Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 12
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_hoc_ki_i_ngu_van_12.doc
Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 12
- ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KÌ I MÔN NGỮ VĂN LỚP 12 PHẦN I: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC BÀI 1:TÂY TIẾN ( Quang Dũng) 1.Tác giả Quang Dũng -Là nghệ sĩ đa tài: làm thơ , vẽ tranh, sáng tác nhạc.... -Phong cách: hồn hậu, lãng mạn, tài hoa 2.Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ: - Bài thơ được viết ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây) trong nỗi nhớ và tình cảm đồng đội thôi thúc cuối năm 1948, lúc QD rời xa đơn vị chưa lâu. Bài thơ ban đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, sau đổi lại là Tây Tiến.. 3. Nội dung bài thơ a. Nhớ chặng đường hành quân trên cái nền cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc: - Đoạn thơ mở đầu bằng nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi, Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.” + Kiểu câu cảm thán và thán từ “ơi” gợi một nỗi nhớ không kìm nén nổi trong lòng, bật lên thành tiếng gọi thiết tha, trìu mến. + Cụm từ “Nhớ chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ. Đó là một nỗi nhớ mênh mông, vô tận - Bức tranh hoành tráng của cảnh núi rừng Tây Bắc trong nỗi nhớ của nhà thơ: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi, Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Nhà thơ liệt kê các địa danh tiêu biểu: Sài Khao, Mường Lát gợi lên sự xa xôi, hẻo lánh, hoang vu. “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”: Sương dày đặc như muốn ngăn cản bước chân, che lắp bóng dáng đoàn quân Tây Tiến. Câu thơ nhiều thanh bằng, nhẹ nhàng: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” gợi lên vẻ đẹp của núi rừng (những người lính bắt gặp những cánh hoa rừng nở trong đêm đêm đầy sương) nhưng khắc nghiệt (đêm hơi). “Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Điệp từ “dốc” + từ láy “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” + nhiều thanh trắc diễn tả lại chặng đường hành quân đầy khó khăn, trắc trở. “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” Cách nói đùa vui tinh nghịch “Súng ngửi trời” + trí tưởng tượng mạnh mẽ (người lính hành quân lên núi cao, súng như chạm tới trời): dù gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” 1
- Nhịp thơ 4/3 + nghệ thuật đối, câu thơ như bẻ đôi vẽ lại hình ảnh hai dốc núi vút lên cao rồi đổ xuống rất nguy hiểm, tạo cảm giác rợn người. “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Câu thơ toàn thanh bằng: gây ấn tượng những ngôi nhà như bồng bềnh trên biển khơi tạo vè đẹp lãng mạn. “Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người” Những tên miền đất lạ (Mường Hịch), những hình ảnh giàu giá trị gợi hình (thác gầm thét, cọp trêu người): Càng làm tăng thêm vẻ hoang vu của miền đất dữ; các chiến sĩ Tây Tiến thường xuyên đối mặt với nguy hiểm - Hình ảnh người lính hy sinh trong cuộc hành quân “Anh bạn dói dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Trên chặng đường hành quân gian khổ, nhiều người lính đã ngã xuống vì kiệt sức nhưng dường như vẫn chưa chịu rời bỏ cuộc hành quân cùng đồng đội (chỉ “bỏ quên đời” khi chân “không bước nữa”). - Trong cảnh heo hút của núi rừng, bỗng xuất hiện hình ảnh: “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khúi, Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”. + Sau bao nhiêu gian khổ, những người lính tạm dừng chân trong một bản làng nào đó, quây quần bên nhau bên cạnh nồi cơm dẻo thơm. + Nếp Mai Châu vốn đó thơm, hương nếp đầu mùa càng thêm thơm, lại được trao từ tay em: làm giảm bớt sự căng thẳng, mệt nhọc. Bằng biện pháp hiện thực và trữ tình đan xen, đoạn thơ đó dựng lại con đường hành quân giữa núi rừng Tây Bắc hiểm trở. Ở đó đoàn quân Tây Tiến đó trải qua cuộc hành quân đầy gian khổ nhưng cũng ấm áp tình người. b. Vẻ đẹp của con người và thiên nhiên: - Nhớ những đêm liên hoan văn nghệ ấm áp tình quân dân: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa...... Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” + Cụm từ “Bừng lên hội đuốc hoa” gợi lên cảnh doanh trại sáng bừng bởi ánh đuốc, tưng bừng bởi tiếng nhạc, khèn, điệu múa. + Hai chữ “Kìa em” diễn tả sự sung sướng, ngạc nhiên của các chàng trai Tây Tiến. + Bức tranh đầy âm thanh, màu sắc: Những cô gái miền Tây bất ngờ xuất hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy.Dáng vẻ dịu dàng, tình tứ trong điệu múa hát cùng tiếng nhạc . Tất cả đó thu hút hồn vía của các chiến sĩ. 2
- - Cảnh sông nước mênh mang, mờ ảo: “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy, ...........Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” - Âm điệu : Nhịp nhàng, trữ tình, thiết tha gợi kỷ niệm êm đềm. + Những từ ngữ “chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ” vẽ lại cảnh thiên nhiên hoang sơ, vắng lặng như thời tiền sử + Nổi bật trên dòng sông huyền thoại, cổ tích ấy là dáng hình mềm mại, uyển chuyển của những con người trên chiếc thuyền độc mộc. + Như hoà hợp với con người, những cánh hoa rừng cũng “đong đưa”, làm duyên trên dòng nước lũ. Chất thơ và chất nhạc hoà quyện: không chỉ làm hiện lên vẻ đẹp của thiên nhiên mà cũng gợi lên cảnh và người hòa hợp. c. Vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của người lính Tây Tiến : - Hình tượng người lính Tây Tiến xuất hiện với một vẻ đẹp đậm chất bi tráng: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ........ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” + Hình ảnh chọc lọc: “không mọc tóc” gợi ra sự thật nghiệt ngã nhưng đậm chất ngang tàng của người lính Tây Tiến. + Hình ảnh “Quân xanh màu lá” gợi lên dáng vẻ xanh xao tiều tuỵ vì sốt rét nhưng vẫn toát lên dáng vẻ oai như những con hổ chốn rừng thiêng, làm nổi bật tính cách dũng cảm của người lính. + Sự oai phong lẫm liệt cũng được thể hiện qua ánh mắt “Mắt trừng”: ánh mắt dữ dội, rực cháy căm hờn, mang mộng ước giết kẻ thù. + Nét đẹp lãng mạn trong tâm hồn người lính Tây Tiến:“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Từ ngữ trang trọng khi nói về vẻ đẹp các cô gái Hà Nội: bên trong cái dáng vẻ oai hùng, dữ dằn là trái tim, là tâm hồn khao khát yêu đương - Vẻ đẹp về sự hi sinh của người lính Tây Tiến: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ ....... Sông Mã gầm lên khúc độc hành” + Các từ Hán Việt cổ kính, trang trọng “biên cương, mồ viễn xứ” tạo không khí trang trọng, âm hưởng bi hùng làm giảm đi hình ảnh của những nấm mồ chiến sĩ nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, hoang vu. + Vẻ đẹp bi tráng cũn được thể hiện qua khí phách người lính: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” 3
- Lí tưởng anh hùng lãng mạn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết tâm hiến dâng sự sống cho đất nước. “Áo bào .... khúc độc hành” Từ ngữ ước lệ “Áo bào” gợi lên vẻ đẹp bi tráng của sự hi sinh: những cái chết của đồng đội giữa chiến trường thành sự hi sinh rất sang trọng của người anh hùng chiến trận. - Biện pháp nói giảm: “anh về đất” làm vơi đi sự bi thương khi nói về cái chết của người lính Tây Tiến. - Biện pháp cường điệu: Sông Mã ... độc hành Thiên nhiên đó tấu lên khúc nhạc hùng tráng đưa tiễn người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến ra đi trong khúc nhạc vĩnh hằng Bằng những câu thơ mang âm hưởng bi tráng, đoạn thơ khắc họa chân dung người lính từ ngoại hình đến nội tâm, đặc biệt là tính cách hào hoa lãng mạn – Những con người đó làm nên vẻ đẹp hào khí của một thời. BÀI 2: VIỆT BẮC (Tố Hữu) 1.Hoàn cảnh sáng tác: + Sau chiến thắng lịch sử ĐBP, hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lặp lại hoà bình ở ĐD được kí kết. Theo tinh thần của hiệp định, tháng 10 năm 1954, thực dân Pháp buộc phải rút quân khỏi miền Bắc VN. Vào thời điểm này, các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Chính phủ sẽ rời VB để về tiếp quản thủ đô HN. Tại VB sẽ diễn ra một cuộc chia tay lịch sử, một cuộc chia tay dạt dào kỉ niệm. Nhân sự kiện lịch sử trọng đại ấy TH đã viết bài thơ VB. 2. Nội dung bài thơ 2.1- 20 Câu thơ đầu a. Khung cảnh chia li: Bịn rịn lưu luyến Sáng tạo của nhà thơ, cái cớ để nhà thơ bộc lộ cảm xúc. b.Tâm trạng của kẻ ở người đi * Bốn câu đầu: Lời của người ở lại - Hỏi hai lần trực tiếp bộc lộ tâm trạng lo lắng, bồn chồn, băn khoăn - Nhắc: + Thời gian: 15 năm dài trong gắn bó tình cảm thiết tha mặn nồng + Không gian: cây- núi, sông – nguồn . Cội nguồn cách mạng, đạo lí truyền thống * Bốn câu sau: Tâm trạng của người ở lại - Từ ngữ; tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn .Tâm trạng lưu luyến, vấn vương - Hình ảnh: + áo chàm: hoán dụ chỉ ngườ dân VB + Cầm tay-biết nói gì: bịn rịn không nỡ xa rời - Nhịp điệu: 3/3/2 nghẹn ngào không nói nên lời c. Những câu thơ tiếp * Nhớ những ngày tháng gian khổ mà nghĩa tình - Cuộc sống, chiến đấu thiếu thốn, gian khổ nhưng tình nghia thủy chung. * Nhớ vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc - Cảnh vật núi rừng Việc Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa mơ mộng: “Nhớ gì ..vơi đầy”. 4
- + Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu” Nỗi nhớ thật da diết, mãnh liệt, cháy bỏng. + Điệp từ “nhớ” được đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể: nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng, sông suối mang những cái tên thân thuộc. => Nỗi nhớ bao trùm khắp cả không gian và thời gian. - Đẹp nhất trong nỗi nhớ là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người: Ta về mình có nhớ ta .............. Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. + Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp đa dạng, sinh động, thay đổi theo từng mùa: Mùa xuân: trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống với “mơ nở trắng rừng” Mùa hè: rực rỡ, sôi động với âm thanh “rừng phách đổ vàng” Mùa thu: yên ả, thanh bình, lãng mạn với hình ảnh “trăng rọi hoà bình” Mùa đông: tươi tắn, không lạnh lẽo với hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi” + Gắn bó với thiên nhiên là những con người bình dị: Người đi làm nương rẫy (Ngày xuân ... trắng rừng) Người khéo léo trong công việc đan nón (Nhớ người ... sợi giang) Người đi hái măng giữa rừng tre nứa (Nhớ cô ... một mình) Bằng những việc làm nhỏ bé, họ góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. - Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp: + Hình ảnh “Hát hiu lau xám, đậm đà lòng son” Tuy họ nghèo về vật chất nhưng lại giàu về nghĩa tình. + Hình ảnh người mẹ: “Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô” nỗi xót xa về cuộc sống cơ cực của đồng bào miền núi. + Những tháng ngày: “Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” Họ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với người cán bộ kháng chiến. => Âm hưởng trữ tình tạo khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình yêu thương đồng chí, đồng bào, tình yêu thiên nhiên, đất nước. 2.2- Khung cảnh hùng tráng của VB trong chiến đấu, vai trò của VB trong cách mạng và kháng chiến a. Khung cảnh hùng tráng của VB trong chiến đấu: - Bức tranh Việt Bắc ra quân hùng vĩ : Những đường Việt Bắc của ta ........................ ngày mai lên. + Những hình ảnh không gian rộng lớn, những từ láy (rầm rập, điệp điệp, trùng trùng), biện pháp so sánh (như là đất rung), cường điệu (bước chân nát đá), biện pháp đối lập (Nghìn đêm >< mai lên), những động từ (rấm rập, đất rung, lửa bay) 5
- diễn tả được khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp: không khí sôi động với nhiều lực lượng tham gia, những hoạt động tấp nập + Âm hưởng hùng ca, mang tính sử thi của đoạn thơ thể hiện được sức mạnh của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. - Dân tộc ấy vượt qua bao khó khăn, thử thách, hi sinh để đem về những kì tích: + “Tin vui thắng trận trăm miền. ..... núi Hồng” + “Ai về ai có nhớ không? .... Nhị Hà ” Liệt kê những chiến công gắn liền với những địa danh lịch sử. - Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn đã làm nên chiến thắng: + Đó là sức mạnh của lòng căn thù: “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” + Đó là sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi” + Sức mạnh của tình đoàn kết: “Nhớ khi ........ một lòng” Khối đại đoàn kết toàn dân (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”), sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên (Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây): tất cả tạo thành hình ảnh một đất nước đứng lên tiêu diệt kẻ thù. 3. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc: a. Về thể loại: - Cấu tứ bài thơ là cấu tứ ca dao với hai nhân vật trữ tình “ta” và “mình”, người ra đi, người ở lại đối đáp nhau. - Sử dụng kiểu tiểu đối của ca dao: + “Mình về rừng núi nhớ ai, Trám bùi để rụng,/ măng mai để già.” + “Điều quân ... mở đường.” Tác dụng: + Nhấn mạnh ý + Tạo nhịp thơ uyển chuyển, cân xứng, hài hoà + Lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, cân xứng hài hoà. b. Về ngôn ngữ: - Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất mộc mạc, giản dị nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào nghĩa tình. - Đó là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể: “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” “Nắng trưa rực rỡ sao vàng” + Ngôn ngữ giàu nhạc điệu: “Chày đêm nện cối đều đều suối xa” “Đêm đêm rầm rập như là đất rung” - Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của dân gian: + “Mình về, mình có nhớ ta” “Mình về, có nhớ chiến khu” 6
- tạo giọng điệu trữ tình thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỷ niệm và tình nghĩa thuỷ chung. BÀI 3: ĐẤT NƯỚC (Nguyễn Khoa Điềm ) ( Trích Mặt đường khát vọng) 1/Vài nét về nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm : - NKĐ sinh năm 1943 trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và CM ở huyện Phong Điền tỉnh TT - Huế. Sau khi tốt nghiệp trường ĐHSP Hà Nội năm 1964, ông trở lại miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên thành phố Huế. NKĐ từng giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Nhà nước. Năm 2006, ông nghỉ hưu, về sống tại Huế và tiếp tục làm thơ. - Thơ NKĐ cuốn hút người đọc bằng cảm xúc trữ tình nồng thắm và chất suy tư sâu lắng. Ông cất lên tiếng nói của một người trí thức thiết tha gắn bó với quê hương, giàu ý thức trách nhiệm với nhân dân, đất nước. 2/ Trường ca “Mặt đường khát vọng": - Được hoàn thành ở chiến khu BTT năm 1971 (in lần đầu năm 1974) - Viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền Nam về non sông đất nước, về sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hoà nhịp với cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược. 3/ Đoạn trích “Đất Nước”: *. Xuất xứ: - Phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng” * Nội dung: 1. Phần 1: Những nét riêng trong cảm nhận của tác giả về đất nước: a. Cội nguồn đất nước: Đất nước + có từ những cái ngáy xửa ngày xưa mẹ thường hay kể: những câu chuyện cổ tích – văn học dân gian + miếng trầu bà ăn: sinh hoạt hàng ngày + lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc: truyền thống đánh giặc + tóc mẹ búi sau đầu: phong tục, tập quán + cha mẹ thương nhau: tình nghĩa thủy chung + cái kèo cái cột: SVbình thường + Hạt gạo: đức tính cần cù chăm chỉ + Nguyễn Khoa Điềm giúp ta cảm nhận đất nước một cách thật gần gũi + Đất nước có lịch sử lâu đời, giàu truyền thống tốt đẹp: văn hóa, đánh giặc, lao động Đất nước được cảm nhận từ chiều sâu văn hoá và lịch sử. b. Bản chất của đất nước * Đất nước là sự thống nhất hài hòa giữa không gian địa lí và thời gian lịch sử: - Về không gian địa lí: Tác giả chia tách khái niệm đất nước thành hai yếu tố đất và nước để cảm nhận và suy tư về đất nước một cách sâu sắc: + Đất nước là nơi tình yêu đôi lứa nảy nở: “Đất là nơi anh đến trường 7
- đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm + Đất Nước bao gồm cả núi sông, rừng bể: “Đất là nơi móng nước biển khơi”. Hình ảnh gợi không gian mênh mông: Niềm tự hào về đất nước trù phú, giàu đẹp, tài nguyên vô tận. + Đất Nước cũng chính là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ: Từ quá khứ (Những ai đã khuất), hiện tại (Những ai bây giờ), đến các thế hệ tương lai (Dặn dò con cháu chuyện mai sau) + Tất cả đều không quên nguồn cội: “Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ. - Mạch thơ thể hiện những suy ngẫm về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với Đất Nước: - Đất Nước không ở đâu xa mà có mặt trong mỗi con người: “Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước” Mỗi người Việt Nam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước. + Đất nước là sự hài hoà hợp trong nhiều mối quan hệ: cá nhân với cá nhân (“Khi hai đứa cầm tay nhau - Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm), cá nhân với cộng đồng (Khi chúng ta cầm tay mọi người - Đất Nước vẹn tròn to lớn”) Đất nước được xây dựng trên cơ sở của tình yêu thương và tình đoàn kết dân tộc. - Vì vậy, mỗi con người cần có trách nhiệm đối với đất nước: “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời” Điệp ngữ “phải biết”, những từ ngữ “máu xương”, “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân”, cách xưng hô thân mật “Em ơi em”, giọng thơ ngọt ngào tha thiết như lời tâm sự, nhắn gửi chân thành dành cho thế hệ trẻ cũng như bản thân mình. - Là phần đầu chương V của bản trường ca, được xem là một trong những đoạn thơ hay về đề tài đất nước trong thơ VN hiện đại. - Thể hiện những quan niệm hết sức mới mẻ và độc đáo của tác giả về đất nước trong chiều sâu văn hoá - lịch sử và trong cuộc sống đời thường của mỗi người. - Tư tưởng cốt lõi của nhận thức về đất nước trong đoạn thơ là tư tưởng “Đất Nước của Nhân Dân”. Nó quy tụ mọi cách nhìn về lịch sử, địa lý, văn hoá của đất nước. 2. Phần 2: Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân”: a. Những phát hiện mới mẻ về không gian – lãnh thổ - địa lí của đất nước: “Những người vợ nhớ chồng Bà Đen, Bà Điểm” Dưới cái nhìn của NGuyễn Khoa Điềm, thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hoá mà còn được hình thành từ cuộc đời và số phận của nhân dân, từ: người vợ 8
- nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, người học trò nghèo, đến những người dân vô danh được gọi bằng những cái tên mộc mạc như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm. - Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát: “ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.” Theo tác giả: Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng khắp mọi miền của đất nước đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân, của những con người bình thường, vô danh. b.Trên phương diện thời gian - lịch sử cũng chính nhân dân, những con người bình dị, vô danh đã “Làm nên đất nước muôn đời”: + Chính vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị: Có biết bao người con gái con trai Nhưng họ làm ra đất nước Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên Đất Nước là nét mới mẻ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm c.Trên phương diện văn hoá, cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc: Họ giữ và truyền cho ta hái trái” + Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh” Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ. + Chính những con người “giản dị và bình tâm” “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau mọi giá trị tinh thần và vật chất của Đất nước từ “hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói đến cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân. - Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù: “Có ngoại xâm vùng lên đánh bại” Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình. - Điểm hội tụ và cũng là cao điểm của cảm xúc trữ tình trong đoạn thơ là ở câu: “Để cho Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”. + Khi nói đến “Đất Nước của nhân dân”, tác giả mượn văn học dân gian để nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của đất nước: “Đất Nước của ca dao thần thoại” + Từ nền văn học dân gian, nhà thơ đã khám phá ra những vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc: Họ là những con người yêu say đăm và thuỷ chung: “Dạy anh yêu em từ thuở trong nôi”, Quý trọng nghĩa tình (Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội) Quyết liệt trong chiến đấu với kẻ thù (Biết trồng tre đợi ngày thành gậy - Đi trả thù mà không sợ dài lâu) - Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với những điệu hò: “Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu 9
- Mà khi về Đất Nước mình bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi” như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhìêu cung bậc của bản trường ca về Đất Nước. * Nghệ thuật: Sử dụng chất liệu văn học dân gian: ca dao, thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, thành ngữ, tục ngữ, sự phong phú linh hoạt của giọng điệu. BÀI 4: SÓNG ( Xuân Quỳnh) 1/Vài nét về nhà thơ Xuân Quỳnh : - XQ thuộc số những nhà thơ lớp đầu tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước, là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của thơ ca VN hiện đại. Thơ XQ in đậm dấu ấn riêng của một tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, hóm hỉnh mà đằm thắm, sâu sắc, thiết tha gắn bó với cuộc đời. Đặc biệt, thơ tình XQ toát lên vẻ đẹp tự nhiên, dung dị. Hình tượng người phụ nữ trong thơ chị luôn được khắc hoạ với sự chân thành và mãnh liệt trong khát vọng tình yêu, với niềm trân trọng, nâng niu hạnh phúc của đời thường. 2/ Tác phẩm a. Hoàn cảnh sáng tác: - Sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). - Là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. - In trong tập Hoa dọc chiến hào (1968). b. Nội dung: b.1. Những cảm xúc, suy nghĩ về sóng biển và tình yêu: - Khổ 1: + Tiểu đối: Dữ dội - dịu êm; ồn ào - lặng lẽ mở đầu bằng 4 tính từ: Miêu tả trạng thái đối lập của sóng và liên tưởng đến tâm lí phức tạp của người phụ nữ khi yêu (khi sôi nổi, mãnh liệt khi dịu dàng, sâu lắng). + Phép nhân hoá: “Sông - không hiểu mình” “Sóng - tìm ra bể” Con sóng mang khát vọng lớn lao: Nếu “sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp để “tìm ra tận bể”, tìm đến nơi cao rộng, bao dung. => Hành trình “tìm ra tận bể” của sóng cúng chính là quá trình tự khám phá, tự nhận thức, chính bản thân, khát khao sự đồng cảm, đồng điệu trong tình yêu.. - Khổ 2: + Quy luật của sóng: Sóng: ngày xưa, ngày sau: vẫn thế sự trường tồn của sóng trước thời gian: vẫn dạt dào, sôi nổi. + Quy luật của tình cảm: “Khát vọng tình yêu - bồi hồi trong ngực trẻ” 10
- Tình yêu là khát vọng lớn lao, vĩnh hằng của tuổi trẻ và nhân loại. => Xuân Quỳnh đã liên hệ tình yêu tuổi trẻ với con sóng đại dương. Cũng như sóng, con người đã đến và mãi mãi đến với tình yêu. Đó là quy luật muôn đời. b.2 Sóng và cội nguồn cuả tình yêu đôi lứa: - Khổ 3: Điệp từ: “em nghĩ” và câu hỏi: “Từ nơi nào sóng lên” quay về lòng mình, nhu cầu tìm hiểu, phân tích, khám phá tình yêu - Khổ 4: Đi tìm câu hỏi tu từ cho câu hỏi ở khổ 3: Câu hỏi tu từ: Gió bắt đầu từ đâu? Khi nào ta yêu nhau? XQ dựa vào quy luật tự nhiên để truy tìm khởi nguồn của tình yêu nhưng nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu đều bất ngờ, đầy bí ẩn, không thể lí giải. Đây là cách cắt nghĩa tình yêu rất chân thành và đầy nữ tính. - Khổ 5: Nỗi nhớ + Bao trùm cả không gian: «sóng dưới lòng sâu, sóng trên mặt nước » + Thao thức trong mọi thời gian: «ngày đêm không ngủ được» Phép đối, giọng thơ dào dạt, náo nức, mãnh liệt : diễn tả nỗi nhớ da diết, không thể nào nguôi, cứ cuồn cuộn, dào dạt như sóng biển triền miên. + Sóng nhớ bờ mãnh liệt, tha thiết, còn em nhớ anh đắm say hơn bội phần : «Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức» Cách nói cường điệu nhưng hợp lí : nhằm tô đậm nỗi nhớ (choáng ngợp cõi lòng không chỉ trong ý thức mà thấm sâu vào trong tiềm thức). Bày tỏ tình yêu một cách chân thành, tha thiết mà mạnh dạn, mãnh liệt. - Khổ 6: Lòng chung thuỷ + Cách nói khẳng định: em: dẫu xuôi - phương bắc; dẫu ngược - phương nam, em: vẫn « Hướng về anh một phương » Lời thề thủy chung tuyệt đối trong tình yêu: dù đi đâu về đâu vẫn hướng về người mình đang thương nhớ đợi chờ. + Các điệp ngữ: « dẫu xuôi về, dẫu ngược về » + điệp từ « phương » + các từ « em cũng nghĩ, hướng về anh » Khẳng định niềm tin đợi chờ trong tình yêu. - Khổ 7: Bến bờ hạnh phúc. + Mượn hình ảnh của sóng: « Sóng ngoài đại dương » - « Con nào chẳng tới bờ » quy luật tất yếu. + Sóng tới bờ dù cách trở: Tình yêu là sức mạnh giúp em và anh vượt qua gian lao, thử thách để đạt đến bến bờ hạnh phúc. => XQ thể hiện cái tôi của một con người luôn có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu. 11
- b.3 Sóng và khát khao tình yêu vĩnh cửu: - Khổ 8: Những từ ngữ diễn tả quan hệ đối lập : « ... tuy ... (nhưng) ... » « ... dẫu ... (nhưng) ... » Cuộc đời - dài >< Năm tháng - đi qua Sự nhạy cảm và âu lo, phấp phỏng về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúc - Khổ 9: Dùng từ chỉ số lượng lớn : Làm sao tan ra → trăm con sóng → ngàn năm còn vỗ + Khao khát được sẻ chia, hoà nhập vào cuộc đời. + Khát vọng được sống hết mình trong biển lớn tình yêu, muốn hoá thân vĩnh viễn thành TY muôn thuở. Khát vọng khôn cùng về tình yêu bất diệt. d. Nghệ thuật: - Kết cấu tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em. - Nhịp điệu tự nhiên, linh hoạt - Ngôn từ, hình ảnh trong sáng, giản dị hội tụ nhiều nét tiêu biểu trong phong cách thơ XQ BÀI 5: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ ( Nguyễn Tuân) 1. Tác giả Nguyễn Tuân: - Nguyễn Tuân là một tri thức giàu lòng yêu nước và nặng tình dân tộc. - Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao, ông viết văn để khẳng định cá tính độc đáo của mình. - Là người ham du lịch và có lối sống phóng túng. Nguyễn Tuân cũng là người rất mực tài hoa, ông không chỉ viết văn mà còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... - Nguyễn Tuân là một nhà văn rất quý trọng nghề nghiệp, coi trọng cái tài, cái tâm, biết giữ nhân cách của người cầm bút. - Sau cách mạng, Nguyễn Tuân trở thành cây bút tiêu biểu của văn học cách mạng, say sưa viết về cuộc sống mới, con người mới trong kháng chiến và trong xây dựng. Nhà văn đã có những đống góp to lớn cho nền văn học của dân tộc. => Nguyễn Tuân là một nhà văn có vị trí quan trọng và có những đóng góp to lớn đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. 2. Tác phẩm: 2.1. Xuất xứ: In trong tập “Tùy bút Sông Đà”(1960) - Hoàn cảnh ra đời: Kết quả của của chuyển đi thực tế Tây Bắc vừa thoả mãn thú phiêu lãng vừa tìm kiếm vẻ đẹp thiên nhiên và chất vàng mười “thứ vàng được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động và chiến đấu vùng Tây Bắc. 2.2. Hình tượng con sông Đà a. Hình ảnh con sông Đà hung bạo: - Địa hình hiểm trở: + Vách đá dựng đứng, cao vút “đá bờ sông dựng vách thành”.Mặt sông đúng ngọ mới thấy mặt trời .Vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu -> so sánh quan sát, hình dung:khoảng cách nhẹ tưởng như đứng từ bờ này ném một nhẹ hòn đá sang bờ bên kia 12
- tác giả còn truyền cho người đọc một ấn tượng: ngồi trong khoang đò cảm thấy lạnh nhà văn nói cái lạnh, cái hẹp, cái tối của vách đá bờ sôngđể tôn lên sự hung vĩ hiểm trở của lòng sôngĐà quãng lòng sông hẹp -> Quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng, sinh động càng trở nên kì ảo và lí thú nhờ vào nét tài hoa mà N. Tuân vốn có. + Những cái hút nước sâu ghê gớm: “như cái giếng bê tong thả xuống song để chuẩn bị làm móng cầu’’ + Những thác nước dữ dội: “ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Tưởng tượng xuất thần của nhà văn về cú lia ngược của chiếc máy bay bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày đang xem ” + Âm thanh ghê gợn của thác nước luôn luôn thay đổi: mới oán trách nỉ non chuyển sang khiêu khích, chế nhạo, rống lên, gấm thét, “Nó vẫn rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Người đọc có thể cảm nhận được sự lồng lộn, giận dữ của con sông qua một thứ ngôn từ có sức sống có màu sắc -> Hấp dẫn người đọc: vẻ đẹp luôn luôn kì lạ và biến đổi,giác quan thính nhạy của ôngđã thu nhận được sau những chuyến đi gian khổ dọc theo một dải sông Đà . + Đá ngầm bày thạch trận nguy hiểm “Cả một chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục chết trong lòng sông ( ) nhổm cả dậy vồ lấy thuyền” .Sóng giao việc cho mỗi hòn với đá tướng, đá quân, những tường vây chờ con thuyền sơ hở để đưa vào cửa tử chết chóc + Nước còn reo hò vang dậy làm thanh viện cho đá, bẻ gãy cán chèo cán chèo võ khí trên tay ông đò, đánh miếng đòn hiểm cả khi thua mặt hòn đá cũng đáng sợ: cái mặt xanh lè vì thất vọng + Diện mạo sông Đà “trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một”, của con người. Bằng thứ ngôn ngữ giàu chất tạo hình, gợi hình, những lien tưởng kì thú, táo bạo,khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức của nhiều ngành nghề nhiều lĩnh vực: nghệ thuật, võ thuật,quân sự ,những câu văn có sức nén ,sức dồn, độ căng, độ giãn giúp nguyễn Tuân miêu tả một cách sinh động, ám ảnh, ấn tượng về con sông hung bạo. người đọc có thể hình dung con sông Đà như có một linh hồn, một thứ thiên nhiên mà có nhiều lúc Nguyễn Tuân nói: trông nó thành” diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số một” của con người tây Bắc, gợi liên tưởng tới câu đồng giao về thần sông, thần núi trong truyện cổ tích: “Núi cao sông hãy còn dài/Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen.” Cảm giác về sự hung bạo của dòng sông Đà: Thiên nhiên quả có sức hấp dẫn đối với Nguyễn Tuân, một nhà văn luôn đi sâu tìm những cảm giác mới lạ, mãnh liệt, những phong cảnh cực kì dữ dội. b. Hình ảnh sông Đà trữ tình: + Dáng dịu dàng, mềm mại “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình nương xuân ”. Sau này, Nguyễn Tuân tiếp tục so sánh “Sông Đà như một áng tóc tuôn dài ngàn ngàn, vạn vạn sải”->Chỉ một so sánh độc đáo ấy, Nguyễn Tuân làm hiện lên trước mắt người đọc hình ảnh một con sông có vẻ đẹp kiều diễm, duyên dáng, thướt tha như một thiếu nữ mà khói núi, mây trời Tây Bẳc trang điểm làm diễm lệ thêm vẻ đẹp của dòng sông. + Màu nước trong sáng, gợi cảm, một nét riêng hết sức cá tính: “màu ngọc bích” , 13
- “lừ lừ chín đỏ”. Cách gọi tên màu sắc con sông của Nguyễn Tuân quả là thực chính xác, ấn tượng. có lẽ NT yêu sông Đà bởi màu sắc của nó: trong ra trong đục ra đục chứ không lờ lờ canh hến như ở những con sông khác. + Con sông Đà gợi cảm: - Không khí êm đềm, lặng lờ, tĩnh lặng, cảnh sông nước tươi tắn, gợi cảm đầy sức sống, như một cố nhân: “Dãy sông Đà bọt nước lênh bênh - bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết”. - Con sông gợi những niềm thơ: màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt” trong thơ Lí Bạch. - Niềm vui khi gặp lại dòng sông: Sông Đà hiền hòa,êm đềm, thơ,mộng, cảnh thuyền trôi từ tửtên dòng song, cảnh ven song lặng tờ như cài êm đềm có từ ngàn xưa nguyên sơ, thanh bình tươi sáng yên tĩnh thanh vắng. Tác giả như dẫn người đọc vào một thế giới cổ tích, như trở về khoảnh khắc của thời tiền sử, hoang dại, hồn nhiên Cảnh vật được cảm nhận bởi tâm hồn nghệ sĩ, giàu cảm xúc, trí tưởng tượng phong phú , tâm hồn yêu thiên nhiên, giàu sức liên tưởng. Cách viết sống động, tài hoa, uyên bác, vận dụng nhiều tri thức nhiều ngành để mô tả. 2.3 Hình ảnh người lái đò + Lai lịch: già 70 tuổi, dành phần lớn đời mình cho nghề lái đò sông Đà. + Thân hình rắn chắc “Cái đầu quắc thước ấy đặt trên một cái thân hình cao to và gọn quánh như chất sừng chất mun”. + Tính cách Từng trải, thành thạo nghề sông nước, nắm được qui luật biến đổi, “tính tình phức tạp” của sông Đà với những trùng vi thạch trận, lối đánh vu hồi, boong ke chìm, pháo đài nổi + Gan dạ, bản lĩnh, dũng cảm, thông minh, tài hoa, xử lý tình huống nguy hiểm chính xác, linh hoạt. * Trùng vi thạch trận 1: - Bọn đá đứa “ hất hàm”, đứa “thách thức”, mặt nước “hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sông nước “đá trái thúc gối vào bụng, vào hông thuyền”. - Tư thế ung dung, tự tin, hiên ngang, lạc quan đối đầu với nguy hiểm,“bị thương nhưng cố nén, hai chân kẹp chặt cuống lái, mặt méo bệch” nhưng” tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo” . * Trùng vi thạch trận 2: Tài năng vượt thác cao cường nắm chắc quy luật của thần sông, thần đá, ông lái đò thay đổi chiến thuật “cưỡi lên thác sông Đà như cưỡi hổ” à thông minh đầy kinh nghiệm. * Trùng vi thạch trận 3: - Sông Đà sắp đặt bên phải, bên trái là luồng chết, luồng sống ở giữa. - Người lái đò “phóng thẳng thuyền chọc thẳng cửa giữa, vút thuyền như mũi tên tre xuyên thẳng qua hơi nước”. * Tâm hồn yêu thiên nhiên, say mê cái đẹp: Sau vượt thác ông lái đò ung dung như một nghệ sĩ “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ”. * Nghệ thuật: - Nhân vật được xây dựng trong mối tương quan với hoàn cảnh để làm nổi bật phẩm 14
- chất - Sử dụng tri thức hội họa, điện ảnh, võ thuật, quân sự tài hoa để diễn tả sinh động tài nghệ nhân vật . - NT ca ngợi khả năng tuyệt trong công việc chinh phục thiên nhiêncủa con người tây bắc, ca ngợi con người Việt Nam trong quá trính xây dựng cuộc sống mới - Ông lái đò là hình ảnh tuyệt đẹp về con người anh hùng lao động bình thường nhưng tài ba, trí dũng được Nguyễn Tuân dành nhiều tình cảm đằm thắm. Thể hiện đậm nét phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. BÀI 6: AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ( Hoàng Phủ Ngọc Tường) 1. Tác giả: + Sinh 1937 tại TP. Huế; là trí thức yêu nước gắn bó sâu sắc với thành phố Huế quê hương. + Quê gốc ở Quảng trị, sống, học tập và hoạt động cách mạng ở Huế -> cuộc đời tác giả gắn liền với Huế nên tình cảm, tâm hồn thấm đẫm nền văn hoá của mảnh đất này. + Phong cách nghệ thuật: Là cây bút uyên bác, giàu chất trí tuệ. Tài hoa, trí tưởng tượng phong phú lãng mạn đậm chất thơ. Lối viết hướng nội, xúc tích, có chiều sâu văn hoá, cảm hứng nhân văn. 2. Tác phẩm : 2.1. Hoàn cảnh sáng tác, vị trí đoạn trích - Hoàn cảnh ra đời: Bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? viết 1981, in trong tập sách cùng tên, đoạn trích nằm ở phần thứ nhất của tác phẩm. 2.2. Nội dung đoạn trích: Ca ngợi vể đẹp của sông Hương từ nhiều góc độ: từ thượng nguồn tới khi qua kinh thành Huế; từ tự nhiên lịch sử đến văn hóa nghệ thuật. Qua đó ca ngợi thành phố Huế và rộng hơn là ca ngợi quê hương đất nước. 2.3. Vẻ đẹp của dòng Sông Hương 2.3.1. Vẻ đẹp được phát hiện từ cảnh sắc Thiên Nhiên. * Từ Thượng nguồn: - Khi qua dãy Trường Sơn hùng vĩ. + Sông Hương là bản tình ca của rừng già. Rầm rộ và mãnh liệt Dịu dàng và say đắm . -> Sự hợp âm của những nốt bổng, nốt trầm để mãi ngân nga vang vọng giữa đại ngàn của Trường Sơn. + Sông Hương như một cô gái Di gan phóng khoáng man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản tính gan dạ, một tâm hồn tự do, phóng khoáng. Cũng chính rừng già nơi đây đã chế ngự sức mạnh bản năng của người con gái Sông Hương -> Vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại. - Khi ra khỏi rừng già. + Đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng + Mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở -> Vẻ đẹp đầy bí ẩn, sâu thẳm của dòng sông. Nhận xét: Bằng óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, bằng việc sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hoá tài hoa, táo bạo, HPNT đã phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp mạnh mẽ, 15
- trẻ trung đầy cá tính của dòng sông, gợi lên ở người đọc những liên tưởng kì thú gợi cảm xác đáng đầy sức hấp dẫn. * Về Châu thổ: - Sông Hương tìm đến Huế. + Chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Từ ngã ba Tuần -> chảy theo hướng Nam -Bắc qua Hòn Chén. Chuyển hướng sang Tây- Bắc vòng qua Nguyệt Biều , Lương Quán. Đột ngột rẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc , ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. -> Như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi gặp thành phố tương lai của nó. + Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo vô cùng. Qua Tam Thai, vọng cảnh: Dòng sông mềm như tấm lụa Dòng Sông như 1tấm gương phản chiếu màu sắc Đến vùng rừng thông u tịch, lăng tẩm của vua chúa triều Nguyễn: Dòng sông mang vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc như triết lí, như cổ thi. Tới ngoại ô Kim Long: vẻ đẹp tươi vui . Nhận xét: Sông Hương qua cái nhìn đầy lãng mạn của HPNT như 1 cô gái dịu dàng mơ mộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu theo tiếng gọi vang vọng từ trái tim. Với N Thuật so sánh cân đối, hài hoà đậm chất thơ, với sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng, nhà văn đã khắc hoạ được vẻ đẹp dòng sông huyền ảo, lung linh sắc màu, người đọc đặc biệt ấn tượng về vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính của Sông Hương gắn với thành quách lăng tẩm của vua chúa thủơ trước. Chọn những hình ảnh so sánh, những câu văn giàu màu sắc, tạo hình và ấn tượng * Cuộc gặp gỡ giữa Sông Hương – Huế + Sông Hương và Huế hoà vào làm một, HS làm nên vẻ mộng mơ của Huế, Huế làm nên vẻ đẹp trầm tư sâu lắng của Sông Hương. + Sông Hương giảm hắn lưu tốc, xuôi đi thực chậm yên tĩnh, khát vọng được gắn bó, lưu lại mãi với mảnh đất nơi đây. Nhận xét: Cuộc gặp gỡ của Huế và Sông Hương được tác giả cảm nhận như cuộc hội ngộ của tình yêu. Sông Hương được HPNT khám phá, phát hiện từ góc độ tâm trạng: Sông Hương gặp thành phố như đến với điểm hẹn của tình yêu sau 1 hành trình dài trở nên vui tươi và mềm mại. Sông Hương qua NT so sánh đầy mới lạ, bất ngờ trở nên có linh hồn, sự sống như một cô gái si tình đang say đắm trong tình yêu. *Chọn những hình ảnh, chi tiết đặc sắc để bình: Cầu Tràng Tiền = Vành trăng non. S.Hương uốn cong = tiếng vang không nói ra Lưu tốc S.Hương = Slow tình cảm dành cho Huế. - Tạm biệt Huế để ra đi trong sự lưu luyến, bịn rịn của đôi tình nhân trong chia biệt. Gợi liên tưởng đến mối tình Kim Trọng- Thuý Kiều. Sông Hương giống như nàng Kiều trong đêm tình tự với chàng Kim với nỗi vấn vương, lẳng lơ, kín đáo của tình yêu, như tấm lòng chung tình của người dân nơi Châu Hoá với quê hương xứ sở. 1. Vẻ đẹp văn hoá của dòng sông - Dòng sông âm nhạc : + là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. + Là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc cổ điển của Huế. 16
- + Là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều. - Dòng sông thi ca -> 1 dòng sông thơ ca không lặp lại mình. + Là vẻ đẹp mơ màng “Dòng sông trắng lá cây xanh” trong thơ Tản Đà. + Vẻ đẹp hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” của Cao Bá Quát. + Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu -> Sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các thi nhân. - Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế. + Màn sương khói trên Sông Hương = màu áo điền lục, 1 sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng. + Vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương cũng như 1 nét riêng trong vẻ đẹp tâm hồn của người xứ Huế: “rất dịu dàng và rất trầm tư ” 2.3.3. Dòng Sông Hương với lịch sử hào hùng của mảnh đất cố đô. * Là 1 dòng sông anh hùng: - Từ xa xưa: là 1 DS biên thuỳ xa xôi của đất nước của các vua Hùng. - Thời trung đại: + Dòng Linh Giang đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ biên giới phía nam tổ quốc Đại Việt. + Vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ. - Thời chống Pháp: + Sống hết lịch sử bi tráng với máu của các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương. + Đi vào thời đại CMT8 với những chiến công rung chuyển. - Thời chống Mĩ: + Góp mình vào chiến dịch Mùa xuân 1968 Mậu Thân. * Sông Hương cùng với thành phố Huế cũng chịu nhiều đau thương mất mát: - Sông Hương là dòng sông có bề dày lịch sử như 1 người con gái anh hùng, khi tổ quốc gọi nó tự biết hiến đời mình làm 1 chiến công. Sông Hương là dòng sông của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. - Sử thi mà trữ tình, bản hùng ca mà cũng là bản tình ca dịu dàng tươi mát. Đó là nét độc đáo của xứ Huế, của Sông Hương được tác giả khám phá và khắc hoạ từ góc độ lịch sử. 2.4. Nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” - Mang nghĩa hỏi: Chính nội dung bài kí là câu trả lời, 1 câu trả lời dài như 1 bài kí ca ngợi vẻ đẹp, chất thơ của dòng sông có cái tên cũng rất đẹp và phù hợp với nó: Sông Hương. - Mang tính chất biểu cảm. + Là cái cớ để nhà văn đi vào miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông Hương gắn với mảnh đất cố đô cổ kính tươi đẹp. + Thể hiện tình cảm ngỡ ngàng ngưỡng mộ thái độ trân trọng ngợi ca của tác giả với dòng sông Hương, thành phố Huế thân yêu. Vì quá yêu mà bật thành câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông>” 2.5. Hình tượng cái tôi của tác giả: - Tình yêu thiết tha đến say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi xứ Huế. - Phong cách viết kí của HPNT: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, địa lí, lịch sử và giàu chất trữ tình lãng mạn. 2.6. Tổng kết: 17
- - Cảm nhận và hiểu được vẻ đẹp của Huế, của tâm hốn người Huế qua sự quan sát sắc sảo của HPNT về dòng sông Hương-> HPNT xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. - Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quê hương đất nước. BÀI 7: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP-Hồ Chí Minh- 1.Nội dung bản tuyên ngôn độc lập 1.1. Hoàn cảnh ra đời - Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Trên toàn quốc nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền. Ngày 26 - 8 -1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập. - Ngày 2 – 9 – 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam mới. 1.2.Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn -. Tác giả Hồ Chí Minh trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ (1776) và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp (1791). - Ý nghĩa của việc trích dẫn - Vừa đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo và của văn minh nhân loại, vừa tạo tiền đề cho lập luận sẽ nêu ở mệnh đề tiếp theo. - Tăng sức thuyết phục: tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới. Ngầm vạch ra sự sai trái trong âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. - Tăng tính chiến đấu: dùng kiểu lập luận “gậy ông đập lưng ông”, dùng lời nói của tổ tiên nước Pháp để nói về thực dân Pháp hiện tại. - Sự sáng tạo: từ quyền bình đẳng và tự do của con người được khẳng định trong hai bản tuyên ngôn, tác giả suy rộng ra quyền bình đẳng và tự do của các dân tộc trên thế giới.. Nếu tuyên ngôn của Mĩ và Pháp xuất phát từ quyền lợi tự nhiên (tạo hóa) để khẳng định quyền sống của con người, thì tác giả Hồ Chí Minh lại xuất phát từ chủ quyền của mỗi dân tộc để khẳng định quyền lợi của dân tộc đó. Đặt ba cuộc cánh mạng, ba nền độc lập, ba bản tuyên ngôn ngang hàng, bình đẳng nhau. * Cách lập luận khéo léo, kiên quyết, ý tưởng sâu sắc trên cơ sở pháp lý được quốc tế công nhận. 1.3 Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn * Tố cáo tội ác của thực dân Pháp - Thực dân Pháp đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta là “trái với nhân đạo và chính nghĩa”. - Về chính trị: + Không cho nhân dân ta quyền tự do dân chủ. + Thi hành luật pháp dã man, lập ra ba chế độ khác nhau... + Lập nhà tù nhiều hơn trường học + Chém giết những người yêu nước 18
- + Tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu + Thi hành chính sách ngu dân Dùng thủ đoạn thâm độc để tiêu diệt ý chí chiến đấu của người Việt Nam. - Về kinh tế: + Bóc lột... + Độc quyền... + Đặt ra hàng trăm thứ thuế... + Không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên,... Dùng nhiều biện pháp dãn man để tiêu diệt sức mạnh chiến đấu của người Việt Nam. - Sử dụng biện pháp liệt kê, điệp từ “chúng” vang lên mạnh mẽ, đầy phẫn nộ để liệt kê những tội ác tày trời, chồng chất của thực dân Pháp, xé nát chiêu bài bịp bợm mà chúng đã tung ra: công lao “khai hóa”, quyền “bảo hộ” cho nhân dân ta. Thực chất của cái gọi là “khai hóa” chỉ là chém giết, là tù tội, là khủng bố. Đoạn văn như một bản cáo trạng đanh thép với những chứng cứ hùng hồn không thể chối cãi. - Tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong 5 năm (1940 – 1945): + Nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật, hơn hai triệu đồng bào bị chết đói, bán nước ta hai lần cho Nhật. + Giết tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ hùng hồn, lời lẽ đanh thép tác giả đã vạch trần thái độ nhục nhã, đê hèn của thực dân Pháp. * Quá trình đấu tranh và nổi dậy giành chính quyền - Bản tuyên ngôn khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. - Hàng loạt câu văn được viết theo hình thức lặp kết cấu cú pháp để nhấn mạnh: + Sự thật là... + Sự thật là... 1.4. Tuyên bố nền độc lập - Những luận điệu khác của các thế lực phản cách mạng quốc tế cũng bị phản bác mạnh mẽ bằng những chứng cớ xác thực, đầy sức thuyết phục. - Từ những cứ liệu lịch sử hiển nhiên, bản tuyên ngôn nhấn mạnh các thông điệp quan trọng: + Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ hết mọi đặc quyền của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam. + Kêu gọi toàn dân Việt Nam đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp. + Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. - Ý nghĩa của phần tuyên bố độc lậpTuyên bố về ý chí kiên quyết bảo vệ quyền độc lập, tự do của toàn dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền... quyền tự do, độc lập ấy”. PHẦN 2: CẤU TRÚC DẠNG ĐỀ ĐỌC HIỂU VÀ ĐOẠN VĂN 200 CHỮ Đề 1 I.Đọc hiểu Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi: 19
- “ Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi? Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi ! Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ Sông của miền Nam nước Việt thân yêu” (Nhớ con sông quê hương-Tế Hanh) Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên? Câu 2: Phân tích hiệu quả của việc sử dụng biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau: Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng Câu 3: Tác giả bộc lộ tình cảm, cảm xúc gì trong đoạn thơ? Câu 4: Hình ảnh dòng sông trong đoạn thơ mang những ý nghĩa gì? II.Đoạn văn Câu 1: Từ vấn đề nêu ra trong đoạn văn bản trên, anh (chị) hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ về vai trò của quê hương đối với mỗi con người.? Đề 2 I.Đọc hiểu Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu: Trong dòng đời vội vã có nhiều người dường như đã quên đi tình nghĩa giữa người với người. Nhưng đã là cuộc đời thì đâu phải chỉ trải đầy hoa hồng, đâu phải ai sinh ra cũng có được cuộc sống giàu sang, có được gia đình hạnh phúc toàn diện mà còn có nhiều mảnh đời đau thương, bất hạnh cần chúng ta chia sẻ, giúp đỡ. Chúng ta đâu chỉ sống riêng cho mình, mà còn phải biết quan tâm tới những người khác. Đó chính là sự cho và nhận trong cuộc đời này. “Cho” và “nhận” là hai khái niệm tưởng chừng như đơn giản nhưng số người có thể cân bằng được nó lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng có thể nói “những ai biết yêu thương sẽ sống tốt đẹp hơn” hay “đúng thế, cho đi là hạnh phúc hơn nhận về”. Nhưng tự bản thân mình, ta đã làm được những gì ngoài lời nói? Cho nên, giữa nói và làm lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Hạnh phúc mà bạn nhận được khi cho đi chỉ thật sự đến khi 20

