Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 - Bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông

pdf 16 trang An Diệp 27/06/2026 360
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 - Bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_on_tap_ngu_van_12_bai_ai_da_dat_ten_cho_dong_song.pdf

Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn tập Ngữ văn 12 - Bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông

  1. ÔN TẬP: AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG - Hoàng Phủ Ngọc Tường – A. Kiến thức cơ bản: 1.Tác giả: - Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế. - Nguyên quán: Làng Bích Khê, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. - Học Trung học tại Huế, tốt nghiệp ĐHSP Sài Gòn năm 1960 và Đại học Huế năm 1964. - Từng là: Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Trị Thiên - Huế, Chủ tịch Hội văn học nghệ thuật Bình Trị Thiên, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt. -> Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực. Ông là một trong những nhà văn chuyên về thể loại bút ký. Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lý... Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa. 2. Tác phẩm: a. Bố cục: - Đoạn 1: Từ đầu đến “dưới chân núi Kim Phụng”; Sông Hương vùng thượng lưu là dòng chảy có mỗi quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn. - Đoạn 2: Từ “Phải nhiều thế kỷ” đến “Quê hương xứ sở”: Sông Hương những mối quan hệ với kinh thành Huế. - Đoạn 3: Còn lại: Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, với cuộc đời và thi ca. b. Chủ đề: - Tình yêu và lòng tự hào tha thiết, lắng sân dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế và càng làm cho đất nước văn hiến từ nghìn xưa. - Sông Hương là biểu tượng cho vẻ đẹp của cảnh và người đất kinh thành. B. Đọc - hiểu văn bản: 1. Thủy trình của Hương giang: a. Ở nơi khởi nguồn: Sông Hương có vẻ đạp hoang dại, đầy cá tính, là bản trường ca của rừng già, là cô gái di-gan phóng khoáng và man dại, là người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. - Trong “ sử thi buồn”, Hoàng Phủ Ngọc Tường từng nói: “ Trước khi về hội nhau ở ngã ba Tuần, cả hai nhánh nguồn của sông Hương đều đã rong ruổi triền miên qua địa bàn sinh sống của nguời Cà Tu giữa rừng già. Trước khi là sông Hương của Huế, nó đã là một dòng sông của dân tộc Cà Tu, mang cái tên gốc “Pô-ly-ê-điêng” là sông “A Pàng”. + “Pàng”, tiếng Cà Tu có nghĩa là đời người. + “A Pàng”, dòng sông “Đời người”, ôi dòng sông Huế, nó đã chở đầy phận người từ thuở giọt địa chất sinh ra.( Sử thi buồn).
  2. => Trong cảm nhận hướng nội tài hoa của tác giả, đời sông tựa như đời người nên sông Hương vùng thượng nguồn mang vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại và đầy cá tính: - Trong đoạn này: + Sông Hương tựa như “một bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội: khi “ rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, lúc “ mãnh liệt vượt qua ghềnh thác”, khi “ cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu”, lúc “ dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. + Sông Hương hiện ra tựa “Cô gái Digan phóng khoáng và man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”. => Theo tác giả, nếu ai đó mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của dòng sông thì sẽ không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ. Cái tâm hồn vừa sục sôi vừa đằm thắm của “thiếu nữ A Pàng”. b. Đến ngoại vi TP Huế: Sông Hương như người gái nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại được người tình mong đợi đến dánh thức. Thủy trình của SH khi bắt đầu về xuôi tựa một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình yêu lãng mạn nhuốm màu cổ tích. - Trong cái nhìn minh triết và lãng mạn của tác giả: Trước khi trở thành “Người tình dịu dàng và chung thuỷ của cố đô”, toàn bộ thuỷ trình của dòng sông tựa như một cuộc tìm kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái trong một câu chuyện tình yêu nhuốm màn cổ tích: - Giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại: Sông Hương là “cô gái đẹp ngủ mơ màng”. - Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi: Sông Hương như nàng tiên được đánh thức: Bừng lên sức trẻ và niềm khát khao của tuổi thanh xuân trong sự “chuyển dòng liên tục”, rồi “vòng những khúc quanh đột ngột”, “vẽ một hình cung thật tròn”, “ôm lấy chân đồi Thiên Mụ”, rồi “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”. c. Đến giữa TP Huế: SH như tìm được chính mình vui hẳn lên mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu . Nó có những đường nét tinh tế, đẹp như điệu “slow” tình cảm dành riêng cho Huế, như người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya - Khi chảy qua kinh thành Huế Sông Hương như cô gái Huế: tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình mà kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình. Khéo trang điểm mà không loè loẹt, giống như cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều lục. => Như từng thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu: - sông Hương “vui tươi hẳn lên giữa những bãi xanh biếc của ngoại ô Kim Long”. - rồi kéo một nét thẳng đầy cá tính “theo hướng tây nam – đông bắc”, rồi “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Huế” - những dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “Vâng!” không nói ra của tình yêu.” - Nó có những đường nét tinh tế, đẹp như điệu “slow” tình cảm dành riêng cho Huế, như người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya d. Trước khi từ biệt Huế: SH giống như người tình dịu dàng và chung thủy. Con sông như nàng Kiều trong đêm tình tự, trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề
  3. trước lúc đi xa - SH “Như sực nhớ điều gì chưa kịp nói”, nó đột ngột đổi dòng, “rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối cùng ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ.”. Trong cái nhìn đa tình của tác giả: khúc quanh bất ngờ đó tựa như “một mỗi vương vấn”, và dường như còn có cả “một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu”... 2. Dòng sông của lịch sử và thi ca: (Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, với cuộc đời và thi ca) a. Trong lịch sử, SH mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc. - Là dòng sông bảo vệ biên thuỳ “dòng sông Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”. - Là dòng Linh Giang (dòng sông thiêng) ghi dấu những thế kỷ vinh quang thuở các Vua Hùng. - Từng soi bóng “kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.” - “Nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa.” - Sông Hương chứng kiến thời đại mới với cách mạng tháng Tám năm 1945. - Với cuộc đời: sông Hương là nhân chứng nhẫn nại và kiên cường qua những thăng trầm của cuộc đời. b. Trong đời thường, SH mang vẻ đẹp giản dị của một người con gái dịu dàng của đất nước. b. Sông Hương là dòng sông của thi ca, âm nhạc là nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ. - Có một dòng thi ca về sông Hương: “Một dòng thơ không lặp lại mình”. Đó là: + “Dòng sông trắng – lá cây xanh” trong thơ Tản Đà. + Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan. + Là vẻ đẹp hùng tráng “như kiến dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát. + Và nhất là Nguyễn Du: “Hương giang nhất phiến nguyệt- kim cổ hứa đa sầu”. => Xin nói thêm: Cả cái “Màu thời gian tím ngát” của Đoàn Phú Tứ, “nhân loại tím” của Trần Dần cũng từ màu tím Sông Hương mà ra. - Sông Hương gắn với nhã nhạc cung đình Huế: + Có lúc trở thành “Người tài nữ đáh đàn lúc đêm khuya”. + Sông Hương là Kiều trong mối quan hệ “Thi trung hữu nhạc”: -> Đó là “Tứ đại cảnh” trong hai câu thơ: “Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.” * Nghệ thuật: - Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa; - Ngôn từ phong phú, gợi hình, gợi cảm; câu văn giàu nhạc điệu. - Các biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa, so sánh được sử dụng một cách hiệu quả. * Ý nghĩa văn bản: - Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương; - Bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương.
  4. * Tổng kết Bằng ngòi bút tài hoa của mình, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã diễn tả vẻ đẹp và chất thơ của Huế thể hiện tập trung ở dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế với tất cả vẻ đẹp của cảnh và người đất đế đô. C. ĐỀ LUYỆN TẬP: ĐỀ 1: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của sông Hương ở các chi tiết sau: Ở thượng nguồn: “Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm nó, đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng.” Khi về đến thành phố Huế: “Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long”; Sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.” Và khi tạm biệt kinh thành Huế: sông Hương “như sực nhớ ra một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đối với Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay dõi xa ngoài mười dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vốn đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với tự nhiên và rất giống với con người ở đây; và để nhân cách hóa nó lên, tôi gọi đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả ” (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường, SGK Ngữ văn 12) GỢI Ý: 1. MB: Giới thiệu tác giả, tác phẩm. Vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của sông Hương qua các chi tiết: vừa mãnh liệt, dữ dội, hoang dại; vừa dịu dàng, say đắm. 2. TB: a. Nội dung: - Sông Hương nơi thượng nguồn: + Vẻ đẹp hùng vĩ với sức sống mãnh liệt, hoang dại đầy ấn tượng ”đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn” + Vẻ đẹp lãng mạn và dịu dàng: ”dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng” -> Sông Hương mạnh mẽ, giàu sức sống, sức quyến rũ. Phần đời bí ẩn mà sông Hương không muốn bộc lộ. - Sông Hương khi về đến Huế: Trong cảm nhận của nhà văn, hành trình sông Hương về với Huế là hành trình của người con gái kiếm tình người tình đích thực nên vừa
  5. ra khỏi rừng sông Hương đã có những thay đổi. + Như tìm đúng đường về ”Sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long” + Sông Hương mềm mại, trữ tình, dịu dàng, e thẹn, kín đáo như vẻ đẹp của người con gái Huế, hiến dâng những gì đẹp đẽ nhất cho thành phố Huế thân yêu “Sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu.” - Đánh giá: Sông Hương mang vẻ đẹp phong phú, đa dạng. Qua cảm nhận của nhà văn, sông Hương trở thành một sinh thể có tâm hồn – một cô gái vừa mạnh mẽ, giàu sức sống, vừa dịu dàng, duyên dáng và kín đáo. Sông Hương trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn con người xứ Huế. * sông Hương lúc tạm biệt kinh thành với khúc rẽ ngoặt độc đáo, được khám phá ở chiều sâu tính cách lãng mạn, đa cảm và chung tình. – Hành trình sông Hương từ thượng nguồn về đến ngoại vi và thành phố Huế là hành trình đầy gian truân và thử thách, từ đó làm nổi bật diện mạo xinh đẹp, dịu dàng và tính cách thủy chung, thâm trầm của dòng sông; – Vẻ đẹp sông Hương thể hiện niềm yêu da diết, niềm tự hào và kiêu hãnh của tác giả về con sông quê hương nói riêng và xứ Huế nói chung. b. Nghệ thuật: - Nhà văn đã lựa chọn những chi tiết tiêu biểu để làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương ở không gian thượng nguồn - phần đời bí ẩn, hoang dại ít ai biết đến và khi về với Huế - sông Hương lại mang vẻ đẹp trữ tình thơ mộng. - Ngôn ngữ giàu hình ảnh. - Khả năng quan sát tinh tế, liên tưởng phong phú, vốn hiểu biết sâu rộng, tình yêu quê hương và tài năng viết kí bậc thầy của nhà văn. KB: Qua các chi tiết trên, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm nổi bật vẻ đẹp phong phú, đa dạng của sông Hương. ĐỀ 2: “Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Nhưng ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyên dùng một cách liên tục, vọng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Từ ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén; vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thêm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cũng thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Ti Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thắm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam
  6. thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông 14 tịch và niềm kiêu hãnh âm 14 của những lăng tẩm đồ sộ tỏa lan khắp cả một vùng thượng lưu “Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó là vẻ đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như triết lí, như cổ thi, kéo dài mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà...” (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 198-199) Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về tính trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường. GỢI Ý: 1. MB: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu đoạn trích: Vẻ đẹp của sông Hương khi chảy về đồng bằng và ngoại vi thành phố Huế. 2. TB. * Phân tích vẻ đẹp của sông Hương khi chảy về đồng bằng và ngoại vi thành phố Huế - Sông Hương mang vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng như một người con gái + Nhân hóa sông Hương với “người gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại” gợi tả một không gian trong trẻo, thơ mộng đầy cổ tích. + Dòng chảy của sông Hương được hình dung như “một cuộc tìm kiếm có ý thức” với “khúc quanh đột ngột”, “uốn mình”, “đường cong thật mềm” gợi ra hình ảnh dòng sông mềm mại, uyển chuyển, nữ tính, gợi cảm, quyến rũ. + Phép liệt kê: liệt kê hàng loạt những địa danh sông Hương đi qua để gặp gỡ thành phố Huế như “ngã ba Tuần", “điện Hòn Chén”, “vấp Ngọc Trản”, “bãi Nguyệt Biều, Lương Quán”, “đồi Thiên Mụ” kết hợp với các động từ “chuyển hướng – vòng qua – vẽ một hình cung – ôm lấy – xuôi dần” gợi vẻ đẹp duyên dáng, tràn đầy sức sống của dòng sông. + Đến gần Huế hơn, sắc xanh thẳm của nước hoà vào bóng dáng hùng vĩ của “hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo”, có khi thơ mộng với sắc nước “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. - Sông Hương mang vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính + Khi chảy qua lăng tẩm đền đài, nơi “giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ”, sông Hương trầm mặc hẳn đi. + Trong không gian của “tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia, giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, sông Hương im lìm, dáng đứng thâm nghiêm sâu lắng, mang nặng nỗi niềm tâm sự, hoài niệm quá khứ. - Nghệ thuật: cảm xúc sâu lắng được tổng hợp từ một vốn hiểu biết phong phú về
  7. văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương; ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu chất thơ; sử dụng nhiều phép tu từ. 3. Nhận xét tính trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường - Giải thích: + “Trữ tình” là nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện ý nghĩ, cảm xúc, tâm trạng riêng của con người, nghệ sĩ trước cuộc sống. + “Tính trữ tình” biểu hiện ở tâm trạng, cảm nhận của riêng tác giả trước hiện thực khách quan. - Tính trữ tình trong bút kí: + Cái “tôi” mê đắm, tài hoa: không miêu tả sông Hương như một dòng chảy thông thường mà đặt sông Hương trong dòng chảy văn hóa, lịch sử của Huế, mỗi lần sông Hương uốn mình chuyển dòng là một lần sông Hương mang vẻ đẹp riêng. + Cái “tôi” lịch lãm, uyên bác: khám phá những đặc điểm độc đáo của sông Hương trên phương diện địa lí, văn hóa, hội họa. + Niềm tự hào, tình yêu quê hương đất nước nồng nàn, thiết tha, sâu lắng. 3. KB: Đánh giá lhais quát vấn đề; khẳng định phong cách độc đáo của HPNT. ĐỀ 3: [ ] Từ đây, như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biển bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, phía đó, nơi cuối đường, nó đã nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non. Giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến; đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Và như vậy, giống như sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Hương nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình; Huế trong tổng thể vẫn giữ nguyên dạng một đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Đầu và cuối ngõ thành phố, những nhánh sông đào mang nước sông Hương tỏa đi khắp phố phường với những cây đa, cây cừa cổ thụ tỏa vầng lá u sầm xuống xóm thuyền xúm xít; từ những nơi ấy, vẫn lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ mà không một thành phố hiện đại nào còn nhìn thấy được. Những chi lưu ấy, cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm, thực chậm, cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh. Tôi đã đến Lê-nin-grat, có lúc đứng nhìn sông Nê-va cuốn trôi những đám băng lô xô, nhấp nháy trăm màu dưới ánh sáng mặt trời mùa xuân, mỗi phiến băng chở một con hải âu nghịch ngợm đứng co lên một chân, thích thú với chiếc thuyền xinh đẹp của chúng và đoàn tàu tốc hành lạ lùng ấy với những hành khách tí hon của nó băng băng lướt qua trước cung điện Pê-téc-bua cũ để ra bể Ban-tích. [ ] Hai nghìn năm trước, có một người Hi Lạp tên là Hê-ra-clít, đã khóc suốt đời vì những dòng sông trôi đi qua nhanh, thế vậy! Lúc ấy, tôi nhớ lại con sông Hương của tôi, chợt thấy quý điệu chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy
  8. từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng. (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12, Tập một, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr.199-200, 2014). Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. GỢI Ý : 1. MB: Giới thiệu ngắn gọn tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận. 2. TB: 1. Về nội dung: a. Cảm nhận vẻ đẹp sông Hương ở thành phố Huế - Khái quát vẻ đẹp của sông Hương phía thượng nguồn và ngoại vi thành phố Huế. - Đoạn chảy qua thành phố Huế, vẻ đẹp của sông Hương được cảm nhận dưới nhiều góc độ: + Sông Hương được nhân hóa để thành một thiếu nữ với tâm trạng “vui tươi, yên tâm” khi gặp người tình mong đợi. Nó vừa e ấp kín đáo vừa tha thiết mãnh liệt “như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu” + Nhìn bằng con mắt của hội họa: sông Hương cùng những chi lưu tạo nên những đường nét thật mềm mại, tinh tế và cổ kính. + Cảm nhận bằng âm nhạc: sông Hương như điệu slow du dương, sâu lắng và ngập tràn tình cảm. b. Bình luận ngắn gọn về cái tôi tài hoa, uyên bác của Hoàng Phủ Ngọc Tường - Quan sát tinh tường, tỉ mỉ, tưởng tượng phong phú (miêu tả sông Hương từ góc nhìn địa lí, hành trình sông Hương tìm về với Huế như về với tình nhân của mình ) - Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng những tri thức phong phú, những hiểu biết sâu sắc về nhiều mặt (địa lý, thơ ca, âm nhạc, hội họa ) để làm giàu cho giá trị nhận thức của đoạn trích nói riêng và tác phẩm nói chung. - Tác giả đã có một hồn thơ thật sự trong văn xuôi để làm đẹp cho ngôn từ, để viết nên những câu văn rất hay (“chiếc cầu trắng nhỏ nhắn như những vành trăng non”, “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu” ) 2. Đánh giá chung: - Đoạn văn nhẹ nhàng với ngòi bút tinh tế, lối viết giàu cảm xúc, kết hợp giữa miêu tả và tự sự. Các biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa được sử dụng hiệu quả. Tất cả cho thấy một cái tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường thực sự tài hoa, uyên bác và chân thành yêu sông Hương - xứ Huế. - Liên hệ. * BÀI VIẾT THAM KHẢO, MỞ RỘNG. CHẤT THƠ TRONG BÚT KÍ "AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG?" CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam, ông sáng tác thành công ở nhiều thể loại, cả thơ và văn xuôi nhưng đạt được thành tựu lớn hơn cả là thể kí. Toàn bộ tinh hoa và năng lực của Hoàng Phủ Ngọc Tường đều dành cho thể kí. Ông đã thành danh và đóng góp nhiều cho văn học sau năm
  9. 1975 ở thể loại này. Theo Nguyên Ngọc, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong số mấy nhà văn viết kí hay nhất của văn học ta hiện nay. Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường thường có tính chất tự do tản mạn thiên về tùy bút, bộc lộ một trí tuệ sắc sảo, uyên bác. Nguồn mạch xuyên suốt các tác phẩm kí của ông chính là một tấm lòng yêu quê hương đất nước, tâm huyết với tinh hoa văn hóa dân tộc. Có lẽ vì thế sách giáo khao Ngữ văn 12 đã nhận định: Kí Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu chất thơ. Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ra ở Huế, cả cuộc đời gắn bó với đất Huế, do đó kí viết về Huế chiếm số lượng lớn trong sự nghiệp sáng tác của ông. Huế trở thành một phần trong đời sống tinh thần của nhà văn. Tô Hoài đã nhận xét: “Nếu có thể so sánh thì tôi nghĩ rằng Sơn Nam thuộc đến ngõ ngách, đến tích xưa của Sài Gòn, Bến Nghé, thì tôi nhớ được ít nhiều tên thành phố, tên làng ở Hà Nội, riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đằm cả tâm hồn trong khuôn mặt cuộc đời cùng với đất trời sông nước của Huế”. “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là bài kí độc đáo về sông Hương được sáng tác tháng 1/1981 và được đưa vào tập kí cùng tên năm 1984. Tác phẩm thuộc thể kí nhưng là bút kí văn hóa thiên về tùy bút, nó vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ với nội dung thông tin phong phú. Hoàng Phủ Ngọc Tường là người đi nhiều, tích lũy vốn sống vốn hiểu biết sâu sắc. Ông am hiểu những gì mình viết. Đọc tác phẩm của ông là tiếp xúc với một kho tri thức phong phú trên nhiều góc độ văn hóa, triết học, địa lí lịch sử, âm nhạc, điện ảnh, văn chương nghệ thuật. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vận dụng vốn kiến thức uyên bác để khám phá và xây dựng hình tượng sông Hương, cung cấp cho người đọc một lượng thông tin đa dạng để hiểu sâu hơn về dòng sông và cả thiên nhiên, con người xứ Huế. Trước hết nhà văn khám phá sông Hương dưới góc nhìn địa lí. Ngay từ những câu văn mở đầu, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn độc giả làm một cuộc hành trình tìm về cội nguồn của sông Hương để thấy được sức sống mãnh liệt, hoang dại nhưng cũng có lúc dịu dàng say đắm. Sông Hương được khắc họa bằng hình ảnh đầy ấn tượng: mãnh liệt qua nhưng ghềnh thác, cuộn xoáy qua những cơn lốc giữa màu sắc rực rỡ chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng... Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận sông Hương giống như 1 bản trường ca của rừng già với thanh âm rầm rộ của tiếng nước qua ghềnh thác. Âm hưởng hào hùng đã khiến câu văn miêu tả sông Hương ở vùng thượng lưu đậm đà chất sử thi lãng mạn. Biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa kết hợp với khả năng liên tưởng phong phú đã giúp Hoàng Phủ Ngọc Tường thấy dòng sông như 1 sinh thể có linh hồn có cảm giác có tính cách lúc dữ dội nó tựa như cô gái Digan man dại, phóng khoáng. Rừng già đã hun đúc cho nó 1 bản lĩnh gan dạ, 1 tâm hồn tự do phóng khoáng, lúc êm đềm nó mang sắc đẹp dịu dàng của người mẹ phù sa bồi đắp nuôi dưỡng mảnh đất xứ sở. Hình như bất kì dòng sông nào ở chốn thượng nguồn cũng dữ dội, bạo liệt. Sông Đà của Nguyễn Tuân là một loại thủ quái khổng lồ dữ dội, bạo liệt, xảo trá. Cũng là miêu tả cái dữ dội, mãnh liệt của dòng sông, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường thấy sông Hương đúng là một bản trường ca chứ không phải một bản anh hùng ca như sông Đà của Nguyễn Tuân. Xuôi dòng sông Hương ra khỏi đại ngàn – sông Hương đã khép lại vẻ dữ dội bạo liệt của mình: đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong cái hang đá ở
  10. chân núi Kim Phụng. Kể từ đây sông Hương đã mang 1 vẻ đẹp khác. Sông Hương không còn là 1 cô gái Di gan với tâm hồn tự do, phóng khoáng mà đã trở thành một người đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, đợi người tình nhân của mình đến đánh thức dậy. Chẳng còn đâu nữa những nét vẽ gân guốc, chắc khỏe. Sông Hương hiện ra với những nét vẽ dịu dàng, bay bướm với những đường cong thật mềm, 1 hình cung thật tròn. Cũng chẳng còn sắc màu chói lọi, rực rỡ mà chỉ thấy dòng sông mềm như tấm lụa với màu nước thay đổi theo từng thời điểm trong ngày: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím. Có thể nói qua những sắc màu gợi cảm để sông Hương “bình dị mà không tầm thường”, “trầm mặc mà không ủy mị”, “dịu dàng nhưng vẫn tiềm ẩn khí mạnh của đất đai”. Đẹp nhất, duyên dáng nhất, trữ tình nhất là lúc sông Hương về được với thành phố Huế. Nó như tìm đúng đường về nên vui tươi hẳn lên. Tác giả cảm nhận sông Hương giống như một cố nhân xa xứ, háo hức được trở lại với mảnh đất quê hương xứ sở. “con người” ấy ngắm nhìn thành phố từ xa thấy chiếc cầu trắng in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như vầng trăng non. Tách khỏi Huế sông Hương chỉ là một dòng nước chay vô tri, chảy giữa đôi bờ nhưng gắn với Huế thì cảnh vật nào cũng thanh thoát nhẹ nhàng, dịu dàng như chính giọng nói ngọt ngào của con người nơi đây. Những địa danh: Hòn Chén, Nguyệt Điền. Tuần, vọng Cảnh, Thiên Thai trở nên sống động hơn. Và giáp mặt với thành phố ở cồn Dã Viên, sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến và làm cho dòng sông mềm hẳn đi như 1 tiếng vâng không nói ra của tình yêu. Sông Hương qua những từ tượng hình đã hiện ra thật rõ nét, sống động. Khi rời khỏi kinh thành Huế, sông Hương lưu luyến ra đĩ giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vùng cau ở ngoại ô Vĩ Dạ nhớ lại một điều gì chưa kịp nói nó đột ngột rẽ dòng sang hướng Đông Tây để gặp thành Huế ở thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Tác giả dùng biện pháp nhân hóa để nội tâm hóa dáng hình của dòng sông. Cuộc chia tay của sông Hương với Huế giống cuộc chia li của đôi tình nhân với bao vương vấn và cả một chút lẳng lơ, kín đáo của tình yêu. Nhà văn cũng phát huy sức liên tưởng để thấy sự dùng dằng của sông Hương như nàng Kiều chí tình trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề trước khi về biển cả. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã làm một cuộc hành trình từ thượng nguồn về phía hạ lưu của sông Hương để thấy sông Hương đã vượt qua 1 cuộc hành trình với sự chuyển dòng liên tục. Ông đã thổi hồn mình vào sông Hương để khám phá vóc dáng và tính cách của dòng sông thuộc về thành phố duy nhất này. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã nhìn sông Hương từ góc độ lịch sử. Sông Hương không chỉ là 1 cô gái Digan man dại. Không chỉ là người đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa mà dòng nước sông Hương còn chở trên mình bao biến động thời gian, bao vui buồn nhân thế, bao thăng trầm của thời đại. Sông Hương là chứng nhân của những biến thiên lịch sử, là dòng sông của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc. Nhà văn ví sông Hương viết giữa màu cỏ lá xanh biếc là để nhấn mạnh sự hòa quện giữa chất hùng tráng và chất trữ tình. Sông Hương là 1 bản trường ca và cũng là 1 bản tình ca. Từng nhánh rẽ của dòng sông đến những cây đa, cây dừa cổ thụ cũng hàm ẩn một phần lịch sử. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã ngược về
  11. quá khứ để thấy vai trò của sông Hương trong lịch sử dân tộc. Từ thời đại các vua Hùng, sông Hương là dòng sông biên thùy xa xôi, trong những thế kỉ trung đại với tên gọi Linh Giang nó đã oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc Đại Việt. Sông Hương gắn liền với chiến công của Nguyễn Huệ, sông Hương đẫm máu trong những cuộc khởi nghĩa thế kỉ XX, sông Hương cũng gắn liền với cách mạng tháng Tám. Sông Hương cùng những di sản văn hóa Huế đã oằn mình dưới sự tàn phá của Mĩ trong mùa xuân lịch sử Mậu Thân. Tác giả đã so sánh với các trung tâm văn hóa khác để thấy sông Hương bị hủy diệt 1 cách đau đớn. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thấy sông Hương tự hiến đời mình là 1 chiến công, từng giữ những nhiệm vụ lịch sử vinh quang, lịch sử dân tộc đã ghi bằng nét son. Tên của thành phố Huế, của sông Hương đã cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc. Không thể nói hết niềm tự hào, kiêu hãnh về một dòng sông có cái tên mềm mại, dịu dàng “sông Hương”. Bằng tất cả sự tinh tế của mình Hoàng Phủ Ngọc Tường còn thấy sông Hương hàm chứa trong nó nền văn hóa phi vật thể. Sông Hương chính là dòng sông âm nhạc. Từ âm thanh của dòng sông: tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga rền mặt nước, tiếng mái chèo khua giữa đêm khuya, tiếng nước vỗ vào mạn thuyền đã làm nên những điệu hò dân gian và nền âm nhạc cổ điển Huế. Giữa đời thường, sông Hương là một bản tình ca. Những câu hò xứ Huế vút lên luyến láy bồi hồi xao động: “con nước còn nước còn về còn nhớ”. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn nghe vọng về từ trong sâu thẳm những câu hò của Ưng Bình Thúc Dạ Thị của con người cố đô: Chiều chiều trước bến Thú Văn Lâu Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm? Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông? Thuyền ai thấp thoáng bên sông? Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non. Nếu như các nghệ sĩ khác nhìn sự lặng tờ của sông Hương mà nghĩ tới tâm trạng dùng dằng mong chờ của con người thì Hoàng Phủ Ngọc Tường lại có những liên tưởng riêng, độc đáo. Tác giả thấy dòng nước chùng chình giống như người tài nữ đánh đàn lúc đem khuya. Nghe nhạc Huế mà nghe ban ngày thật là vô duyên bởi nhạc Huế có linh hồn riêng, cốt cách riêng mà hay nhất là được nghe trên sông Hương, giữa mênh mang của sóng nước, giữa tĩnh lặng của màn đêm. Từng lời ca tiếng nhạc thấm sâu vào lòng người để lại những dư vị không nguôi. Trong trí tưởng tượng của Hoàng Phủ Ngọc Tường thì Nguyễn Du đã có những đêm xuôi thuyền trên sông Hương. Ngắm nhìn phiến trăng sầu treo lơ lửng giữa trời trên sông nước êm đềm. Rồi lắng nghe những điệu nhạc dìu dặt từ khoang thuyền để rồi âm hưởng của dòng nhạc cổ điển và những điệu hò dân gian đã ít nhiều để lại dấu vết trong truyền Kiều, trong tiếng đàn ai oán nỉ non, lúc gió thoảng mưa sầu, lúc trong, lúc đục của Kiều, phải chăng có tiếng của âm nhạc cổ điển Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã hóa thân vào 1 nghệ nhân già. Nghe những câu thơ tả tiếng đàn Thúy Kiều chợt nhận ra âm hưởng của nhạc cung đình và bật thốt lên đó chính là Tứ Đại Cảnh. Sông Hương còn là dòng sông thơ. Con sông ấy không bao giờ lặp lại chính mình trong cảm hứng thi ca của những người nghệ si. Mỗi người nghệ sĩ có cách nhìn,
  12. cách cảm riêng về sông Hương. Sông Hương thay hình đổi dạng trong những trang thơ. Bằng những kiến thức phong phú với lối viết đầy chất thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thức dậy một dòng sông, đã gợi cảm hứng sáng tạo cho bao người nghệ sĩ xưa và nay. Đó là những vần thơ biếc xanh của Tản Đà về Huế:Dòng sông trắng, lá cây xanh. Trên văn bản của Hoàng Phủ Ngọc Tường câu thơ của Tản Đà tựa một nét chấm phá gợi cảm khiến dòng sông Hương càng trở nên thơ mộng giữa màu cỏ lá xanh biếc và “dòng sông trắng lá cây xanh” có sự tương giao đồng điệu của những tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm với sắc biếc của thiên nhiên. Đó là một dòng sông Hương như kiếm dựng trời xanh, hùng tráng bất tử trong câu thơ của Cao Bá Quát. Đó là sự tương quan tinh tế giữa sông Hương và không gian xứ Huế trong thơ của Bà huyện Thanh Quan. Nào ai quên được nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đặt sông Hương cạnh những trang Kiều của Nguyễn Du và thực bất ngờ ông lại gợi dòng Hương giang nước trong veo với những phận Kiều đã được Tố Hữu đề cập đầy chất nhân đạo trong những trang thơ từ ấy. Trong giây phút xuất thần thi sĩ Bùi Giáng, người con của Huế đã viết nên những câu thơ để đời: Dạ thưa xứ Huế bây giờ Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương Rõ ràng sông Hương là đặc ân của trời đất dành cho Huế, đó là dòng sông huyền thoại, dòng sông thi ca, dòng sông văn hóa. Nhiều người yêu say đắm sông Hương, say đắm những trang văn trang thơ, những tình khúc viết về xứ Huế, sông Hương. Hoàng Phủ Ngọc Tường khi viết về sông Hương đã thể hiện những nét đặc trưng của thể kí, phản ánh sự thật khách quan và tính xác thực. Đọc Ai đã đặt tên cho dòng sông? Ngỡ như Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhập hồn vào Huế. Với xứ Huế dường như nhà văn hiểu sâu sắc từng cảnh cây ngọn cỏ, tường tận từng tên đất tên làng. Am hiểu sâu sắc về văn hóa Huế, nền âm nhạc cổ điển hay những trang thơ viết về sông Hương. Với sông Hương ông thuộc từng khúc cong, từng dòng nước, chỗ ghềnh thác cuộn xoáy chỗ phẳng lặng như một mặt hồ yên tĩnh. Ông đến với Huế, với phong thái của 1 người du lãng, với phong cách của 1 người nghiên cứu. Bằng những con chữ lóng lánh tài hoa, ông đã góp phần làm nổi rõ bản sắc của dòng sông cũng như thiên nhiên và con người xứ Huế. Ai đã đặt tên cho dòng sông? là những trang bút kí chứa lượng thông tin phong phú, chính xác, cung cấp cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc về dòng sông Hương cũng như con người và văn hóa Huế. Tuy nhiên Hoàng Phủ Ngọc Tường còn đem đến những trang bút kí đậm dấu ấn của tùy bút ở đó, tác giả tùy theo ngọn bút đưa đi từ sự việc này đến sự việc kia. Từ liên tưởng này đến liên tưởng khác để bộc lộ những cảm xúc, những suy nghĩ của mình. Đọc Ai đã đặt tên cho dòng sông ta thấy rõ chất thơ. Chất thơ trong bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường thoát ra từ thiên nhiên cảnh vật, từ tâm hồn con người và từ những huyền thoại mà nhà văn đặt đúng chỗ. Chất thơ thoát ra từ hình ảnh đẹp, từ độ nhòe mờ của hình tượng nghệ thuật, chẳng thể quên được những xóm làng trung du “bát ngát tiếng gà” hay “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của 1 linh hồn mô tê xưa cũ”. Chất thơ của
  13. thiên kí được tác giả điểm xuyết qua ca dao, lời thơ của Tản Đà, Cao Bá Quát hay âm hưởng hoài cổ của thơ bà huyện Thanh Quan hay nhan đề bài kí gợi mãi những âm thanh trầm lắng của dòng sông. Lúc nào cũng trăn trở trước câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Quả thật kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin phong phú. Đây cũng là nét phong cách được định hình của nhà văn tạo nên nét riêng độc đáo. Nhận định trong SGK đã cho ta 1 định hướng trong việc cảm nhận và lĩnh hội tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường là cuộc đi tìm cội nguồn. Một sự phát hiện bề dạy văn hóa, lịch sử của các hình tượng đời sống. Ở đó luôn luôn có sự gặp gỡ giữa những người yêu nước với 1 nghệ sĩ có kiến thức uyên bác. Ông biết khám phá bình diện văn hóa với 1 tư liệu lịch sử phong phú và 1 tâm hồn Huế nồng nàn. Cảm nhận về sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã bộc lộ một cái tôi tài hoa, uyên bác. Raxum Zamatop đã từng nói rằng nếu nhà thơ không tham gia vào việc hoàn thành thế giới thì thế giới đã không được đẹp đẽ như thế này. Bằng những trang viết tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã góp phần tạo một thế giới sông Hương đẹp và thơ. Hành trình của sông Hương từ thượng nguồn ra biển chính là hành trình của đời người , hành trình của tâm hồn xứ Huế, của nền văn hóa Huế. CÁI TÔI TRỮ TÌNH CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG TRONG TUỲ BÚT AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG Văn chương là hành trình đi từ trái tim đến những trái tim qua ngòi bút của người sáng tác. Khi những trang văn khép lại, cái còn đọng lại trong lòng người đọc chính là cái tôi trữ tình của tác giả. Nhắc đến cái tôi trữ tình trong văn học Việt Nam không thể không nhắc Hoàng Phủ Ngọc Tường với bút ký "Ai đã đặt tên cho dòng sông". Cái tôi trữ tình của ông trong bài ký là cái tôi mê đắm lãng mạn, tài hoa, uyên bác và yêu say đắm quê hương, xứ Huế, ghi lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Cái tôi trữ tình là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực Lý luận Văn học, chỉ tâm trạng, cảm xúc, cảm nhận của tác giả. Hay thực chất là thế giới nội tâm, là tâm hồn của riêng tác giả trước hiện thực khách quan. Qua cái tôi trữ tình, người đọc có thể cảm nhận được những suy nghĩ, tư tưởng và quan niệm...của tác giả trước cuộc đời. Cái tôi trữ tình từ đó chính là yếu tố quan trọng góp phần hình thành phong cách nghệ thuật của riêng tác giả. Hoàng Phủ Ngọc Tường là cây bút nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt ở thể kí. Ai đã đặt tên cho dòng sông là tác phẩm tiêu biểu nhất cho phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường nói chung, cho cái tôi trữ tình của ông nói riêng. Qua bài ký, tác giả khéo léo thể hiện cái tôi mê đắm, tài hoa, uyên bác và có tình yêu say đắm quê hương, xứ sở, đặc biệt với Huế và dòng Hương giang. Đến với "Ai đã đặt tên cho dòng sông", trước tiên gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả là cái tôi Hoàng Phủ tài hoa và mê đắm, tinh tế và vô cùng lãng mạn. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dành hết tâm sức, tình cảm và nhiệt huyết văn chương
  14. để say sưa khám phá và miêu tả vẻ đẹp của dòng sông Hương từ góc nhìn địa lý. Ngay từ những câu văn đầu miêu tả thủy trình của dòng sông, nhà văn đã cẩn trọng và kì công đúc kết từng câu từng chữ tinh tế và ngập tràn ưu ái. Ở thượng nguồn, sông Hương hiện lên là "bản trường ca của rừng già", là "cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại", là "người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở". Khi rời núi rừng để về với đồng bằng, nó lại hiện lên giống như "người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại được người tình mong đợi đến đánh thức". Lúc chảy giữa lòng thành phố thân thương, sông Hương lại là "điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế", là "người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya", để rồi trước khi chia tay "người tình mà nó mong đợi" ở "thị trấn Bao Vinh xưa cổ" sông Hương giống như nàng Kiều trở về tìm Kim Trọng để nói một lời thề trước khi đi xa... Tất cả những câu văn miêu tả sông Hương đều đẹp đến lạ lùng. Nó không chỉ miêu tả được vẻ đẹp độc đáo của dòng sông mà còn thể hiện được lối tư duy sắc bén được nuôi dưỡng trong dòng cảm xúc đam mê và cảm hứng nghệ thuật. Cái tôi mê đắm tài hoa của tác giả còn được thể hiện rõ nét qua góc nhìn lịch sử về dòng sông. Trong cái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương là "dòng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc". Những năm tháng chiến tranh ác liệt, nó "biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công". Khi trở về đời thường, nó lại lặng lẽ, khiêm nhường làm "người con gái dịu dàng của đất nước". Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương không chỉ là một dòng chảy địa lý của thiên nhiên, nó từ lâu đã trở thành một sinh thể có tâm trạng, biết yêu nước trong những tháng ngày gian khổ hào hùng của dân tộc. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã tinh tế phát hiện ra những vẻ đẹp vô cùng độc đáo của dòng sông Hương. Cái tôi tài hoa, mê đắm của ông cảm nhận được không chỉ một vẻ thuần nhất của dòng sông mà còn rất nhiều vẻ đẹp phong phú khác. Mỗi vẻ đẹp lại đem đến một cảm nhận riêng cho người đọc. Chỉ riêng việc miêu tả sông Hương đẹp như vẻ đẹp người con gái, tác giả đã sử dụng nhiều cách diễn đạt khác biệt. Khi thì là "cô gái Di - gan phóng khoáng và man dại" khi là "người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya"; ở khúc khác lại "giống như nàng Kiều trong đêm tình tự"; "người con gái dịu dàng của đất nước"... Tài hoa tinh tế trong cách cảm nhận vẻ đẹp sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn vô cùng tài hoa trong việc sử dụng ngôn ngữ và các biện pháp nghệ thuật. Trong bài ký, có bao nhiêu góc nhìn về sông Hương thì có bấy nhiêu kiểu chữ nghĩa được sử dụng. Tiêu biểu như đoạn văn miêu tả sông Hương ở thượng lưu : "rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng". Hay "qua điện Hòn Chén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang tây bắc, vòng qua thềm đất bãi Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ xuôi dần về Huế...". Chúng ta có thể thấy được lối hành văn uyển chuyển với ngôn từ đa dạng và hình ảnh phong phú. Từng từ từng chữ đều mang đậm hơi thở tài hoa của người nghệ sĩ. Đặc biệt, tác giả còn sử dụng thành công nghệ thuật nhân hóa, so sánh, gợi
  15. hình ảnh dòng sông sinh động như con người, lúc "rầm rộ" và "mãnh liệt", lúc "dịu dàng" và "say đắm"; khi lại "vui tươi hẳn lên". Hình ảnh so sánh "đường cong ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng "vâng" không nói ra của tình yêu" hay "chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non" vô cùng ấn tượng và gợi cảm. Trí tưởng tượng phong phú cùng những liên tưởng táo bạo đã giúp tác giả nêu bật những cảm nhận đa dạng về sông Hương. Cuộc hành trình tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi "Ai đã đặt tên cho dòng sông" trở nên đầy say mê và hào hứng. Bên cạnh cái tôi mê đắm tài hoa, người đọc còn cảm nhận được cái tôi uyên bác và giàu tri thức về lịch sử, địa lý, văn hóa Huế. Miêu tả sông Hương, nhà văn dường như thông thuộc từng bước đi, ngã rẽ, dòng chảy. Không chỉ biết chỗ nào cuộn xoáy, chỗ nào yên ả... Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tường tận cả lịch sử của dòng sông. Ngoài tri thức địa lý, lịch sử đã ghi lại, ông thậm chí phát hiện được những điều mà ngay cả người Huế cũng không nghĩ đến. Đó là vai trò quan trọng của Hương giang - "người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở". Người ta có lẽ chỉ nhìn sông Hương qua vẻ bên ngoài của nó mà không biết được nó là khởi nguồn của cả một không gian địa lý và văn hóa Huế. Nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường lại hiểu rõ. Cái tôi uyên bác của nhà văn đã khám phá và phát hiện những đặc điểm văn hóa thú vị của sông Hương. Đó là cái vẻ trầm mặc như triết lí, như cổ thi của con sông khi chảy bên những lăng tẩm đền đài của các đời vua chúa triều Nguyễn; là nền âm nhạc cổ điển đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này. Hay còn là dòng sông thi ca, cội nguồn cảm hứng cho biết bao nghệ sĩ. Đặc biệt là giai thoại tuyệt đẹp về nguồn gốc tên gọi của sông Hương: "Tôi thích nhất một huyền thoại kể rằng vì yêu quý con sông xinh đẹp của quê hương, con người ở hai bờ đã nấu nước của trăm loại hoa đổ xuống dòng sông để làn nước thơm tho mãi mãi". Nếu không có Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhiều người chắc chắn sẽ không bao giờ biết đến giai thoại này. Vì vậy, nó trở thành thông tin vô cùng hấp dẫn trong tác phẩm, nhấn mạnh cái tôi uyên bác của nhà văn. Hoàng Phủ Ngọc Tường nhờ đó đã mang đến cho người đọc nhiều tri thức về sông Hương nói riêng và Huế nói chung. Ai đã đặt tên cho dòng sông ngoài ra còn thể hiện cái tôi trữ tình của nhà văn với tình yêu say đắm và sự gắn bó sâu sắc với quê hương, xứ sở, với Huế và Hương giang. Nếu chỉ là cảm xúc rung động nhất thời trước vẻ đẹp của con sông, của xứ Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường sẽ không thể viết lên được những trang văn mê đắm và rất đỗi tài hoa như thế. Yêu Huế, yêu Hương giang, nhà văn mới có được những rung cảm mãnh liệt, sông Hương không đơn thuần là cảnh đẹp mà còn chiếm trọn tâm hồn ông. Chính con sông đã khiến trái tim ông chảy xuôi vô vàn cung bậc cảm xúc. Khi thì băn khoăn, trăn trở, khi lại nhớ đến nao lòng... Tình cảm đặc biệt ấy hóa thành những dòng chảy trong tâm hồn nhà văn để rồi tạo nên cả cái tôi mê đắm, tài hoa và uyên bác. Bởi vì yêu nên say sưa trong vẻ đẹp của dòng sông, cố gắng tìm hiểu và tinh thông tri thức, dành hết tài hoa để miêu tả thành hình trọn vẹn vẻ đẹp của nó. Hương giang là một phần của Huế, cũng là một dòng chảy trong rất nhiều dòng chảy của non sông. Tình yêu Hoàng Phủ Ngọc
  16. Tường dành cho Hương giang thực ra chính là tình yêu tha thiết, mãnh liệt dành cho đất nước. Xuyên suốt bài kí "Ai đã đặt tên cho dòng sông", Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dẫn dắt người đọc theo dòng cảm chảy ấn tượng. Cái tôi mê đắm, tài hoa, cái tôi uyên bác, tinh tế cùng cái tôi yêu sâu sắc quê hương xứ sở hòa quyện vào nhau kết hợp cùng nghệ thuật ngôn từ và các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc. Từ đó không chỉ vẽ lên bức tranh tuyệt đẹp về dòng sông Hương cùng xứ Huế mộng mơ mà còn thể hiện phong cách nghệ thuật của riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhà văn cùng "Ai đã đặt tên cho dòng sông" bởi vậy đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn học dân tộc. Để rồi thời gian trôi đi, tác giả và tác phẩm vẫn lặng lẽ chảy mãi trong tâm hồn độc giả, giống như dòng chảy Hương giang không bao giờ ngừng lại.