Đề cương ôn tập thi học kì I Ngữ văn 12 - Năm học 2021-2022

pdf 18 trang An Diệp 25/06/2026 70
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập thi học kì I Ngữ văn 12 - Năm học 2021-2022", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfde_cuong_on_tap_thi_hoc_ki_i_ngu_van_12_nam_hoc_2021_2022.pdf

Nội dung tài liệu: Đề cương ôn tập thi học kì I Ngữ văn 12 - Năm học 2021-2022

  1. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI HỌC KÌ I MÔN NGỮ VĂN 12 NĂM HỌC 2021- 2022 A. CẤU TRÚC ĐỀ KIỂM TRA I. Đọc hiểu văn bản ( 3.0 điểm) - Trích một ngữ liệu: Văn bản văn học ( học thêm), văn bản thông tin, văn bản nghị luận ( ngoài chương trình) - Yêu cầu học sinh trả lời 4 ( 5) câu hỏi với các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng II. Làm văn ( 7.0 điểm) Câu 1. Nghị luận xã hội ( 2. 0 điểm) - Trích một câu, một đoạn hoặc một ý kiến từ phần đọc hiểu hoặc liên quan đến phần đọc hiểu. - Yêu cầu: Anh/ chị viết một đoạn văn khoảng 150 đến 200 từ bàn luận về ý kiến nêu trên. Câu 2. Nghị luận văn học ( 5.0 điểm) - Trích một ngữ liệu là đoạn văn (thơ, truyện ngắn, kí) hoặc đoạn thơ - Yêu cầu: Phân tích/ cảm nhận về đoạn văn, đoạn thơ đó B. PHẠM VI ÔN TẬP I. Đọc hiểu 1. Ngữ liệu đọc hiểu 1.1. Văn bản văn học - Văn bản trong chương trình ( Văn bản đọc thêm) - Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được học trong chương trình). 1.2. Văn bản thông tin - Văn bản có thông tin cập nhật, mới mẻ về các vấn đề của đời sống xã hội - Chủ đề trong các văn bản: dịch bệnh covit 19, thiên tai, môi trường, năng lượng, dân số 1.3. Văn bản nghị luận - Văn bản bàn luận về các vấn đề cấp thiết và có tính thời sự về cuộc sống, con người, tư tưởn, đạo lý được nhiều người quan tâm. - Chủ đề trong các văn bản: lối sống, quan điểm, nghị lực, xu hướng của thanh niên; đạo lí, ứng xử, niềm tin, giá trị, lựa chọn của con người 2/ Yêu cầu cơ bản của phần đọc – hiểu. 2.1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt/ thao tác lập luận/ phong cách ngôn ngữ
  2. - Các phương thức biểu đạt chủ yếu: Miêu tả, biểu cảm, tự sự, nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ. - Các thao tác lập luận: Giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ, so sánh - Phong cách ngôn ngữ: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách hành chính. 2.2. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) các hình thức, phương tiện ngôn ngữ. - Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh - Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng, - Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, Biện pháp tu từ Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật) So sánh Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc Ẩn dụ Cách diễn đạt mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc. Nhân hóa Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn hơn. Hoán dụ Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc Điệp từ/ngữ/cấu trúc Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cẳm Câu hỏi tu từ Bộc lộ cảm xúc Đảo ngữ Nhấn mạnh, gây ấn tượng về 2.3. Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ đặt nhan đề cho văn bản 2.4. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản - Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh thể hiện nội dung cụ thể/ nội dung chính của văn bản - Chỉ ra từ ngữ chứa đựng chủ đề đoạn văn 2.5. Yêu cầu nhận diện thể thơ - Các thể thơ VN có thể chia làm 3 nhóm chính: + Các thể thơ dân tộc gồm: Lục bát, song thất lục bát, hát nói. + Các thể thơ đường luật gồm: Ngũ ngôn, thất ngôn ( Tứ tuyệt, bát cú). + Các thể thơ hiện đại: 5 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng, tự do, văn xuôi. 2.7. Yêu cầu nhận diện thông điệp/hoặc trình bày ý kiến cá nhân về một chi tiết, hình ảnh, vấn đề của văn bản. II. Làm Văn 1. Nghị luận xã hội 1.1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống được nêu trong phần đọc hiểu. a. Đề tài
  3. * Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm: + Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, độ lượng + Tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã... + Thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi ... + Về các quan hệ gia đình: tình mẫu tử, anh em ... + Về quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè + Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống ... * Đề tài của nghị luận hiện tượng đời sống + Sống ảo, sống gấp, chọn ngành nghề theo xu hướng xã hội... + Đề cao vật chất, vụ lợi, tress... b. Cách làm bài - Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí / hoặc hiện tượng đời sống cần bàn luận. - Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận. - Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội / Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí. 1.2. Lưu ý về phương pháp làm bài: - Với dung lượng 200 chữ, thang điểm 2/ 10 điểm, vấn đề nghị luận đã được khai thác sâu kĩ ở phần đọc hiểu, đoạn nghị luận xã hội nên dành thời gian nhiều nhất là 20- 25 phút, tránh lan man, dài dòng ở câu hỏi này. - Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3 tờ giấy thi, tương đương khoảng 20 dòng viết tay. - Nên linh hoạt lựa chọn hình thức đoạn văn phù hợp, có thể là diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp.... Tuy nhiên nên ưu tiên lựa chọn hình thức tổng - phân- hợp để tạo ấn tượng về 1 đoạn văn hoàn chỉnh, độc lập, hấp dẫn. - Nguyên tắc viết đoạn văn: Tránh kể lể lan man trùng lặp. Phần mở đoạn và kết đoạn chỉ nên viết trong một câu ngắn gọn, trong đó phần mở đoạn giới thiệu vấn đề nghị luận, thân đoạn triển khai nội dung nghị luận, kết đoạn viết bài học cho bản thân. 2. Nghị luận văn học 2.1. Nghị luận về một bài thơ/ đoạn thơ a. Đối tượng: Nghị luận về bài thơ rất đa dạng ( một bài thơ, một đoạn thơ, hình tượng thơ ). Với kiểu bài này, Cần tìm hiểu từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu, cấu tứ của bài thơ, đoạn thơ. c. Nội dung: Bài viết thường có các nội dung sau: – Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, vị trí đoạn thơ, bài thơ, – Phân tích cụ thể khổ thơ, đoạn thơ + Phân tích theo bố cục của bài hoặc từng câu (bổ ngang) + Phân tích theo hình tượng hoặc nội dung xuyên suốt bài thơ (bổ dọc). – Nêu đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ: những hình ảnh giàu ý nghĩa, biểu tượng, cấu tứ, nhịp điệu.
  4. - Đánh giá khái quát và khẳng định giá trị riêng, đặc sắc của bài thơ, đoạn thơ nghị luận c. Lưu ý - Người ra đề thường chọn đoạn thơ đặc sắc về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ và yêu cầu học sinh bàn luận ( yêu cầu chính). - Từ đó nêu/ chỉ ra đặc sắc về một phương diện nội dung hoặc nghệ thuật/ phong cách/ quan điểm nghệ thuật của nhà văn (yêu cầu mở rộng). 2.1. Nghị luận về một đoạn trích văn xuôi ( truyện ngắn/ kí/ tùy bút) a. Đối tượng: Văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất đa dạng: có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nói chung, có thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một tác phẩm hoặc của các tác phẩm, đoạn trích khác nhau. b. Nội dung của bài nghị luận, về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: + Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận. + Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích. + Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích. c. Lưu ý - Các bước tiến hành làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi: + Đọc kĩ tác phẩm, đoạn trích, nắm chắc nội dung, cốt truyện, các nhân vật, các chi tiết tiêu biểu thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm. + Nếu nhận xét, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích. + Triển khai các luận cứ phù hợp. + Lựa chọn các thao tác lập luận: Ngoài các thao tác thường gặp như giải thích, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận, ... trong bài văn nghị luận
  5. về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi rất cần kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự (thuật kể tóm tắt nội dung, cốt truyện, nhân vật, chi tiết,...), miêu tả, thuyết minh. - Khi làm kiểu bài này, học sinh hay rơi vào thuật, kê lại chi tiết mà thiếu sự phân tích, đánh giá cụ thể trên cơ sở khoa học - hiểu văn bản. Để tránh đưa ra những ý kiến chung chung, người viết cần nắm chắc đặc trưng của văn bản truyện. Việc trích dẫn, tóm tắt cốt truyện cần luôn đi cùng những nhận xét, C. ĐỀ THỰC HÀNH Đề 1 I. Đọc hiểu ( 3. 0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi ở bên dưới: Thực tế cuộc sống quanh ta cũng cho thấy, có khá nhiều người không có bằng ĐH, không xuất chúng, cũng chẳng nổi tiếng như Bill Gates, nhưng sự thành công của họ lại có phần vượt trội không ít người có bằng ĐH. Ngày nay, khi bạn có thực tài, nếu không làm cho cơ quan Nhà nước thì làm ở khu vực tư nhân; nếu không tư nhân thì là nước ngoài. Hay tự mình... dùng mình! Thậm chí, nếu ở trong nước không có đất dụng võ thì ra thế giới... Với công việc, năm châu bốn biển đều có thể là nhà của mình. Hiện xã hội cũng đang "khát" nhân lực, hàng trăm ngàn công ty đang cần hàng triệu người có thực tâm, thực lực để giúp họ. Chẳng hạn, họ cần một chuyên gia giỏi về điện (bất kể có bằng hay không), chứ họ không cần một kỹ sư điện, nhưng lại hiểu biết quá ít về điện. Còn giả sử bạn nộp đơn vào một số nơi nào đó mà họ không quan tâm đến giá trị thực thì chắc hẳn nơi đó không thuộc về bạn. ....... Cuộc đời không quá dài để mình có thể phung phí thời gian, nhưng cũng đủ dài để làm được những gì mà mình muốn. Và cuộc đời cũng giống như cuộc đua marathon, dù có bị thua kém bạn bè ở những km đầu tiên nhưng mình vẫn có thể là người về đích trước tiên. Hãy tin rằng: "18 tuổi, bạn còn hơn 60 năm cuộc đời, vẫn còn kịp, nhưng phải nhanh lên kẻo không kịp. Và rằng, trong cuộc đời, chỉ có "sự học" và "thực học"
  6. của mình mới tạo nên giá trị và quyết định thân phận của chính mình, và điều đó còn lớn lao hơn "ĐH" rất nhiều". (Lược ghi ý kiến của ông Giản Tư Trung - Hiệu trưởng trường Doanh nhân PACE) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản ( 0.75 điểm) Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ: "Cuộc đời cũng giống như cuộc đua marathon, dù có bị thua kém bạn bè ở những km đầu tiên nhưng mình vẫn có thể là người về đích trước tiên" (0.75 điểm) Câu 3. Theo anh/chị hiểu như thế nào về câu nói: "Chẳng hạn, họ cần một chuyên gia giỏi về điện (bất kể có bằng hay không), chứ họ không cần một kỹ sư điện, nhưng lại hiểu biết quá ít về điện"? (1.0 điểm) Câu 4. Lời khuyên "18 tuổi, bạn còn hơn 60 năm cuộc đời, vẫn còn kịp, nhưng phải nhanh lên kẻo không kịp" gợi anh/chị suy nghĩ gì? (0.5 điểm) II. Làm văn (7,0 điểm) Câu 1.( 2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) về giá trị của “thực học” đối với tuổi trẻ trong cuộc sống. Câu 2.( 5.0 điểm) Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của con người và thiên nhiên qua đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng. Từ đó, nhận xét về vẻ đẹp lãng mạn của bài thơ “Tây Tiến”. “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
  7. Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. ( Trích Tây Tiến- Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1) Đề 2 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn văn sau đây và thực hiện các yêu cầu nêu dưới: “Ở Nhã Nam, tháng Tư có mưa. Tôi sẽ kể chuyện này cho anh, vì anh, anh bạn ạ, bởi đến năm mươi tuổi anh sẽ thành ông lão. Tôi sẽ kể chuyện này cho chị, vì chị, chị bạn ạ, bởi đến bốn mươi tuổi chị sẽ trở thành bà lão. Tôi sẽ kể chuyện này cho cậu, cậu câm miệng lại, cậu còn trẻ quá, cậu là thằng ngốc. Tôi sẽ kể chuyện này cho cô, vì cô sẽ đi lấy chồng. Lúc ấy chỉ toàn những nhọc nhằn thôi, không ai kể chuyện cho cô nghe cả. Ở Nhã Nam, tháng Tư có mưa. Chuyện thế này Một câu chuyện nhỏ về Hoàng Hoa Thám. Tôi không chắc ông Hoàng Hoa Thám, tức Đề Thám, tức Hùm xám Yên Thế trong lịch sử có giống ông Đề Thám mà tôi kể không? Còn ông Đề Thám như tôi biết (tôi biết rõ ông ta): Ông ta là một anh hùng, cũng là một người nhu nhược” ( Trích truyện ngắn Mưa Nhã Nam của Nguyễn Huy Thiệp) Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn bản trên là gì? Người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? (0.75 điểm) Câu 2. Đoạn văn trên kể về ai ? ông có vị trí như thế nào trong lịch sử Việt Nam? (0,75 điểm) Câu 3. Với tác giả, nhân vật Đề Thám “ như tôi biết” là người như thế nào? Còn như em biết nhân vật Đề Thám đó ra sao? (1.0 điểm) Câu 4. Người kể chuyện (tác giả) đặt mình trong cuộc đối thoại với: anh bạn, chị bạn, cậu, cô đem lại hiệu quả như thế nào trong cách kể chuyện? (0, 5 điểm) II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Viết một đoạn văn( khoảng 150 chữ ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của việc lấy tên danh nhân văn hóa, lịch sử, các vị anh hùng đặt tên đường, phố, công trình công cộng. Câu 2. (5.0 điểm)
  8. Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành ( Trích Tây Tiến- Quang Dũng, Ngữ văn 12, tập 1, tr 89) Từ đó, hãy làm rõ vẻ đẹp lãng mạn và đậm chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến Đề 3 I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn văn sau đây và thực hiện các yêu cầu nêu dưới: Cả vùng đất trước kia họ sống đã thuộc về cõi chết Đoàn người vẫn lê bước đi tìm vùng đất mới để tìm sự sống. Giờ đây họ đã hết đường. Trước mặt họ là một khu rừng tối om, cây cối chằng chịt, không còn thấy lối đi. Trong khi đó, sấm chớp đùng đùng, mưa như trút nước. Không biết còn những nguy hiểm gì đang rình rập họ. - Ta phải làm gì cho mọi người đây? – Đan-kô thét to hơn sấm. Bỗng nhiên, anh đưa tay lên, xé toang lồng ngực, dứt trái tim ra và giơ cao lên đầu. Trái tim sáng rực như mặt trời, sáng hơn cả mặt trời và khu rừng im lặng sáng lên dưới ngọn đuốc của lòng thương yêu vĩ đại đối với con người. Trước ánh sáng của trái tim Đan-kô, bóng tối tan tác run lẩy bẩy. - Đi thôi!– Đan-kô thét lớn và xông lên phía trước, tay giơ cao trái tim sáng rực, soi đường cho mọi người.
  9. [ ] Bỗng nhiên, rừng dãn ra nhường lối cho anh, dãn ra và lùi lại phía sau dày đặc và câm lặng. Đan-kô và tất cả đoàn người chìm vào biển ánh sáng mặt trời và không khí trong lành được nước mưa gột sạch. Dông bão ở đằng kia, sau lưng họ, trên khu rừng chết, còn ở đây là mặt trời rực rỡ, thảo nguyên thở đều đều, cỏ rạng ngời vì giọt sương chói lọi như kim cương và sáng lấp lánh ánh vàng. Chàng Đan-kô can trường và kiêu hãnh đưa mắt nhìn thảo nguyên bao la trước mặt, sung sướng nhìn khoảng đất tự do, bật lên tiếng cười tự hào, rồi anh gục xuống. (Theo Bà lão Idecghin, Tuyển tập truyện ngắn, Macxim Gorki, Phạm Mạnh Hùng dịch, NXB Văn học) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?(0.75 điểm) Câu 2. Đan - kô đã làm gì để giúp đoàn người vượt qua khu rừng tăm tối?(0.75 điểm) Câu 3. Trong câu văn Trái tim sáng rực như mặt trời, sáng hơn cả mặt trời tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào?có dụng ý gì?(1.0 điểm) Câu 4. Anh/ chị có yêu thích chàng Đan-kô không? Vì sao?( 0, 5 điểm) II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn( khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị về sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống. Câu 2 (5.0 điểm) Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. ( Trích Việt Bắc của Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục, tr111, 2008) Phân tích đoạn thơ trên. Từ đó, chỉ ra đặc sắc nghệ thuật giàu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.
  10. Đề 4 Phần I. Đọc hiểu (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 đến câu 4 Điều gì làm nên sự khác biệt? Tại sao vẫn có người tạo ra được nhiều kì diệu?Có phải vì Nền tảng gia đình? Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình căn bản là một điều thật đáng để biết ơn, nhưng đó không phải là chỉ số đáng tin cậy để đo lường thành công. Trong số những người hành công, cũng có nhiều người xuất thân từ gia đình không hạnh phúc. Sự giàu có? Những người thành công lớn thường xuất thân từ gia đình Trung lưu, thậm chí tầng lớp hạ lưu. Giàu có không phải là chỉ số đo lường thành tích xuất sắc và nghèo khổ cũng không phải nguyên nhân dẫn đến thành tích kém cỏi. Cơ hội?Cơ hội là một yếu tố rất đặc biệt. Hai người có năng khiếu, tài năng và nguồn lực giống nhau cùng nhìn nhận một hoàn cảnh, có người thấy được cơ hội lớn, trong khi người kia lại không. Cơ hội nằm ở cách nhìn nhận của mỗi người. Đức hạnh?Đây không phải là chìa khóa để thành công dù tôi đã từng mong như vậy. Tôi từng biết rất nhiều người đức hạnh nhưng chỉ tạo ra được những điều nhỏ bé. Và tôi cũng từng gặp một tên du thủ du thực lại trở thành ông chủ lớn. Thiếu sự thử thách? Đã từng có một Helen Keller vượt qua những khuyết tật khủng khiếp hay một Viktor Frakl có thể sống sót sau những kinh hoàng tột độ. Không yếu tố nào kể trên là chìa khóa của thành công. Khi suy nghĩ kĩ hơn một chút, tôi nhận ra rằng yếu tố ngăn cách giữa người đạt được thành công và những người khác chính là cách họ nhận thức và phản ứng trước thất bại. Không có yếu tố nào khác có tác động tương tự tới khả năng đạt được và hoàn thành điều mong muốn trong tâm trí và trái tim của con người. (John C.Maxwel, Học từ vấp ngã để từng bước thành công) Câu 1. Phương thức biểu đạt của văn bản trên là gì?(0.75 điểm) Câu 2.Tác giả đã liệt kê ra những yếu tố nào không thực sự quyết định đến sự thành công của mỗi người?( 0.75 điểm) Câu 3. Theo bạn, điều gì làm nên sự khác biệt trong cách nhận thức và phản ứng trước thất bại của người đạt được thành công và những người khác?( 1.0 điểm) Câu 4. Đọc văn bản trên, anh/ chị rút ra được bài học gì cho bản thân?( 0.5 điểm) Phần II. Làm Văn( 7.0 điểm) Câu 1(2.0 điểm) Lại có ý kiến cho rằng:“ Đừng phấn đấu để thành công mà hãy phấn đấu để mình có ích”. Viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên. Câu 2 (5.0 điểm): Trong đoạn trích Đất Nước, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết: “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
  11. Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết “yêu em từ thuở trong nôi” Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu” ( Trích Đất Nước - Trường ca “Mặt đường khát vọng”, Nguyễn Khoa Điềm, SGK Ngữ Văn 12, tập 1, tr 89) Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét cái nhìn khám phá của nhà thơ về Đất Nước. ĐỀ 05 I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu nêu dưới: “Nhưng mục tiêu của khởi nghiệp không chỉ thuần túy là một con đường kiếm sống, tạo dựng sự nghiệp mà còn là một triết lí sống, khẳng định mình, thử thách bản thân, kiểm tra giới hạn tiềm tàng của chúng ta”, Thủ tướng nói. Tại sao chúng ta gọi là khởi nghiệp sáng tạo? Thủ tướng nêu vấn đề và lí giải: Nội hàm của từ khóa này rất sâu sắc, trong đó chúng ta xem sự sáng tạo là một thứ tài nguyên mới để chúng ta khởi nghiệp. Nhân loại không còn nhiều tài nguyên tự nhiên để khai thác và Việt Nam cũng vậy, nhưng chúng ta lại có thứ tài nguyên vô tận, đó chính là sự sáng tạo của con người, của chính tiềm năng trong mỗi chúng ta. Không có thứ tài nguyên nào vô tận và vĩnh cửu như khả năng sáng tạo cả. Khởi nghiệp trên nền tảng sáng tạo tôi tin thành công ắt sẽ đến. Sáng tạo phải từ con người và vì con người. Con người phải là trung tâm của sáng tạo. Người Việt Nam chúng ta có đầy đủ tố chất bẩm sinh cho sự sáng tạo. Thủ tướng tin nếu có đủ những dưỡng chất tốt sẽ tạo ra những con người xuất sắc cho đất nước. “Chúng ta hãy cùng ươm mầm ước mơ và hiện thực hóa khát vọng khởi nghiệp sáng tạo không giới hạn của chúng ta.” Bày tỏ vui mừng vì trên bảng xếp hạng về các thương hiệu khởi nghiệp giá trị trên thế giới có 93 cái tên đến từ Việt Nam, trong đó có một số thương hiệu xếp trong top 500 và top 1000 của thế giới như Baomoi, Web-Sosanh, Lozi, HelloBacsi , nhưng Thủ tướng tin vẫn còn nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có giá trị khác của Việt Nam đã chưa được cập nhật hoặc đang bị bỏ sót trên bảng xếp hạng. Bởi vì con số 93 start-up vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng của chúng ta.
  12. Thủ tướng cho biết, Chỉ số sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2018 của Việt Nam xếp ở vị trí khá cao, thứ 45/126 nền kinh tế được xếp hạng. Xếp hạng Chỉ số Theo dõi Doanh nhân Toàn cầu (GEM), chúng ta xếp thứ 15/54 nền kinh tế được xếp hạng. (Thủ tướng chia sẻ khát vọng Việt Nam hùng cường từ đổi mới sáng tạo, theo baochinhphu.vn) Câu 1. Xác định hai phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản? (0.75 điểm) Câu 2. Theo văn bản, thứ tài nguyên vô tận là gì? (0,75 điểm) Câu 3. Tại sao Thủ tướng cho rằng: “Sáng tạo phải từ con người và vì con người.”?(1.0 điểm) Câu 4. Nêu nhận xét của anh/ chị về nhan đề bài báo “Thủ tướng chia sẻ khát vọng Việt Nam hùng cường từ đổi mới sáng tạo”. (1.0 điểm) II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu ý kiến của anh/ chị về vai trò của tư duy sáng tạo trong cuộc sống. Câu 2 (5.0 điểm) Phân tích đoạn trích sau : "Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đổi ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại : Tết xong lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì gặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương, bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày. Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi xó cửa. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi. " (Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.6) Từ đó, nhận xét về giá trị hiện thực của tác phẩm.
  13. Đề 06 I. ĐỌC – HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi sau: Quê hương thứ nhất của chị ở mảnh đất Hưng Yên, quê hương thứ hai của chị ở nông trường Hồng Cúm, hạnh phúc mà chị đã mất đi từ bảy, tám năm nay ai ngờ chị lại tìm thấy ở một nơi mà chiến tranh đã xảy ra ác liệt nhất. Ở đây trong những buổi lễ cưới, người ta tặng nhau một quả mìn nhảy đã tháo kíp làm giá bút, một quả đạn cối tiện đầu, quét lượt sơn trắng làm bình hoa, một ống thuốc mồi của quả bom tấn để đựng giấy giá thú, giấy khai sinh cho các cháu sau này, và những cái võng nhỏ của trẻ con tết bằng ruột dây dù rất óng. Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy. (Trích Mùa lạc – Nguyễn Khải, NXB Văn học, 1960) Câu 1. Xác định ngôi kể trong đoạn trích?( 0.75 điểm) Câu 2. Trong đoạn trích, những món quà nào thường được tặng trong đám cưới?( 0.75 điểm) Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn “Ở đây trong những buổi lễ cưới, người ta tặng nhau một quả mìn nhảy đã tháo kíp làm giá bút, một quả đạn cối tiện đầu, quét lượt sơn trắng làm bình hoa, một ống thuốc mồi của quả bom tấn để đựng giấy giá thú, giấy khai sinh cho các cháu sau này, và những cái võng nhỏ của trẻ con tết bằng ruột dây dù rất óng” ( 1.0 điểm) Câu 4. Anh/Chị hãy nhận xét quan niệm về cuộc sống được tác giả nêu trong đoạn trích?( 0.5 điểm) II. LÀM VĂN (7. 0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của nghị lực con người trong cuộc sống.
  14. Câu 2 (5.0 điểm) “Hắn chắp hai tay sau lưng, lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng mùa hè sáng lóa xói và hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn, hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươn mươn niên ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã hót sạch. Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà.” (Trích Vợ nhặt – Kim Lân, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr.30) Phân tích tâm trạng nhân vật Tràng được nhà văn Kim Lân thể hiện trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Kim Lân. ĐỀ 07 I. Đọc hiểu (3 điểm) Đọc đoạn tríchsau và trả lời các câu hỏi ở dưới: Khó có thể nói có ai đó là hoàn hảo, mặt nào cũng tốt, khi nào cũng tốt và ai đó là hoàn toàn ngược lại, không có gì đáng giá cả, cuộc đời họ là một màu đen tuyền. Ngay cả người được coi là xấu nhất, nếu chịu khó nhìn kỹ, theo dõi kỹ, ta vẫn cảm nhận được không ít điều hay lẽ phải với những nét hấp dẫn mà chưa chắc người bình thường đã có. Còn người tốt thì cũng đừng có nghĩ rằng không có lúc nào họ xấu hoặc có những mặt những tính chất khác người khó chịu, làm nhiều người phiền muộn. Vấn đề ta thường thấy ở đây là có người tốt nhiều, người tốt ít, người xấu nhiều, người xấu ít hoặc người này bản chất là tốt hay người kia bản chất là xấu.
  15. Nhà văn hóa M. Twain (Mỹ) có dùng một hình ảnh khá chí lý: "Ai cũng có một vầng trăng và một đám mây đen". Câu nói đó có ý nghĩa tích cực là khuyên răn con người hãy luôn làm cho ánh hào quang của vầng trăng thêm rực rỡ và xóa dần màu xám xịt của đám mây đen. Người tốt cũng đừng chủ quan là mình sẽ không biến chất và người xấu cũng không phải không giáo dục được, không tự tu dưỡng điều chỉnh mình đượ (Phong cách sống của người đời, Nhà báo Trường Giang, Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?( 0.75 điểm) Câu 2. Theo tác giả, Vấn đề ta thường thấy là vấn đề gì?( 0.75 điểm) Câu 3. Theo anh/chị việc xóa dần màu xám xịt của đám mây đen thể hiện trong văn bản có tác dụng gì?( 1.0 điểm) Câu 4. Lời khuyên về người tốt và người xấu của tác giả gợi anh/chị suy nghĩ gì?( 0.5 điểm) II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1. (2. 0 điểm) Từ nội dung đoạn trich́ ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ ý nghĩa sự phấn đấu không ngừng của con người trong cuộc sống. Câu 2. (5.0 điểm) Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò [ ]. Mặt sông trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy cái luồng nước đúng mà phóng
  16. nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Thế là hết thác . (Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập một) Cảm nhận của anh/chị về nhân vật ông lái đò trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét cái nhìn mang tính phát hiện về con người của nhà văn Nguyễn Tuân. Đề 08 I. ĐỌC HIẾU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Miền Trung Câu ví dặm nằm nghiêng Trên nắng và dưới cát Đến câu hát cũng hai lần sàng lại Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm. Miền Trung Bao giờ em về thăm Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ Không ai gieo mọc trắng mặt người. Miền Trung Eo đất này thắt đáy lưng ong Cho tình người đọng mật Em gắng về
  17. Đừng để mẹ già mong... (Trích Miền Trung, Hoàng Trần Cương, Thơ hay Việt Nam thế kỉ XX, NXB Văn hóa Thông tin, 2006, tr. 81-82) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? Câu 2. Chỉ ra hai hình ảnh trong đoạn trích diễn tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung. Câu 3. Những dòng thơ sau giúp anh/chị hiểu gì về mảnh đất và con người miền Trung? Miền Trung Eo đất này thắt đáy lưng ong Cho tình người đọng mật Câu 4. Anh/Chị hãy nhận xét về tình cảm của tác giả đối với miền Trung được thể hiện trong đoạn trích. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểnm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh của tình người trong hoàn cảnh khó khăn thử thách. Câu 2. (5,0 điểm). Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thắm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tầm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của
  18. nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà... (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 198-199) Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về tính trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường.