Đề cương ôn tập Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Thơ trữ tình hiện đại Việt Bắc-Tố Hữu

pdf 28 trang An Diệp 08/06/2026 230
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Thơ trữ tình hiện đại Việt Bắc-Tố Hữu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_ngu_van_12_chuyen_de_tho_tru_tinh_hien_dai_v.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập Ngữ văn 12 - Chuyên đề: Thơ trữ tình hiện đại Việt Bắc-Tố Hữu

  1. THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI VIỆT BẮC – TỐ HỮU A. Giới thiệu - Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, Hiệp định Giơ –ne – vơ về Đông Dương được kí kết, hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lãnh đạo cuộc kháng chiến, tháng 10/1954, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử này, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. - Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tác phẩm được chia làm hai phần: phần đầu tái hiện giai đoạn gian khổ nhưng vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trử thành những kỉ niệm sâu nặng trong lòng người; phần sau nói về sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong viễn cảnh đất nước hòa bình và ca ngợi công ơn của Đảng, của Bác đối với dân tộc. - Đoạn trích là phần đầu của bài thơ. B. Đọc-hiểu I.Cảm nhận chung về đoạn thơ: - Kết cấu :Theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao → tạo sự hô ứng đồng vọng ; đậm chất dân gian.
  2. - Cách xưng hô: Mình –Ta → Cặp từ đối ứng quen thuộc trong ca dao. Cặp từ này cứ quấn quýt, xoắn quyện lấy nhau, chuyển hóa cho nhau, tuy hai mà một đã góp phần thể hiện sâu đậm ý tưởng nội dung. - Thể thơ lục bát ➔Hình thức thể hiện chất dân tộc đậm đà. - Cảm hứng chủ đạo: *Nhớ :(Xuất hiện 35 lần trong toàn bài ). Điệp từ này xuất hiện với một tần số lớn đã thể hiện được nỗi nhớ da diết, mênh mang cồn cào với nhiều sắc thái khác nhau trong tâm trạng của chủ thể trữ tình. *Toàn bài thơ là tiếng hát ân tình thủy chung của người cán bộ Cách mạng đối với nhân dân, với truyền thống CM. II. Tìm hiểu đoạn trích: 1. Cuộc chia tay lưu luyến thấm đượm nghĩa tình:(8 câu đầu) * Người ở lại: +Lên tiếng trước thể hiện sự nhạy cảm với hoàn cảnh đổi thay và với nghĩa tình đằm thắm thiết tha. +Nhắc lại thời gian gắn bó:15 năm gắn với lịch sử cách mạng, đủ dài cho lòng người nhận rõ lòng người và gắn bó thiết tha. +Nhìn hiện tại nhớ dĩ vãng, nhìn hiện vật nhớ người đã xa. Đó là quy luật của tình cảm →Lời nhắc nhở khởi phát từ mối tình sâu nặng. *Người ra đi : + Lắng nghe tha thiết. Tâm trạng xúc động bâng khuâng bồn chồn . → Chuyện ân tình cách mạng được Tố Hữu thể hiện như tình yêu đôi lứa. + Nỗi lưu luyến, bịn rịn không muốn rời (Chú ý: hoán dụ, từ láy, hành động,lí giải sự không thể mở lời của người đi) 2. Hoài niệm thiết tha về cảnh vật, con người và cuộc kháng chiến: Trong nỗi nhớ của nhân vật trữ tình, thiên nhiên, con người Việt Bắc với cuộc k/c gian khổ mà hào hùng đã hiện lên thật rõ nét. a. Thiên nhiên Việt Bắc: - Dữ dội: Mưa nguồn, suối lũ, những mây cùng mù, nắng cháy lưng -Thơ mộng: Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương -Tươi mát, mĩ lệ: bức tranh tứ bình hiện ra với các gam màu tươi tắn rực rỡ: +Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi(đông) +Mơ nở trắng rừng (xuân) -Ve kêu rừng phách đổ vàng (hạ) -rừng thutrăng rọi hòa bình (thu)
  3. →Thiên nhiên với các thời điểm: bốn mùa, với không gian: sương sớm, nắng chiều, trăng khuya ùa về trong nỗi nhớ. Đó là nỗi nhớ khó tả, sâu đậm thể hiện sự yêu quí và gắn bó với cảnh vật thiên nhiên việt bắc. +Anh hùng: Thiên nhiên cùng tham gia vào cuộc k/c : Núi giăng thành lũy sắt dày, Rừng che bộ đội rừng vây quân thù. b. Con ngườiViệt Bắc: -Vất vả, gian lao nhưng sâu nặng nghĩa tình: . Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son . Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn suiđắp cùng. + Đẹp trong lao động, hòa mình vào thiên nhiên: (Ta về mình có nhớ ta ân tình thủy chung) - Cứ mỗi câu lục tả cảnh mỗi mùa, gắn với một loài hoa rực rỡ sắc màu thì lại đan xen một câu bát tả người với vẻ đẹp cần cù, siêng năng, lạc quan, giao hòa với thiên nhiên và ân tình thuỷ chung. →hai hình ảnh này tôn vinh vẻ đẹp cho nhau. c. Cuộc kháng chiến: *Gian khổ nhưng lạc quan, hào hùng: +Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo +Khí thế hào hùng, khẩn trương, sức mạnh vô địch :Những đường Việt Bắc đêm đêm rầm rập như là đất rung, điệp điệp trùng trùng, dân công đỏ đuốc từng đoàn, đèn pha bật sáng +Khí thế chiến thắng:thể hiện qua tin vui liên tiếp bay về:Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên → Bút pháp anh hùng ca: giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng; từ láy; so sánh; hình ảnh đẹp hào hùng. *Bên hình ảnh nhân dân anh hùng, hình ảnh Trung ương, chính phủ và Bác Hồ cũng lung linh tỏa sáng: + “Nắng trưa rực rỡ sao vàng/ Trung ương chính phủ luận bàn việc công” chính là h/a đầu não của cuộc k/c, là trái tim của cả nước, đề ra những nhiệm vụ những phong trào cấp thiết. +Có sự đồng nhất giữa BácHồ với VB, với Cách mạng ( sáng soi, nuôi chí bền, dựng nên ) =>Bức tranh sử thi hoành tráng ngợi ca sức mạnh chủ nghĩa yêu nước, nhân dân anh hùng.
  4. -Đoạn thơ ngập tràn cảm xúc, chất hiện thực và chất lãng mạn đan xen vào nhau, tạo nên vẻ đẹp vừa đằm thắm, vừa hoành tráng →Mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. C. Tổng kết - Nội dung: Đoạn trích là khúc hồi tưởng ân tình về Việt Bắc trong những năm cách mạng và kháng chiến gian khổ; bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến. - Nghệ thuật: + Bài thơ đậm đà tính dân tộc: thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp, cách xưng hô mình – ta + Ngôn ngữ và hình ảnh đậm sắc thái dân gian C. PHÂN TÍCH MỘT SỐ ĐOẠN THƠ TIÊU BIỂU. 8 CÂU ĐẦU: KHUNG CẢNH CHIA TAY VÀ TÂM TRẠNG CỦA CON NGƯỜI Cất lên tiếng nói đầu tiên trong cuộc chia tay là lời ướm hỏi của người ở lại đối với người ra đi: “-Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?” Người ở lại ướm hỏi, khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội nghĩa tình, qua đó thể hiện tâm trạng của mình. Bốn câu thơ tạo thành hai cặp lục bát, chia thành hai câu hỏi. Trong câu hỏi đầu tiên “Mình về mình có nhớ ta” thì “mình” là chỉ người ra đi- người cán bộ kháng chiến về xuôi, “ta” là chỉ người ở lại-người Việt Bắc. Cặp đại từ “mình-ta” thường xuất hiện trong nhiều bài ca dao-dân ca, nhất là ca dao giao duyên, có kết cấu hỏi-đáp, để nói về tình cảm riêng tư, tình yêu đôi lứa: -“Mình về có nhớ ta chăng Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” -“Mình về ta chẳng cho về Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ” -“Mình nói với ta mình hãy còn son Ta đi qua ngõ thấy con mình bò” Ở đoạn thơ này, mượn cách xưng hô “ta-mình” quen thuộc trong ca dao kết hợp với việc sử dụng động từ “nhớ”, Tố Hữu đã mang lại cho lời thơ âm điệu trữ tình ngọt ngào, thể hiện được tình cảm gắn bó thắm thiết giữa người dân Việt Bắc với người cán bộ về xuôi. Người ở lại đã khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, đó là “Mười lăm năm ấy”.15 năm là thời gian được đánh dấu từ mốc khởi nghĩa Bắc Sơn 1940 cho đến khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lặp lại 1954. Trong “mười lăm năm ấy”, Việt Bắc đã làm tròn sứ mệnh của một căn cứ địa cách mạng. Đó là những tháng
  5. ngày cùng nhau chịu bao gian khổ, cay đắng, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Cụm từ “thiết tha mặn nồng” đã nói lên sự ân tình, gắn bó đó. Đến câu hỏi tiếp theo, điệp khúc “Mình về mình có nhớ... ” lại được lặp lại như lời nhắc nhở chân tình, lời dặn dò kín đáo mà rất đỗi thiết tha. Các hình ảnh “cây, núi, sông, nguồn” gợi lên không gian quen thuộc của núi rừng Việt Bắc, nơi đã gắn bó với hai người. Việt Bắc chính là cội nguồn Cách mạng, là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến. Vì vậy người về xin đừng quên nguồn cội. Đó chính là đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta. c.Không phải ngẫu nhiên mà trong cuộc chia tay này, tác giả đã để cho người ở lại lên tiếng trước. Dường như người ở lại nhạy cảm trước sự đổi thay của hoàn cảnh và sợ rằng người bạn của mình khi về thành phố sẽ quen với “ánh điện cửa gương” (Nguyễn Duy) mà quên mất ánh trăng thuở nào, quên mất những tháng ngày cùng nhau đồng cam cộng khổ. Vì vậy, lời người ở lại còn là sự khẳng định mãi mãi giữ trọn tấm lòng thủy chung của mình dù cho hoàn cảnh có đổi thay. Đây là tâm trạng thật, là nghĩa tình sâu nặng của đồng bào với cách mạng. Bao trùm cả đoạn thơ chính là nỗi nhớ khôn nguôi giữa “ta” và “mình” (điệp từ “nhớ” được lặp lại 4 lần). Nếu bốn câu thơ đầu là lời của người ở lại thì bốn câu sau là tiếng lòng của người ra đi: « -Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay » Người ra đi không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại mà im lặng lắng nghe « tha thiết ». Đây cũng là một cách đáp lại bằng lời đồng vọng để « tiếng ai » ngân vang mãi trong lòng mình như tiếng nói tri ân. Từ láy « thiết tha » trong lời nhắn nhủ của « ta » ở đoạn thơ trước đã khéo léo được đồng vọng bởi cảm xúc « tha thiết » trong khổ thơ này. Kẻ ở người đi thực sự tâm đầu ý hợp, trái tim có lẽ đã hòa chung một nhịp nên mới có sự thấu hiểu, đồng điệu như vậy. Đại từ “ai” phiếm chỉ nhưng lại rất cụ thể, chỉ người dân Việt Bắc, gợi sự gần gũi, thân thương. Nó gợi nhắc bao áng ca dao, dân ca da diết, nhớ thương, nhung nhớ : Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai Hoặc Ai đi muôn dặm non sông Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy Mặc dù tình cảm của người ra đi không được nói lên trực tiếp bằng lời nhưng lại được diễn tả bằng sự “bâng khuâng” trong tâm trạng và sự “bồn chồn” trong bước chân đi. Các từ láy « bâng khuâng », « bồn chồn » được đặt ở 2 vế cân xứng trong câu thơ tám chữ, hài hòa, đồng điệu với nhau để thể hiện cảm xúc xao xuyến, nhớ thương, lưu luyến, bịn rịn, không nỡ rời xa...trong lòng người ra đi. Đáng chú ý là hình ảnh “Áo chàm đưa buổi phân li”. “Áo chàm” không đơn thuần để chỉ màu áo quen thuộc của người dân Việt Bắc (áo nhuộm màu chàm) mà
  6. còn là hình ảnh hoán dụ chỉ toàn thể nhân dân Việt Bắc trong ngày đưa tiễn những đồng chí cách mạng về xuôi. Đó là những con người nghèo khổ “hắt hiu lau xám” nhưng luôn “đậm đà lòng son” thủy chung, mặn nồng. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” đầy tính chất biểu cảm. “Biết nói gì hôm nay ”, không phải là không có gì để nói nhưng xúc động, nghẹn ngào không thốt được nên lời. Những lời không nói ấy có lẽ đã nằm hết trong ba chữ “Cầm tay nhau”. “Cầm tay” là biểu tượng của tình yêu thương đoàn kết. “Cầm tay” là đã đủ nói hết bao cảm xúc trong lòng rồi. Mặt khác, ba dấu chấm lửng đặt ở cuối câu như càng tăng thêm cái tình cảm mặn nồng ấy. Nhịp thơ 3/3/2 diễn tả thần tình một thoáng ngập ngừng của nỗi lòng bâng khuâng, bịn rịn lúc chia tay. Có khác nào nỗi li biệt của những đôi lứa yêu nhau thắm thiết : Nhủ rồi lại nhủ cầm tay Bước đi một bước giây giây lại dừng (Chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn) Đoạn thơ đã dựng lên trước mắt chúng ta khung cảnh của một cuộc chia li, tiễn biệt giữa người đi- kẻ ở và tâm trạng nổi bật trong cả hai người là sự nhớ nhung, lưu luyến, bịn rịn, không nỡ rời xa. Lối kết cấu đối đáp và cặp đại từ xưng hô « mình-ta » cùng thể thơ lục bát quen thuộc trong ca dao mang lại cho lời thơ âm điệu trữ tình ngọt ngào...đã diễn tả thành công trạng thái tình cảm nhớ thương, bịn rịn đó. Đây là một trong những đoạn thơ hay và độc đáo của bài thơ. Tố Hữu đã rất thành công khi diễn tả một tình cảm lớn (tình nghĩa giữa nhân dân với cách mạng) thông qua hình thức trữ tình, đậm màu sắc truyền thống. Đoạn thơ cho chúng ta thấy các nét đặc trưng trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu : Trữ tình chính trị và đậm đà tính dân tộc. BỨC TRANH TỨ BÌNH TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình – nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi. Và cứ thế sợi nhớ sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi "Ta – mình" của đôi lứa yêu nhau. Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết "Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn". Vâng! Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ như tiếng nhạc ngân nga với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ quên được. "Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình
  7. Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung" Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị thơ ông diễn tả những tình cảm cách mạng thật nhẹ nhàng mà cũng thật đậm sâu. Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954 khi Trung ương Đảng và Chính phủ Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã "Thủ đô gió ngàn" về với "Thủ đô Hoa vàng nắng Ba Đình". Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Nhưng có lẽ để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong bài ca Việt Bắc có lẽ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình với bốn mùa xuân – hạ – thu – đông. Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ: "Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người" Câu thơ đầu tiên sử dụng câu hỏi tu từ "mình có nhớ ta" câu thơ thứ hai là tự trả lời điệp từ "ta" lặp lại bốn lần cùng với âm "a" là âm mở khiến câu thơ mang âm hưởng ngân xa tha thiết nồng nàn. Với Tố Hữu người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ "bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng" mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của "hoa cùng người". Ở đây hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc, còn người là con người Việt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son. Hoa và người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt độc đáo của vùng đất này. Chính điều ấy đã tạo nên cái cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ. Trong bốn cặp lục bát còn lại câu sáu dành cho nhớ hoa nhớ cảnh câu tám dành cho nhớ người. Cảnh và Người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn. Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương da, cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng đến với Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thì thật lạ. Mùa đông bỗng ấm áp lạ thường: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Điểm xuyết trên cái nền màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời. Từ xa trông tới bông hoa như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét màu sắc vừa đối lập vừa hài hòa vừa cổ điển vừa hiện đại. Cái màu "đỏ tươi" – gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng. Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” Từ liên tưởng ấy ta thấy mùa đông trong thơ Tố Hữu cũng lan tỏa hơi ấm của mùa hè chứ không lạnh lẽo hoang sơ bởi màu đỏ của hoa chuối cũng như đang phun trào từ giữa màu xanh của núi rừng.
  8. Cùng hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên núi làm nương phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung cấp cho kháng chiến "Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng". Trước thiên nhiên bao la con người dường như càng trở nên kỳ vĩ hùng tráng hơn. Ở đây nhà thơ không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất. Đó là ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng. Ở đây câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí một tư thế đẹp nhất - "đèo cao". Con người đang chiếm lĩnh đỉnh cao chiếm lĩnh núi rừng tự do "Núi rừng đây là của chúng ta/ Trời xanh đây là của chúng ta". Đây là tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang, con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc. Đông qua xuân lại tới. Nhắc đến mùa xuân ta liên tưởng ngay đến sức sống mới của cỏ cây hoa lá của trăm loài đang cựa mình thức dậy sau mùa đông dài. Mùa xuân Việt Bắc cũng vậy: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng trong trẻo tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng: "Ngày xuân mơ nở trắng rừng". Cụm từ "trắng rừng" được viết theo phép đảo ngữ và từ "trắng" được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá và làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng bâng khuâng dịu mát của hoa mơ. Động từ "nở" làm sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống. Đây không phải là lần đầu tiên Tố Hữu viết về màu trắng ấy năm 1941 Việt Bắc cũng đón bác Hồ trong màu sắc hoa mơ: “Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ” Mùa xuân càng trở nên tươi tắn hơn nữa bởi sự xuất hiện của hình ảnh con người với hoạt động "chuốt từng sợi giang". Con người đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày. Từ "chuốt" và hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay của con người lao động: cần mẫn tỉ mẩn khéo léo tài hoa nhanh nhẹn chăm chút đó cũng chính là phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc. Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve bức tranh Việt Bắc lại sống động hơn bao giờ hết: “Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình” Thời điểm ve kêu cũng là thời điểm rừng phách đổ vàng. Động từ "đổ" là động từ mạnh diễn tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè. Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài
  9. niệm nên lung linh ánh sáng màu sắc và rộn rã âm thanh. Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật. Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ. Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc. Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến: "Nhớ cô em gái hái măng một mình". Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình thơ mộng gần gũi thân thương tha thiết. Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó ẩn chứa biết bao niềm cảm thông trân trọng của tác giả. Thu sang khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu mát: "Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung" Không gian bao la tràn ngập ánh trăng đó là ánh trăng của tự do của hòa bình rọi sáng niềm vui lên từng núi rừng từng bản làng Việt Bắc. Ta cũng từng biết đến mùa thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu: “Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu Ấy tin thắng trận liên khu báo về” Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát. Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình. Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắc của núi rừng của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha mặn nồng. Vâng! Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng và khép lại đoạn thơ bằng tiếng hát "ân tình thủy chung" gợi cho người về và cả người đọc những rung động sâu xa của tình yêu quê hương đất nước. Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị vừa cổ điển vừa hiện đại đoạn thơ trên của Tố Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc. Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau làm cho bức tranh trở nên gần gũi thân quen sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi. Chất tình ca trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Một trong những đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu là tính trữ tình – chính trị sâu sắc. Việt Bắc là bài thơ mang đậm đặc điểm phong cách này. Cũng bởi vậy mà Việt Bắc không chỉ là khúc hùng ca về cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta, 150 câu thơ ấy cũng là khúc tình ca của con người kháng chiến. Tháng 10 năm 1954, sau khi chiến dịch ĐIện Biên Phủ thắng lợi vẻ vang,những người kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, Trung ương Đảng và
  10. Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. Bài thơ đã làm sống lại cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Sức mạnh của nhân dân hòa vào âm điệu hào hùng của đoàn quân ra trận làm nên sức mạnh của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến thần tốc: “Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp, trùng trùng Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”. Một hình tượng đất nước đứng lên như sống dậy sau mỗi câu thơ. Những con đường Việt Bắc, những nẻo đường cách mạng rộng trải thênh thang. Trên con đường ấy, cả nước cùng ra trận. Từ những đêm Việt Bắc, những đường Việt Bắc đó một cảm hứng lãng mạn bay bổng về tương lai tươi sáng của dân tộc chói lòa: Nghìn đêm thăm thẳm sương dày/ Đèn pha bật sáng như ngày mai lên. Vẫn trong cảm hứng lãng mạn cách mạng đó, sức mạnh dân tộc được cất cánh hóa thành những vần thơ reo vui: “Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”. Tình ca là khúc ca về tình yêu. Khúc tình ca trong bài thơ Việt Bắc chính là những cung bậc tình cảm, cảm xúc của Tố Hữu, cũng là của người cán bộ cách mạng, là người ra đi trong cuộc chia tay đầy lưu luyến với nhân dân Việt Bắc trong suốt “mười lăm năm ấy”. Là khúc hát của ân tình cách mạng, bài thơ Việt Bắc như ru lòng người bằng âm hưởng ngọt ngào, tha thiết, đậm đà chất trữ tình sâu lắng. Sau mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng cùng nhau gắn bó, cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng đi đến ngày thắng lợi, giờ đây cán bộ Cách mạng chuẩn bị rời Việt Bắc, tạm xa nhân dân Việt Bắc về xuôi, cuộc chia tay bịn rịn được hình dung trong kết cấu đối đáp quen thuộc. Mở lời cho khúc tình ca là tiếng lòng sâu kín của ta – người ở lại: “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.” Mình về mình có nhớ ta trở thành khởi đầu của mọi nỗi niềm tâm sự được bộc bạch trong bài thơ. Cụm từ thiết tha mặn nồng dường như không chỉ là tình yêu mà gói trọn cả những sẻ chia sóng gió thác ghềnh làm nên cái nặng sâu bền chặt của tình nghĩa. Thời gian mười lăm năm, từ mốc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 cho đến khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, hòa bình lập lại, Việt Bắc đã làm tròn sứ mệnh của
  11. một căn cứ địa cách mạng vững chắc. Đó là thời gian được dệt nên từ yêu thương, từ gian khổ thiếu thốn, từ sự chung sức chung lòng. Điểm qua những thăng trầm, buồn vui kết thành nghĩa tình trong suốt mười lăm năm ấy chưa phải là thông điệp quan trọng và thiết tha nhất mà người ở lại muốn nhắn gửi. Ở thời khắc chia tay mối bận tâm nhất cũng là điều muốn dò đón, khắc sâu chính là nỗi băn khoăn có nhớ không? Nỗi trăn trở có nhớ không? làm thành ngữ điệu hỏi xuyên suốt cả mạch thơ. Có nhớ không ? trở thành mối quan tâm đau đáu trong lòng người ở lại, vì lẽ thường gian khổ thì bền chặt nhưng sung sướng, hạnh phúc lại dễ làm con người quên đi ngọt bùi cay đắng từng nếm trải. Nỗi niềm ấy dày đặc trong lời nhắc nhớ, nó hóa thành mình có nhớ ta, nhìn cây (có) nhớ núi, nhìn sông (có) nhớ nguồn Không trực tiếp trả lời câu hỏi của ta, mình lắng lại cùng tiếng lòng thổn thức: “Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ” Tha thiết trong lời nhắn nhủ của người ở lại (Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng) đã được đồng vọng bởi cảm xúc tha thiết của người ra đi (Tiếng ai tha thiết bên cồn). Trạng thái cảm xúc vừa mong ngóng nôn nao vừa lưu luyến nhớ thương đồng điệu cùng sắc áo chàm bền bỉ, chất phác. đậm đà. Cái bâng khuâng của lòng người, phút bịn rịn buổi chia tay in dấu cả vào nhịp ngắt của câu thơ Cầm tay nhau/biết nói gì/hôm nay. Nhịp ngắt linh hoạt của câu thơ lục bát (3/3/2) tạo nên những khoảng ngừng lặng không nói nên lời. Đó là giây phút xúc động nhất trong bộn bề cảm xúc của người đi trong buổi chia tay. Như đọc được nỗi niềm rưng rưng xúc động ấy, người ở lại tiếp lời: “Mình đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son Mình về còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào Hồng Thái, mái đình cây đa?” Kỉ niệm gắn bó với không gian núi rừng Việt Bắc, tình cảm ân tình với con người Việt Bắc hiện lên vừa cụ thể, sinh động vừa đậm đà dấu ấn vùng miền, với mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù, với miếng cơm chấm muối, trám bùi để rụng, với những nhà hắt hiu lau xám, là núi non, là khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh và cả những địa danh lịch sử Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa
  12. Có nhớ ta?, nhìn cây (có) nhớ núi, nhìn sông (có) nhớ nguồn ở lời đầu đến đây như dồn dập hơn: có nhớ những ngày, có nhớ chiến khu, rừng núi nhớ ai, có nhớ những nhà, còn nhớ núi non, có nhớ mình Hỏi ở đây không phải là để tìm câu trả lời mà hỏi là để gợi nhắc, hỏi để đồng điệu. Một trăm ba mươi câu thơ còn lại sau lời gợi nhắc ấy là lời khẳng định, đinh ninh: “Ta với mình mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh.” Nhớ cảnh, nhớ người, nhớ chiến khu, nhớ kháng chiến chủ âm là nỗi nhớ thâu suốt từ đầu đến cuối bài thơ, làm nên âm hưởng thiết tha sâu lắng cho bản tình ca Việt Bắc. Bài thơ Việt Bắc được tổ chức theo lối đối đáp giữa mình và ta – giữa người ra đi và kẻ ở lại, trong một buổi chia tay bịn rịn. Mình và ta là những đại từ nhân xưng quen thuộc trong ca dao xưa, là cách xưng hô bình dị, thương mến vô cùng của tình yêu đôi lứa. Lời đối đáp giữa ta và mình trong bài thơ Việt Bắc đã gợi nhắc những câu ca dao: – Mình về có nhớ ta chăng Ta về ta nhớ hàm răng mình cười. – Mình về ta chẳng cho về Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ. – Mình về ta dặn câu này Dặn dăm câu nhớ, dặn vài câu thương. – Mình về có nhớ ta chăng Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình. Nhà thơ Tố Hữu đã mượn một hình thức ngôn từ quen thuộc của văn hóa dân gian để gửi gắm những nội dung, tình cảm lớn lao của thời đại mới; những câu ca ngọt ngào của tình yêu đôi lứa đã trở thành những câu hỏi xao xuyến của nghĩa tình cách mạng, thể hiện nỗi nhớ nhung của người ở lại, thể hiện tâm trạng xốn xang, nỗi lòng bịn rịn của người về xuôi. Sử dụng kết cấu đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, nhưng hai đại từ ta và mình trong bài thơ Việt Bắc lại được Tố Hữu sử dụng một cách linh hoạt. Trong những câu thơ mở đầu (Mình về mình có nhớ ta ; Mình về mình có nhớ không; Mình đi có nhớ những ngày; Mình về có nhớ chiến khu; Mình về rừng núi nhớ ai, Mình đi có nhớ những nhà; Mình về còn nhớ núi non) ta là người ở lại, mình là người ra đi, ta là nhân dân Việt Bắc, mình là cán bộ kháng chiến. Hai đại từ đó không thay đổi vai trong lời của người ra đi: Ta đi ta nhớ những ngày; Ta về mình có nhớ ta/ Ta về ta nhớ những hoa cùng người Nhưng có những câu thơ ta và mình đã có sự hoán đổi: Trong lời hỏi của ta có nhắc Mình đi mình có nhớ mình; trong lời đáp của mình có lời đinh ninh: Mình đi mình lại nhớ mình. Mình đi mình không chỉ nhớ ta, mà mình còn nhớ mình – nhớ phần đời của mình đã ở đây, đã gắn bó với cảnh và người nơi đây. Câu hỏi cũng là lời nhắc nhớ thật sâu sắc. Cứ thế ta và mình hòa vào nhau không tách bạch: Ta với mình, mình với ta. Mang âm điệu hơi thở quen thuộc của ca dao dân ca, nhưng ta và mình trong kết cấu đối đáp của bài thơ Việt Bắc không phải là hai đối tượng cụ thể, rạch ròi,
  13. đây là sự phân thân của cái tôi trữ tình Tố Hữu, là tiếng lòng đồng vọng của người cán bộ kháng chiến tự đối thoại với lòng mình, để đinh ninh niềm sắt son với nhân dân Việt Bắc, để khắc ghi kỉ niệm gắn bó với nhân dân Việt bắc. Đối đáp chỉ là hình thức được Tố Hữu lựa chọn để giải tỏ tâm tình. Sử dụng kết cấu quen thuộc của ca dao vào trong một bài thơ cách mạng, đó là một thành công của Tố Hữu, góp phần tạo nên chất trữ tình đắm thắm quen thuộc cho người nghe, đồng thời tạo sự sinh động cho một khúc ca cách mạng dài đến 150 câu thơ. Bằng lối sử dụng linh hoạt và hiệu quả chất liệu văn học dân gian, một lần nữa khúc tình ca Việt Bắc đậm đà tình dân tộc. Bản tình ca Việt Bắc – tiếng lòng của người ra đi với người ở lại trong suốt mười lăm năm ấy được cất lên bằng giai điệu của nỗi nhớ. Nhớ người, nhớ cảnh, nhớ kỉ niệm kháng chiến. Nỗi nhớ gắn với những địa danh cụ thể, là Tân Trào, Hồng Thái, là Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê, là Phủ Thông, đèo Giàng, là sông Lô, phố Ràng, và cả Cao Lạng, Nhị Hà Nỗi nhớ dẫn lối người về với không gian trữ tình, thơ mộng, hiền hòa. Một vầng trăng thấp thoáng nơi đầu núi, một ánh nắng chiều lấp ló lưng nương. Những bản làng bồng bềnh hư thực trong sương khói. Những rừng nứa bờ tre, những núi đèo trong nhung nhớ. Mỗi cảnh vật là một nét nhớ, nét thương thân thuộc vì gợi nhắc đến con người Việt Bắc. Họ tảo tần lam lũ, chịu thương chịu khó (Nhớ người mẹ nắng cháy lưng/ Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô). Họ lạc quan yêu đời (Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo). Kỉ niệm đắng cay ngọt bùi trở nên sâu lắng hơn khi nhắc đến lúc chia củ sắn lùi, khi bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng Việt Bắc trở thành người yêu (Nhớ gì như nhớ người yêu), thành người thương (Sớm khuya bếp lửa người thương đi về). Nhớ người yêu là nỗi nhớ ám ảnh, thường trực, không thể nguôi ngoai, không thể vơi cạn, một nỗi nhớ nhiều khi mãnh liệt đến phi lí như cảm nhận của Xuân Diệu: Uống xong lại khát là tình/ Gặp rồi lại nhớ là mình với ta, đó là nỗi nhớ từng khiến Tố Hữu ngạc nhiên: Lạ chưa, vẫn ở bên em/ Mà anh vẫn nhơ, vẫn thèm gặp em. Nỗi nhớ Việt Bắc được ví như nhớ người yêu là một cách bộc lộ mức độ cao nhất của nỗi nhớ. Trong sắc thái đặc biệt nhớ gì như nhớ người yêu là một sự khẳng định, đinh ninh tấm lòng gắn bó sâu nặng với mảnh đất và con người Việt Bắc trong lòng người ở lại. Tài tình của Tố Hữu là ở chỗ mượn được giọng điệu trữ tình của tình yêu đôi lứa để chuyển tải được một cách sâu sắc nhất tình quân dân gắn kết. Việt Bắc trở thành khúc ca nhung nhớ. Điệp từ nhớ được nhắc nhiều trong bài thơ. Nhớ trở thành lực hấp dẫn để hút về nó tất cả những gì nằm trong trường cảm xúc này. Cảnh vật, con người, kỉ niệm hiện lên càng rõ nét, nỗi nhớ càng sâu sắc. Trong vùng không gian của tâm tưởng, có những khi cảnh và người đẹp đến nao lòng, bởi hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh của con người và sự vật hiện lên ở đây không chỉ bằng quan sát mà còn bằng cả nỗi thiết tha gắn bó của thi nhân. Ngay đây là một bức tranh như thế trong bản tình ca Việt Bắc: Ta về mình có nhớ ta Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
  14. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Việt Bắc là bài thơ tiêu biểu thể hiện sinh động phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu cũng như đặc điểm chung của văn học Việt Nam 1945 – 1975, đó là khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đậm nét trong cấu tứ, giọng điệu, ngôn từ, bút pháp nghệ thuật và hình tượng thơ; là tính dân tộc đậm đà trong cả nội dung và nghệ thuật; là giọng điệu tâm tình ngọt ngào thương mến Những đặc sắc nghệ thuật đó đã góp phần thể hiện một cách sâu sắc cảm hứng chủ đạo của bài thơ, đó là nỗi nhớ thương lưu luyến trong giờ phút chia tay của cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc, là nghĩa tình thắm thiết với Việt bắc, với quê hương cách mạng, là tình cảm với đất nước, với nhân dân. Việt Bắc là khúc hát tâm tình thủy chung của con người Việt Nam trong kháng chiến mà bề sâu của nó là truyền thống ân nghĩa, là đạo lí thủy chung của dân tộc. Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc. Hồn thơ ấy luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc. Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là cái tôi nhân dang Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc. Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, coi những sự kiện chính trị lớn của đất nước là đối tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân. Nhà thơ ít chú ý tới những những diễn biến bình thường của đời sống mà thường tập trung khắc họa những bối cảnh rộng lớn, những biến cố quan trọng tác động mạnh mẽ đến vận mệnh dân tộc. Tất nhiên, những tư tưởng, tình cảm lớn của con người, những vấn đề lớn lao của đời sống đã được Tố Hữu thể hiện qua giọng thơ mang tính chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành. Nhà thơ đặc biệt rung động với đời sống cách mạng, với nghĩa tình cách mạng cho nên thường hướng về đồng bào, đồng chí mà trò chuyện, nhắn nhủ, tâm sự. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của thơ Tố Hữu. Có nhiều cách để khai thác giá trị của một tác phẩm văn học, nhưng dù theo cách nào, người giáo viên cũng cần nắm chắc đặc trưng thể loại, nắm rõ những đặc điểm phong cách nghệ thuật của tác giả, đồng thời phải đặt trong mối qua lại của các yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm. Chất tình ca trong bài thơ Việt Bắc mới chỉ là một phần nội dung của văn bản, khi khai thác khía cạnh này giáo viên cần đặt trong tổng thể bài thơ, vừa để khái quát giá trị bài thơ vừa nhận ra những mạch nội dung rất đặc trưng của thơ Tố Hữu.
  15. ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỂM. I.Tìm hiểu chung 1. Tác giả: – Sinh ra trong một gia đình trí thức, giàu truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng. – Học tập và trưởng thành trên miền Bắc, tham gia chiến đấu và hoạt động văn nghệ ở miền Nam. – Phong cách sáng tác : + Giàu chất suy tư , xúc cảm dồn nén . + Giọng thơ trữ tình chính luận . 2. Đoạn trích: – Vị trí : Trích chương V của trường ca . – Hoàn cảnh sáng tác : Hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên 1971 . – Bố cục văn bản : Hai phần Phần I : 42 câu đầu : Đất nước được cảm nhận từ nhiều phương diện lịch sử văn hoá dân tộc, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian. Phần II: 47 câu cuối : Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước : Đất nước của Nhân dân II. Đọc hiểu văn bản : 1. Đất nước được cảm nhận trên nhiều bình diện: a. 9 câu thơ đầu: Cội nguồn của đất nước “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có từ ngày đó”. * Đoạn thơ có chín câu, được viết theo thể thơ tự do, hình ảnh thơ giàu sức liên tưởng , nhà thơ giúp cho người đọc có những suy nghĩ, cảm nhận về cội nguồn và sự hình thành của Đất nước một cách sâu sắc. * Trước hết, ở hai câu thơ đầu của đọan thơ, tác giả đi tìm sự lý giải về sự sinh thành của đất nước. Đất nước có từ bao giờ ? Để trả lời cho câu hỏi này, nhà thơ đã viết : “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi, Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”. Tham vọng tính tuổi của Đất nước của nhà thơ thật khó bởi chính cái “ngày xửa ngày xưa” ( thời gian nghệ thuật thường thấy trong truyện cổ tích) có tính phiếm chỉ, trừu tượng, không xác định. Đó là thời gian huyền hồ, hư ảo, thời gian mang màu sắc huyền thoại. Song chính ở “cái ngày xửa ngày xưa” đó, nhà thơ đã giúp cho chúng ta nhận thức được : Đất Nước đã có từ rất lâu, rất xa, từ bao giờ chẳng biết .Chỉ biết rằng : khi ta cất tiếng khóc chào đời, thì Đất Nước đã hiện hữu. Không dừng lại ở khát vọng đo đếm tuổi của đất nước, nhà thơ còn nỗ lực hình dung về khởi đầu và quá trình trưởng thành của đất nước : “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn, Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”
  16. Phải chăng, khởi thủy của đất nước là văn hóa được kết tinh từ tâm hồn và tính cách anh hùng của con người Việt Nam. Ở đây,hình ảnh “miếng trầu” đã là một hình tượng nghệ thuật giàu tính thẩm mỹ từng xuất hiện trong các câu chuyện cổ tích,ca dao,tục ngữ.Bởi lẽ,“miếng trầu”là hiện thân của tình yêu thương, lòng thủy chungcủa tâm hồn dân tộc.Từ truyền thuyết dân gian đến tác phẩm thơ văn hiện đại, cây tre đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần dân tộc quật cường đánh giặc cứu nước và giữ nước. Và còn nữa, trong quá trình trưởng thành, đất nước còn gắn liền với với đời sống văn hóa tâm linh, bằng phong tục tập quán lâu đời còn truyền lại và bằng chính cuộc sống lao động cần cù vất vả của nhân dân : “Tóc mẹ búi sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên, Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần ,sàng ”. Đoạn thơ, bằng những ý thơ giàu sức liên tưởng , nhà thơ đã đưa người đọc trở về với những nét đẹp văn hóa một thời của người phụ nữ Việt Nam bằng hình ảnh “tóc mẹ búi sau đầu”, gợi tả một nét đẹp thuần phong mỹ tục của người Việt; và những câu ca dao xưa ca ngợi vẻ đẹp đậm tình nặng nghĩa trong cuộc sống vợ chồng “cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”. Không những vậy, hình ảnh thơ còn thể hiện sự cảm nhận về đất nước gắn với nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, lấy hạt gạo làm gia bản * Có thể nói,đọan thơ mở đầu trả lời cho câu hỏi về cội nguồn đất nước – một câu hỏi quen thuộc, giản dị bằng cách nói cũng rất giản dị, tự nhiên nhưng cũng rất mới lạ : nhà thơ không tạo ra khoảng cách sử thi để chiêm ngưỡng và ca ngợi đất nước hoặc dùng những hình ảnh mĩ lệ , mang tính biểu tượng để cảm nhận và lý giải , mà dùng cách nói rất đỗi giản dị,tự nhiên với những gì gần gũi , thân thiết , bình dị nhất. Giọng thơ thâm trầm, trang nghiêm; cấu trúc thơ theo lối tăng cấp : Đất nước đã có; Đất Nước bắt đầu; Đất Nước lớn lên; Đất Nước có từ giúp cho người đọc hình dung cả quá trình sinh ra, lớn lên, trưởng thành của đất nước trong thời gian trường kỳ của con người Việt Nam qua bao thế hệ. Đặc biệt là cách nhà thơ viết hoa hai từ Đất Nước (vốn là một danh từ chung) cũng đã giúp ta cảm nhận tình yêu và sự trân trọng của nhà thơ khi nói về đất nước , quê hương của mình. b. 16 câu tiếp: Cảm nhận về đất nước ở phương diện lịch sử – văn hoá : “ Đất là nơi anh đến trường . Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”. * Nếu như chín câu thơ đầu của đọan thơ là sự trả lời của nhà thơ cho câu hỏi : Đất nước có từ bao giờ? Thì ở 16 câu thơ này, nhà thơ tiếp tục bày tỏ sự cảm nhận của mình về đất nước để trả lời cho câu hỏi : Đất nước là gì? * Câu hỏi đã được nhà thơ trả lời bằng cách nêu ra những định nghĩa về đất nước ở hai phương diện : không gian địa lý và thời gian lịch sử . Trước hết, về không gian địa lý, đất nước là nơi sinh sống của mỗi người : “ Đất là nơi anh đến trường,
  17. Nước là nơi em tắm”. Không những vậy , đất nước còn là nơi tình yêu lứa đôi nảy nở say đắm, thiết tha. Đó là “ nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”. Đất nước còn là núi sông, rừng bể,là“hòn núi bạc”,là “nước biển khơi”.Và còn nữa, đất nước còn không gian sinh tồn của cộng đồng qua nhiều thế hệ với “những ai đã khuất những ai bây giờ ” Cùng với cách cảm nhận về đất nước ở phương diện không gian địa lý, nhà thơ còn cảm nhận đất nước ở phương diện thời gian lịch sử .Ở phương diện này, đất nước có cả chiều sâu và bề dày được nhận thức từ huyền thoại Lạc Long Quân và u Cơ, từ truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ . Đọan thơ với cấu trúc ngôn ngữ “ Đất là , Nước là Đất Nước là ” , nhà thơ đã định nghĩa bằng cách tư duy “chiết tự” để giải thích, cắt nghĩa hai tiếng Đất Nước thiêng liêng bằng tinh thần luận lí chân xác.Nếu tách ra làm những thành tố ngôn ngữ độc lập thì Đất và Nước chỉ có ý nghĩa là không gian sinh tồn về mặt vật chất của con người cá thể.Nhưng nếu hợp thành một danh từ thì “Đất Nước” lại có ý nghĩa tinh thần thiêng liêng, chỉ không gian sinh sống của cả một cộng đồng người như anh em một nhà. * Tóm lại, bằng cách sử dụng sáng tạo các yếu tố ca dao, truyền thuyết dân gian nhà thơ đã lý giải một cách sinh động , cụ thể cho câu hỏi : Đất nước là gì? Từ đó , hình ảnh đất nước hiện lên qua đọan thơ vừa gần gũi – cụ thể, vừa thiêng liêng- khái quát trên cả bề rộng không gian địa lý mênh mông và thời gian lịch sử đằng đẵng của dân tộc. c. Những lời nhắn nhủ tâm tình về sự gắn bó và trách nhiệm của mỗi người với đất nước “ Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước Làm nên Đất Nước muôn đời” Thật vậy, sau những cảm nhận mới mẻ và sâu sắc của nhà thơ về đất nước qua những phương diện không gian- địa lý,thời gian- lịch sử,phong tục- văn hóa , Nguyễn Khoa Điềm đã đi đến khẳng định : “ Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước”. * Đây là một sự thực mà mỗi người Việt Nam ai cũng đều cảm thấy.Đất nước đã hóa thân vào mỗi con người, bởi chúng ta đều là con Rồng, cháu Tiên, đều sinh ra và lớn lên trên đất nước này.Mỗi người Việt Nam đều đã và đang thừa hưởng những giá trị vật chất, tinh thần của đất nước thành máu thịt, tâm hồn, nếp cảm,nếp nghĩ và cách sống của mình. * Từ việc khẳng định: đất nước hóa thân và kết tinh trong cuộc sống của mỗi người,nhà thơ tiếp tục nói về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của mỗi người với đất nước bằng những dòng thơ giàu chất chính luận : “Khi hai đứa cầm tay
  18. Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn”. * Với những cảm nhận tinh tế, mới mẻ về sự hòa quyện giữa cái riêng và cái chung, giữa tình yêu và niềm tin, đồng thời kết hợp sử dụng các tính từ “hài hòa, nồng thắm”; “vẹn tròn, to lớn” đi liền nhau; đặc biệt là kiểu câu cấu tạo theo hai cặp đối xứng về ngôn từ (“Khi /Khi; Đất Nước / Đất Nước),nhà thơ muốn gửi đến cho người đọc bức thông điệp: đất nước là sự thống nhất hài hòa giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu Tổ quốc, giữa cá nhân với cộng đồng. * Không chỉ khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa Đất nước và nhân dân, giữa tình yêu cá nhân với tình yêu lớn của đất nước; nhà thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước : “Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng”. Có thể nói, ba dòng thơ đã mở ra một tầng ý nghĩa mới, đó là niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của đất nước.Thế hệ sau “con ta lớn lên sẽ mang Đất Nước đi xa- Đến những tháng ngày mơ mộng”.Đất nước sẽ đẹp hơn, những tháng ngày mơ mộng ở hiện tại sẽ trở thành hiện thực ở ngày mai. Khi đã hiểu hết ý nghĩa thiêng liêng của đất nước, nhà thơ muốn nhắn gửi với mọi người : “ Em ơi em Đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời ” Bằng giọng văn trữ tình kết hợp với chính luận; bằng cách sử dụng câu cầu khiến, điệp ngữ “phải biết – phải biết” nhắc lại hai lần cùng các động từ mạnh “gắn bó, san sẻ, hóa thân” nhà thơ như nhắn nhủ mình, nhưng cũng là nhắn nhủ với mọi người ( nhất là thế hệ trẻ) về trách nhiệm thiêng liêng của mình với đất nước. Cái hay là lời nhắn nhủ mang tính chính luận nhưng lại không giáo huấn mà vẫn rất trữ tình, tha thiết như lời tự dặn mình – dặn người của nhà thơ. 2. Tư tưởng cốt lõi : Đất Nước của nhân dân * Sự khẳng định của nhà thơ về vai trò của nhân dân trong việc làm nên không gian địa lý – bức tranh văn hóa đất nước muôn màu muôn vẻ : “ Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi vọng phu, Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”. Thật vậy, đây là 12 câu thơ mở đầu phần hai của đọan thơ “Đất Nước” với nội dung ngợi ca, khẳng định tư tưởng đất nước của nhân dân. - Trước hết, tác giả nêu ra một cách nhìn mới mẻ,có chiều sâu địa lý về những danh lam thắng cảnh trên khắp các miền đất nước. Nhà thơ đã kể, liêt kê một loạt kì quan thiên nhiên trải dài trên lãnh thổ từ Bắc vào Nam như muốn phác thảo tấm bản đồ văn
  19. hóa đất nước.Đây là những danh lam thắng cảnh do bàn tay tự nhiên kiến tạo nhưng từ bao đời nay, ông cha ta đã phủ cho nó tính cách, tâm hồn, lẽ sống của dân tộc.Những ngọn núi, những dòng sông kia chỉ trở thành thắng cảnh khi nó gắn liền với con người, được cảm thụ qua tâm hồn, qua lịch sử dân tộc. Trong thực tế, bao thế hệ người Việt đã tạc vào núi sông vẻ đẹp tâm hồn yêu thương thủy chung để ta có những “núi Vọng Phu”, những “hòn Trống mái” như những biểu tượng văn hóa .Hay vẻ đẹp lẽ sống anh hùng của dân tộc trong buổi đầu giữ nước để ta có những “ao đầm” như những di tích lịch sử về quá trình dựng nước và giữ nước hào hùng “ Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh” Thật sự, nếu không có những người vợ mòn mỏi chờ chồng cả thời chinh chiến thì không có sự cảm nhận về núi Vọng Phu.Cũng như nếu không có truyền thuyết Hùng Vương dựng nước thì không thể có sự cảm nhận nét hùng vĩ của núi đồi quanh đền Hùng.Nói cách khác, những núi Vọng Phu, những hòn Trống Mái, những núi Bút, non Nghiên không còn là những cảnh thiên nhiên thuần túy nữa, mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những con người không tên, không tuổi. - Thiên nhiên đất nước, qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như mộ phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân .Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước này,đã đặt tên, ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất này.Từ những hình ảnh, những cảnh vật, hiện tượng cụ thể, nhà thơ đã “quy nạp” thành một khái quát sâu sắc: “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta ”. Với cấu trúc quy nạp ( đi từ liệt kê các hình ảnh, địa danh đến khái quát mang tính triết lý) , dường như nhà thơ không thể kể ra hết những danh lam thắng cảnh và những nét đẹp văn hóa dân tộc vô cùng phong phú, đa dạng trên khắp đất nước.Nên cuối cùng, nhà thơ đã khẳng định : trên không gian địa lý đất nước, mỗi địa danh đều là một địac chỉ văn hóa được làm nên bằng sự hóa thân của bao cuộc đời, bao tâm hồn người Việt. * Sự khẳng định của nhà thơ về vai trò của nhân dân trong việc làm nên lịch sử và truyền thống dựng nước và giữ nước : “ Em ơi em Hãy nhìn rất xa Có nội thù thì vùng lên đánh bại”.
  20. Thật vậy, sau khi đã khẳng định vai trò của nhân dân làm nên bức tranh địa lý- văn hóa muôn màu muôn vẻ, nhà thơ tiếp tục baỳ tỏ những suy tư, nhận thức của mình về vai trò của nhân dân trong việc làm ra lịch sử và truyền thống của đất nước. Trước hết, nghĩ về bốn ngàn năm của đất nước, nhà thơ đã nhận thức được một sự thật đó là : người làm nên lịch sử không chỉ là những anh hùng nổi tiếng mà còn là những con người vô danh bình dị.Thật sự trong bề dày bốn ngàn năm dựng nước, giữ nước, có biết bao thế hệ cha anh dũng cảm, chiến đấu, hy sinh và trở thành anh hùng mà tên tuổi của họ “cả anh và em đều nhớ”: “ Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ” Nhưng cũng có hàng triệu , hàng triệu người cũng trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước đã ngã xuống , họ đã “sống và chết, không ai nhớ mặt đặt tên”, nhưng tất cả, họ đều có công “ làm ra Đất Nước”. Có thể nói, đây là một quan niệm mới mẻ về đất nước của nhà thơ.Và từ quan niệm này, Nguyễn Khoa Điềm đã hết lời ca ngợi và tôn vinh lòng yêu nước của nhân dân : “Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh ’ Với tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”, tác giả đã khẳng định tất cả những gì do nhân dân làm ra, những gì thuộc về nhân dân như “hạt lúa, ngọn lửa, giọng nói, tên xã tên làng” cũng như chính những con người vô danh bình dị đó đã góp phần giữ và truyền lại cho thế hệ sau mọi giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước. Chính họ đã tạo dựng nền móng sự sống cho đất nước, cho nhân dân.Không những vậy, họ còn luôn sẵn sàng vùng lên chống ngoại xâm, đánh nội thù để giữ gìn sự sống đó và bảo vệ đất nước thân yêu của mình. “Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại”. Ở đây, nhận thức về đất nước và lòng yêu nước của nhà thơ đã gắn liền với lòng biết ơn nhân dân, bởi nhân dân mới là những chủ thể đích thực làm ra đất nước và bảo vệ đất nước. Tóm lại, với hình ảnh thơ giản dị, mộc mạc, giọng thơ vừa tự sự vừa trữ tình đọan thơ vừa là lời tâm tình,vừa là lời nhắn nhủ của nhà thơ với tất cả mọi người phải nhận thức đúng vai trò to lớn của nhân dân trong việc làm nên truyền thống lịch sử, văn hóa của đất nước bằng chính lòng biết ơn của mình. * Những suy tư, nhận thức về đất nước của nhà thơ trên cơ sở tư tưởng Đất nước của Nhân dân : “ Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”. Có thể nói, “Đất Nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ca – sự nhận thức về nguồn gốc sâu xa của nhà thơ về đất nước về trí tuệ, tâm hồn và ý chí của nhân