chiếc xe của ông trở thành biểu tượng của chiến thắng bệnh tật. Còn câu chuyện tiếp sau đây lại do Dale Carnegie kể. Chuyện về một người tên là Ben Fortson ở thành phố Atlanta. Ông này vốn là công nhân bị tai nạn nghề nghiệp mất cả hai chân năm 24 tuổi. 14 năm sau đó là quãng thời gian ông ngồi "nghiền nát" hơn 1000 cuốn sách. Ông trở nên mê văn học, âm nhạc và chuyên tâm nghiên cứu chính trị, kinh tế xã hội. Cuối cùng ông đã trở thành thống đốc bang Georgie (Hoa Kỳ) vào những năm giữa của thế kỷ 20. Khi được phỏng vấn rằng ông có coi tai nạn năm 24 tuổi là một "đại nạn" của đời mình không, ông Ben trả lời ngay là không, hơn thế nữa, còn là điều may bởi vì nhờ đó mà ông được ngồi đọc sách, được trưởng thành nhờ trí tuệ của nhân loại và đã thành công. Con người ai cũng có được và mất. Ca sĩ Hồng Nhung thường nhắc lời bà nội: Trời chẳng cho không ai cái gì bao giờ. Trời cho cái này lại lấy đi cái khác. Vậy thì việc gì phải mặc cảm khi ta gặp điều "không may", việc gì phải thở than cho cảnh ngộ thêm bi thảm hơn. Biết sử dụng những lợi thế của mình để thành công - đó là việc bình thường mà ai cũng làm được. Nhưng biết dùng ngay cả những bất lợi của mình để thành công thì đó mới thực sự là người thông minh và tin yêu cuộc sống này. (Trích “Hoa mọc trên sỏi đá” – Đoàn Công Lê Huy) Câu 1: Xác định PCNN và phương thức biểu đạt của văn bản? (0.5 điểm) Câu 2: Nêu nội dung chính của đoạn trích? (0.5 điểm) Câu 3: Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn trích? Tác dụng của việc sử dụng thao tác lập luận ấy? (1.0 điểm) Câu 4: Anh (chị) có đồng ý với quan điểm của tác giả: biết dùng ngay cả những bất lợi của mình để thành công thì đó mới thực sự là người thông minh và tin yêu cuộc sống này? Trình bày ý kiến của mình trong khoảng 5 – 7 dòng (1.0 điểm) Câu 5 (2.0 điểm): Anh (chị) nhận được thông điệp gì từ văn bản? Viết 1 đoạn văn khoảng 200 chữ bày tỏ suy nghĩ và hành động của anh (chị) trước “được” và “mất” trong cuộc sống? ĐỀ 10: Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu : Mỗi người trên thế giới đều là những người khách bộ hành, mỗi ngày đều bước đi một cách chủ động hoặc bị động trên con đường mình đã chọn .. Cuộc đời không chỉ là con đường đi khó, đôi khi chúng ta còn gặp phải những hố sâu do người khác tạo ra, gặp phải sự tấn công của thú dữ, mưa bão và tuyết lạnh. Bất luận gian khổ thế nào, chỉ cần chúng ta còn sống, chúng ta còn phải đối mặt. Sống tức là thực hiện một cuộc hành trình không thể trì hoãn . Trước muôn vàn lối rẽ, không ai có được bản đồ trong tay, cũng không phải ai cũng có kim chỉ nam dẫn đường, tất cả đều phải dựa vào phán đoán và lựa chọn của bản thân. Nếu bạn rẽ nhầm lối, khoảng cách với xuất phát điểm sẽ bị rút ngắn ngược lại, nếu rẽ đúng, con đường phía trước sẽ bằng phẳng, rộng rãi. (Trích Bí quyết thành công của Bill Gates, Khẩm Sài Nhân, NXB Hồng Đức) Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn bản trên. Câu 2: Chỉ ra hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Cuộc đời không chỉ là con đường đi khó, đôi khi chúng ta còn gặp phải những hố sâu do người khác tạo ra, gặp phải sự tấn công của thú dữ, mưa bão và tuyết lạnh. Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2
- CHUYÊN ĐỀ 1: PHẠM VI ÔN TẬP TNTHPT MÔN NGỮ VĂN 12. Câu 3: Anh/Chị hiểu như thế nào về câu nói: Nếu bạn rẽ nhầm lối, khoảng cách với xuất phát điểm sẽ bị rút ngắn ngược lại, nếu rẽ đúng, con đường phía trước sẽ bằng phẳng, rộng rãi. Câu 4: Thông điệp nào trong đoạn trích có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Câu 5: (2,0 điểm) Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về chủ đề: Cuộc sống không bao giờ hết những thử thách. ĐỀ 11: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: “Cuộc đời không phải lúc nào cũng là những ngày xuân ấm áp. Bóng tối có thể sẽ bao phủ trước lúc bình minh mang ánh sáng hạnh phúc đến tâm hồn ta. Cuộc đời sẽ có những đớn đau tuyệt vọng, và ta cần biết đón nhận chúng. Nỗi tuyệt vọng trong quá trình hồi sinh có thể là biểu hiện của sự từ bỏ lối sống tiêu cực để học cách sống tích cực hơn. Chúng ta vốn không phải là những con người hoàn hảo mà chỉ đang trên đường học làm người hoàn hảo. Vì vậy, ta cần có những trải nghiệm để thực sự giao hòa với cuộc sống này. Nếu tìm cách phủ nhận cảm giác đau đớn tuyệt vọng nơi tâm hồn, ta sẽ vô tình ngăn mình chạm đến những niềm vui ngọt ngào nhất. Có thể bạn không nhận ra, nhưng sau nỗi tuyệt vọng luôn có niềm hạnh phúc. Cuộc sống luôn ẩn chứa sự sắp đặt tuyệt diệu trong những sự việc dường như là khó khăn nhất. Vì thế, hãy tin tưởng rằng luôn có ánh sáng ở cuối đường hầm, luôn có bài học quý cùng những phép màu lặng lẽ sau những khó khăn, luôn có sự tự do sau những tháng ngày tâm hồn bị bó buộc và luôn có sự bình yên sau những nhiễu động. Tất cả những trải nghiệm mà chúng ta va vấp trong cuộc sống đều mang lại những ý nghĩa nhất định nào đó. Và hãy nhớ rằng ngay cả khi tầm mắt của ta không thể thấu tỏ thì vũ trụ này vẫn sinh sôi.” (Trích Quên hôm qua sống cho ngày mai – Tian Dayton) Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản? Câu 2. Theo tác giả, vì sao “ta cần có những trải nghiệm để thực sự giao hòa với cuộc sống này”? Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về câu nói: “Cuộc đời không phải lúc nào cũng là những ngày xuân ấm áp”? Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan niệm: “luôn có ánh sáng ở cuối đường hầm, luôn có bài học quý cùng những phép màu lặng lẽ sau những khó khăn”? Vì sao? Câu 5. (2,0 điểm):Từ nội dung đoạn trích , anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về cách vượt qua nỗi tuyệt vọng trong cuộc sống? ĐỀ 12: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: (1) Ứng xử là thái độ, hành vi, lời nói thích hợp trong quan hệ giao tiếp giữa người với người, giữa người với thiên nhiên. Thuật ngữ văn hóa đặt trước ứng xử có nghĩa là tô đậm chiều cao phẩm chất, chiều rộng quan hệ của người ứng xử. Có con người là có cách ứng xử giữa họ với nhau, giữa họ với môi trường sống. Nhưng văn hóa ứng xử được hình thành từ khi văn minh phát triển ở một cấp độ nào đó nhằm diễn đạt cách ứng xử con người đối với thiên nhiên, đối với xã hội và đối với chính mình... (2) Ở các nền văn hóa khác nhau có hệ chuẩn không giống nhau, nhưng vẫn có giá trị chung. Đó là sống có lý tưởng, trung với nước, hiếu với cha mẹ, tình thương đối với đồng bào, trung thực với bạn bè, giữ chữ tín trong mọi quan hệ. Trong văn hóa phương Đông, Khổng tử khuyên mọi người tu tâm dưỡng tín với sáu chữ: nhất nhật tam tĩnh ngô thân. Đối với người Gv: Nguyễn Thị Hạnh Trường THPT Yên Dũng số 2

