5 Đề ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 12

pdf 19 trang An Diệp 25/06/2026 70
Bạn đang xem tài liệu "5 Đề ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 12", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdf5_de_on_tap_kiem_tra_cuoi_hoc_ki_ii_ngu_van_12.pdf

Nội dung tài liệu: 5 Đề ôn tập kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 12

  1. BẢNG ĐẶC TẢ KĨ THUẬT ĐỀ KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ II MÔN: NGỮ VĂN 12; THỜI GIAN LÀM BÀI: 90 phút TT Nội Đơn vị kiến Mức độ kiến thức, Số câu hỏi theo mức độ Tổng dung thức/ kĩ năng cần kiểm tra, nhận thức kiến Kĩ năng đánh giá Vận thức/ Nhận Thông Vận dụng Kĩ biết hiểu dụng cao năng 1 ĐỌC - Truyện hiện Nhận biết: 2 1 1 0 4 HIỂU đại Việt Nam - Xác định được đề tài, cốt truyện, từ sau Cách chi tiết, sự việc tiêu biểu. mạng tháng - Nhận diện phương thức biểu đạt, Tám năm 1945 ngôi kể, hệ thống nhân vật, biện đến hết thế kỉ pháp nghệ thuật,... của văn bản/đoạn XX; truyện trích. hiện đại nước Thông hiểu: ngoài - Hiểu những đặc sắc về nội dung và (Ngữ liệu nghệ thuật của văn bản/đoạn trích: ngoài sách chủ đề tư tưởng, ý nghĩa của các chi giáo khoa) tiết, sự việc tiêu biểu, ý nghĩa của hình tượng nhân vật, nghệ thuật trần thuật, bút pháp nghệ thuật,... - Hiểu một số đặc điểm của truyện ngắn hiện đại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX, truyện hiện đại nước ngoài được thể hiện trong văn bản/đoạn trích. Vận dụng: - Nhận xét về nội dung và nghệ thuật của văn bản/đoạn trích truyện ngắn hiện đại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX, truyện hiện đại nước ngoài. - Bày tỏ quan điểm của bản thân về vấn đề đặt ra trong văn bản/đoạn trích.
  2. TT Nội Đơn vị kiến Mức độ kiến thức, Số câu hỏi theo mức độ Tổng dung thức/ kĩ năng cần kiểm tra, nhận thức kiến Kĩ năng đánh giá Vận thức/ Nhận Thông Vận dụng Kĩ biết hiểu dụng cao năng - Rút ra thông điệp/bài học cho bản thân. Kịch hiện đại Nhận biết: Việt Nam từ - Nhận diện về nhân vật, hành động sau Cách mạng kịch, xung đột kịch,... trong văn tháng Tám bản/đoạn trích. năm 1945 đến Thông hiểu: hết thế kỉ XX - Hiểu được những đặc sắc về nội (Ngữ liệu dung và nghệ thuật quan của văn ngoài sách bản/đoạn trích: tư tưởng tác giả, giáo khoa) cách tạo mâu thuẫn và xung đột kịch, ngôn ngữ kịch,... - Hiểu được số đặc điểm của kịch hiện đại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX thể hiện trong văn bản/đoạn trích. Vận dụng: - Nhận xét về nội dung và nghệ thuật của văn bản/đoạn trích; bày tỏ quan điểm của bản thân về vấn đề đặt ra trong văn bản/đoạn trích. - Rút ra thông điệp/ bài học cho bản thân. Văn bản nghị Nhận biết: luận hiện đại - Xác định thông tin được nêu trong (Ngữ liệu văn bản/đoạn trích. (Câu 2) ngoài sách - Nhận diện phương thức biểu đạt, giáo khoa) thao tác lập luận, phong cách ngôn ngữ, biện pháp tu từ,... (Câu 1) Thông hiểu:
  3. TT Nội Đơn vị kiến Mức độ kiến thức, Số câu hỏi theo mức độ Tổng dung thức/ kĩ năng cần kiểm tra, nhận thức kiến Kĩ năng đánh giá Vận thức/ Nhận Thông Vận dụng Kĩ biết hiểu dụng cao năng - Hiểu được nội dung của văn bản/đoạn trích. (Câu 3) - Hiểu được cách triển khai lập luận, ngôn ngữ biểu đạt, giá trị các biện pháp tu từ của văn bản/đoạn trích. - Hiểu một số đặc điểm của nghị luận hiện đại. Vận dụng: - Nhận xét về nội dung và nghệ thuật của văn bản/đoạn trích; bày tỏ quan điểm của bản thân về vấn đề đặt ra trong văn bản/đoạn trích. (Câu 4) - Rút ra thông điệp/bài học cho bản thân. 2 VIẾT Nghị luận về tư Nhận biết: 1 * ĐOẠN tưởng, đạo lí - Xác định được tư tưởng đạo lí cần VĂN (Câu 1, Phần bàn luận. NGHỊ Làm văn) - Xác định được cách thức trình bày LUẬN đoạn văn. XÃ Thông hiểu: HỘI - Diễn giải về nội dung, ý nghĩa của (khoảng tư tưởng đạo lí. 150 Vận dụng: chữ) - Vận dụng các kĩ năng dùng từ, viết câu, các phép liên kết, các phương thức biểu đạt, các thao tác lập luận phù hợp để triển khai lập luận, bày tỏ quan điểm của bản thân về tư tưởng đạo lí. Vận dụng cao:
  4. TT Nội Đơn vị kiến Mức độ kiến thức, Số câu hỏi theo mức độ Tổng dung thức/ kĩ năng cần kiểm tra, nhận thức kiến Kĩ năng đánh giá Vận thức/ Nhận Thông Vận dụng Kĩ biết hiểu dụng cao năng - Huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về tư tưởng đạo lí. - Có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh; đoạn văn giàu sức thuyết phục. Nghị luận về Nhận biết: một hiện tượng - Nhận diện hiện tượng đời sống cần đời sống nghị luận. - Xác định được cách thức trình bày đoạn văn. Thông hiểu: - Hiểu được thực trạng/nguyên nhân/ các mặt lợi - hại, đúng - sai của hiện tượng đời sống. Vận dụng: - Vận dụng các kĩ năng dùng từ, viết câu, các phép liên kết, các phương thức biểu đạt, các thao tác lập luận phù hợp để triển khai lập luận, bày tỏ quan điểm của bản thân về hiện tượng đời sống. Vận dụng cao: - Huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về hiện tượng đời sống. - Có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh; đoạn văn giàu sức thuyết phục. 3 VIẾT Nghị luận về Nhận biết: 1 * BÀI một tác phẩm,
  5. TT Nội Đơn vị kiến Mức độ kiến thức, Số câu hỏi theo mức độ Tổng dung thức/ kĩ năng cần kiểm tra, nhận thức kiến Kĩ năng đánh giá Vận thức/ Nhận Thông Vận dụng Kĩ biết hiểu dụng cao năng VĂN một đoạn trích - Xác định kiểu bài nghị luận, vấn NGHỊ văn xuôi: đề cần nghị luận. LUẬN - Vợ chồng A - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. VĂN Phủ (trích) của - Nhớ được cốt truyện, nhân vật; xác HỌC Tô Hoài định được chi tiết, sự việc tiêu - Vợ nhặt của biểu,... Kim Lân Thông hiểu: - Rừng xà nu - Diễn giải về giá trị nội dung, giá trị của Nguyễn nghệ thuật của truyện hiện đại: vấn Trung Thành đề số phận con người, cảm hứng anh - Những đứa hùng ca và cảm hứng thế sự, tình con trong gia yêu quê hương đất nước; nghệ thuật đình của xây dựng nhân vật, nghệ thuật xây Nguyễn Thi dựng tình huống truyện, bút pháp - Chiếc thuyền trần thuật mới mẻ. ngoài xa của - Lí giải một số đặc điểm cơ bản của Nguyễn Minh truyện hiện đại Việt Nam, truyện Châu nước ngoài được thể hiện trong văn - Số phận con bản/đoạn trích. người (trích) Vận dụng: của M.Sô-lô- - Vận dụng các kĩ năng dùng từ, viết khốp câu, các phép liên kết, các phương - Ông già và thức biểu đạt, các thao tác lập luận biển cả (trích) để phân tích, cảm nhận về nội dung, của Ơ.Hê- nghệ thuật của truyện hiện đại Việt minh-uê Nam, truyện hiện đại nước ngoài. (Câu 2, Phần - Nhận xét về nội dung và nghệ thuật Làm văn) của văn bản/đoạn trích; vị trí và đóng góp của tác giả. Vận dụng cao: - So sánh với các tác phẩm khác, liên hệ với thực tiễn; vận dụng kiến
  6. TT Nội Đơn vị kiến Mức độ kiến thức, Số câu hỏi theo mức độ Tổng dung thức/ kĩ năng cần kiểm tra, nhận thức kiến Kĩ năng đánh giá Vận thức/ Nhận Thông Vận dụng Kĩ biết hiểu dụng cao năng thức lí luận văn học để đánh giá, làm nổi bật vấn đề nghị luận. - Có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh; bài văn giàu sức thuyết phục. Nghị luận về Nhận biết: một tác phẩm, - Xác định được kiểu bài nghị luận; một đoạn trích vấn đề cần nghị luận. kịch: Hồn - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. Trương Ba, da - Nhận diện nhân vật, hành động hàng thịt kịch, xung đột kịch,... trong đoạn (trích) của Lưu trích. Quang Vũ Thông hiểu: - Diễn giải về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt: sự chiến thắng của lương tâm, đạo đức đối với bản năng; đặc sắc trong ngôn ngữ đối thoại, xung đột, ngôn ngữ,... - Lí giải một số đặc điểm cơ bản của kịch hiện đại Việt Nam, được thể hiện trong đoạn trích. Vận dụng: - Vận dụng các kĩ năng dùng từ, viết câu, các phép liên kết, các phương thức biểu đạt, các thao tác lập luận để thể hiện cảm nhận về nội dung, nghệ thuật của kịch hiện đại. - Nhận xét về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích; vị trí và đóng góp của tác giả.
  7. TT Nội Đơn vị kiến Mức độ kiến thức, Số câu hỏi theo mức độ Tổng dung thức/ kĩ năng cần kiểm tra, nhận thức kiến Kĩ năng đánh giá Vận thức/ Nhận Thông Vận dụng Kĩ biết hiểu dụng cao năng Vận dụng cao: - So sánh với các tác phẩm khác, liên hệ với thực tiễn; vận dụng kiến thức lí luận văn học để đánh giá, làm nổi bật vấn đề nghị luận. - Có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh; bài văn giàu sức thuyết phục. Tổng 6 Tỉ lệ % 40 30 20 10 100 Tỉ lệ chung 70 30 100 --------------------------------------------------------------------------- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ II NĂM HỌC 2020 - 2021 ĐỀ MINH HỌA Môn: Ngữ văn, lớp 12 Thời gian làm bài: 90 phút, không tính thời gian phát đề Họ và tên học sinh: ... Mã số học sinh: I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Cách nhìn và ý chí của từng người dẫn đến các ứng xử khác nhau trước sai lầm. Với người này, sai lầm để lại những bài học bổ ích, những kinh nghiệm quý giá. Với người khác, sai lầm lại trở thành vỏ ốc để họ thu mình trong đó, không dám mạo hiểm lần nữa. Hãy biết chấp nhận sai lầm như một động lực để bạn tiếp tục phấn đấu [...]. [...] Con người thường mắc phải một trong hai loại sai lầm sau đây: một loại sai lầm do thiếu hiểu biết và một loại sai lầm do bất cẩn. Trong khi những sai lầm do thiếu hiểu biết có thể khắc phục bằng quyết tâm học hỏi không ngừng thì sai lầm do bất cẩn thường khiến con người trở nên yếu đuối và nhu nhược. Những người thường xuyên mắc phải loại
  8. sai lầm này luôn phải đối diện với thất bại vì họ đã lãng phí bầu nhiệt huyết và nguồn năng lượng của mình. Một trong những điều tốt đẹp mà bạn có thể làm mỗi ngày là hãy nỗ lực hết mình, và không sợ phạm sai lầm. Đừng chối bỏ, cũng đừng thất vọng nếu bạn mắc phải một sai lầm nào đó. (Trích Không gì là không thể - George Matthew Adams, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr. 119 - 120) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2. Theo đoạn trích, con người thường mắc phải những sai lầm nào? Câu 3. Chỉ ra mối quan hệ giữa cách nhìn và ý chí với cách ứng xử trước sai lầm của con người được đề cập trong đoạn trích. Câu 4. Lời khuyên Hãy biết chấp nhận sai lầm như một động lực để bạn tiếp tục phấn đấu trong đoạn trích có ý nghĩa gì với anh/chị? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải sống là chính mình. Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài được nhà văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích sau: Người đàn bà dường như lúc này mới cảm thấy đau đớn - vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã. - Phác, con ơi! Miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy. Thằng nhỏ đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt, và cái thằng nhỏ, lặng lẽ đưa mấy ngón tay khẽ sờ trên khuôn mặt người mẹ, như muốn lau đi những giọt nước mắt chứa đầy trong những nốt rỗ chằng chịt. Thế rồi bất ngờ người đàn bà buông đứa trẻ ra, đi thật nhanh ra khỏi bãi xe tăng hỏng, đuổi theo lão đàn ông. Cả hai người lại trở về chiếc thuyền. (Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 72 - 73) ......................Hết.......................
  9. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KIỂM TRA CUỐI KÌ II NĂM HỌC 2020 - 2021 ĐỀ MINH HỌA ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM Môn: Ngữ văn, lớp 12 (Đáp án và hướng dẫn chấm gồm .... trang) Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 3,0 1 Phương thức biểu đạt chính: nghị luận. 0,75 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời chính xác như đáp án: 0,75 điểm. - Học sinh không trả lời đúng phương thức “nghị luận”: không cho điểm 2 Theo đoạn trích, con người thường mắc những sai lầm: 0,75 - Sai lầm do thiếu hiểu biết. - Sai lầm do bất cẩn. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời được 2 ý : 0,75 điểm. - Học sinh trả lời được 1 ý : 0,5 điểm. Nếu học sinh trích dẫn nguyên câu văn “Con người thường mắc phải một trong hai loại sai lầm sau đây: một loại sai lầm do thiếu hiểu biết và một loại sai lầm do bất cẩn” vẫn cho: 0,75 điểm. 3 Mối quan hệ giữa cách nhìn và ý chí với cách ứng xử trước sai lầm 1,0 của con người: - Cách nhìn tích cực và ý chí mạnh mẽ sẽ ứng xử: xem sai lầm là những bài học bổ ích, những kinh nghiệm quý giá. - Cách nhìn tiêu cực và ý chí yếu đuối: xem sai lầm lại trở thành vỏ ốc để thu mình trong đó, không dám mạo hiểm lần nữa. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời được 2 ý : 0,5 điểm. - Học sinh trả lời được 1 ý : 0,5 điểm. 4 Ý nghĩa của lời khuyên Hãy biết chấp nhận sai lầm như một động 0,5 lực để bạn tiếp tục phấn đấu. Học sinh rút ra ý nghĩa khác nhau cho bản thân, có thể theo hướng: Khi biết chấp nhận sai lầm, con người rút ra được bài học kinh nghiệm, có thêm nghị lực, phấn đấu hoàn thiện bản thân. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trình bày thuyết phục: 0,5 điểm.
  10. - Học sinh trình bày chưa thuyết phục: 0,25 điểm. II LÀM VĂN 7,0 1 Trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết phải sống là 2,0 chính mình. a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn 0,25 Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,25 Sự cần thiết phải sống là chính mình. c. Triển khai vấn đề nghị luận 0,75 Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết phải sống là chính mình. Có thể theo hướng sau: Sống là chính mình giúp mỗi người chủ động khẳng định năng lực; vươn lên hoàn thiện bản thân, đóng góp cho xã hội. Hướng dẫn chấm: - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữ lí lẽ và dẫn chứng (0,75 điểm). - Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu (0,5 điểm). - Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không phù hợp (0,25 điểm). Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. d. Chính tả, ngữ pháp 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: - Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. e. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: Học sinh huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về tư tưởng, đạo lí; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh.
  11. - Đáp ứng được 2 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm. - Đáp ứng được 1 yêu cầu: 0,25 điểm. 2 Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà 5,0 hàng chài được nhà văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích. a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,5 Tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài được nhà văn Nguyễn Minh Châu thể hiện trong đoạn trích. Hướng dẫn chấm: - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu tác giả (0,25 điểm), tác phẩm và đoạn trích (0,25 0,5 điểm) * Phân tích tâm trạng và hành động nhân vật người đàn bà hàng 2,5 chài - Hoàn cảnh: người đàn bà hàng chài bị chồng bạo hành. - Tâm trạng và hành động + Tâm trạng: đau đớn về thể xác và tinh thần; xấu hổ, nhục nhã với đứa con. + Hành động: ôm con, chắp tay vái lạy con thể hiện tình thương yêu con, lo sợ đứa con làm điều có lỗi với bố; buông con ra đi theo chồng thể hiện sự chấp nhận số phận. - Nghệ thuật: miêu tả tâm trạng và hành động nhân vật bằng ngôn ngữ tự nhiên, sinh động, giàu tính biểu cảm, giọng điệu cảm thương,... Hướng dẫn chấm: - Học sinh phân tích đầy đủ, sâu sắc: 2,5 điểm. - Học sinh phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu sắc: 1,75 điểm - 2,25 điểm.
  12. - Học sinh phân tích chung chung, chưa rõ các biểu hiện: 1,0 điểm - 1,5 điểm. - Học sinh phân tích sơ lược, không rõ các biểu hiện: 0,25 điểm - 0,75 điểm. * Đánh giá 0,5 - Tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài góp phần làm nên giá trị nhân đạo của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa. - Tâm trạng và hành động của nhân vật người đàn bà hàng chài góp phần thể hiện phong cách nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trình bày được 2 ý: 0,5 điểm. - Học sinh trình bày được 1 ý: 0,25 điểm. ------------------------------------------------------- ĐỀ LUYỆN TẬP ĐỀ 1 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn văn bản sau: Xe tôi chạy trên lớp sương bềnh bồng. Mảnh trăng khuyết đứng yên ở cuối trời, sáng trong như một mảnh bạc. Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng. Không hiểu sao, lúc ấy, như có một niềm tin vô cớ mà chắc chắn từ trong không gian ùa tới tràn ngập cả lòng tôi. Tôi tin chắc người con gái đang ngồi cạnh mình là Nguyệt, chính người mà chị tôi thường nhắc đến. Chốc chốc tôi lại đưa mắt liếc về phía Nguyệt, thấy từng sợi tóc của Nguyệt đều sáng lên. Mái tóc thơm ngát, dày và trẻ trung làm sao! Bất ngờ, Nguyệt quay về phía tôi và hỏi một câu gì đó. Tôi không kịp nghe rõ vì đôi mắt tôi đã choáng ngợp như vừa trông vào ảo ảnh. Trăng sáng soi thẳng vào khuôn mặt Nguyệt, làm cho khuôn mặt tươi mát ngời lên và đẹp lạ thường! Tôi vội nhìn thẳng vào đoạn đường đầy ổ gà, không dám nhìn Nguyệt lâu. Từng khúc đường trước mặt cũng thếp từng mảng ánh trăng... (Trích Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu, NXBVH, Hà Nội, 2003, tr 54-55) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1: Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2: Vẻ đẹp thiên nhiên trong đoạn trích được tác giả miêu tả qua những hình ảnh nào? Câu 3: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: “Mảnh trăng khuyết đứng yên ở cuối trời, sáng trong như một mảnh bạc.” Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét về nghệ thuật miêu tả nhân vật Nguyệt trong đoạn trích.
  13. II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ văn bản đọc hiểu Anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của những suy nghĩ tích cực đối với mỗi người trong cuộc sống. Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích vẻ đẹp nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích sau: [ ] - Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông... - Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, - bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát, - trên thuyền phải có một người đàn ông... dù hắn man rợ, tàn bạo? - Phải - Người đàn bà đáp - Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú? Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp: - Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! - Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên như một nụ cười - vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ. - Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? - Đột nhiên tôi hỏi. - Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no (Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2011, tr.76) I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: Khổ có thể giúp một người trưởng thành Trứng gà bị vỡ do tác động từ bên ngoài là đồ ăn, bị vỡ do tác động từ bên trong thì chính là sinh mệnh. Cuộc sống cũng vậy, làm vỡ từ bên ngoài là áp lực, làm vỡ từ bên trong chính là trưởng thành. Nếu bạn chờ người khác làm vỡ bạn từ bên ngoài, thì nhất định bạn sẽ là món ăn của người khác; nếu bạn có thể đánh vỡ chính mình từ bên trong, như vậy bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự trưởng thành, cũng giống như là được tái sinh. Nhìn thấy một con bướm đang giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái kén, có người hảo tâm giúp nó thoát ra. Nhưng không ngờ rằng, sau khi con bướm thoát ra ngoài, nó lại không thể duỗi đôi cánh ra được, và cuối cùng thiệt mạng. Giãy giụa chính là điều con bướm cần làm để trưởng thành, lúc đó bạn giúp nó thoải mái, nhưng sau này nó sẽ không có đủ sức mạnh để đối mặt với những thử thách sẽ phải gặp trong cuộc đời ( 05. hoc-cach- truong-thanh-chua-bao-gio-la-muon.html-St) Thực hiện các yêu cầu:
  14. Câu 1. Hình ảnh trứng gà, con bướm và cái kén xuất hiện trong văn bản có tác dụng gì? Câu 2. Nếu anh/chị muốn hóa thân thành con bướm thì anh/chị phải làm gì để con bướm không bị thiệt mạng? Câu 3. Nêu suy nghĩ của anh/chị về quan điểm: Giãy giụa chính là điều con bướm cần làm để trưởng thành. Câu 4. Thông điệp cuộc sống được rút ra từ văn bản trên. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1(2,0 điểm) Viết 01 đoạn văn (khoảng 150 chữ) để trả lời câu hỏi: Tuổi trẻ cần làm gì để đối mặt với những thử thách? ĐỀ 2 Câu 2. (5,0 điểm) Phân tích quá trình nhận thức của nhân vật Phùng trong đoạn trích sau: Có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh "đắt" trời cho như vậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào. Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Chẳng phải lựa chọn xê dịch gì nữa, tôi gác máy lên bánh xích của chiếc xe tăng hỏng bấm "liên thanh" một hồi hết một phần tư cuốn phim, thu vào chiếc Pratica cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại. [ ] Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: "Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!". Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy. Tất cả mọi việc xảy đến khiến tôi kinh ngạc đến mức, trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn. Thế rồi chẳng biết từ bao giờ, tôi đã vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới. (Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu,
  15. Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 70-72) ĐỀ 3 PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Ba mươi tám người đã đi ra khỏi làng Hà-ro rồi. Hàng rào của Pháp, Núp đã cắt từ khi nào. Họ nhìn lên trời cao. Một cái ngôi sao ở xa lắm đang tụt dần xuống một đỉnh núi: đó là đỉnh núi Chư-lây. Ở chân núi đó có con suối Kông Hoa, có tiếng con nít mới đẻ khóc oe oe. Ở đó có làng Kông Hoa nghèo khổ, đốt đi làm lại không biết mấy lần rồi; nhưng cũng ở đó mới có vui, mới có tiếng đàn tơ rưng của Ghíp, tiếng kèn đing năm hoà lẫn với tiếng phụ nữ hát ở rẫy. Ở đó người làng biết thương yêu nhau, đùm bọc nhau; ở đó có rẫy lúa chín do anh Núp bày làm trước mùa bây giờ tươi tốt không biết bao nhiêu. Ở đó bây giờ kham khổ, nhưng nhất định anh Cầm, bộ đội sẽ lên, sẽ sung sướng hơn bây giờ nhiều lắm. Năm năm chịu khổ đánh giặc, Kông Hoa mới được như vậy đó. Có đi sống tập trung gần một tháng ở Hà-ro, mới so sánh được như thế, mới thấy được như thế. [ ] Tảng sáng hôm sau, gặp năm mươi người của bok Pa dẫn ra đón. Mừng quá, chỉ biết ôm nhau, rồi thả ra, giục nhau: - Thôi, đi mau lên, đi mau lên, về tới làng hãy nói chuyện Bok Sring và Xíp dẫn lũ làng đi về trước. Bok Pa, Núp, Ghíp, một số thanh niên ở lại sau, cắm chông đầy tất cả các đường đi về làng Kông Hoa. Đến trưa, súng nổ, Pháp đuổi theo, sáu thằng bị chông. Chúng phải kéo nhau về Làng Kông Hoa lại đủ mặt chín mươi người. Đêm nay Núp bàn với bok Pa phải chuyển làng lần nữa. Chống với Pháp còn lâu còn dài. Xíp hỏi: - Đánh Pháp đến khi nào mới thôi? Núp nói: - Đánh đến khi hơn Pháp, hết Pháp ở đất nước mình mới thôi. Đánh đời mình chưa xong, thì đánh đến đời con, đời cháu mình nữa. (Trích tiểu thuyết Đất nước đứng lên, Nguyên Ngọc, NXB Hồng Bàng, 2018) Chú thích: - Núp: Anh hùng Quân đội Đinh Núp, người Ba- na, rất nổi tiếng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. - Bok: bác (từ xưng hô của một số dân tộc Tây Nguyên). Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2. Nêu nội dung chính của đoạn trích. Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong các câu văn sau: “Ở chân núi đó có con suối Kông Hoa, có tiếng con nít mới đẻ khóc oe oe. Ở đó có làng Kông Hoa nghèo khổ, đốt đi làm lại không biết mấy lần rồi; nhưng cũng ở đó mới có vui, mới có tiếng đàn tơ-rưng của Ghíp, tiếng kèn đing-nam hoà lẫn với tiếng phụ nữ hát ở rẫy. Ở đó người làng biết thương yêu nhau, đùm bọc nhau; ở đó có rẫy lúa chín do anh Núp bày làm trước mùa bây giờ tươi tốt không biết bao nhiêu.”
  16. Câu 4. Câu nói của nhân vật Núp ở cuối đoạn trích “Đánh đến khi hơn Pháp, hết Pháp ở đất nước mình mới thôi. Đánh đời mình chưa xong, thì đánh đến đời con, đời cháu mình nữa” gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) bày tỏ suy nghĩ của bản thân về sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc. Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận về tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy và tâm trạng của nhân vật Phùng trong đoạn trích sau: “Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông.” (Trích “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu, SGK Ngữ văn 12 tập 2, NXBGD năm 2019, tr.77-78) ĐỀ 4 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc văn bản: Chúng ta đang sống trong một thế giới bị sự dễ dàng cám dỗ. Ta muốn vẻ bề ngoài khỏe mạnh và cân đối, nhưng lại không muốn phải tập luyện để đạt được nó. Ta muốn thành công trong sự nghiệp nhưng tự nhủ giá như có một cách nào đó để thành công mà không phải làm việc vất vả và tuân theo kỷ luật (mọi nhà điều hành vĩ đại cũng như các công ty lớn đều rất kỷ luật). Ta ước mơ một cuộc đời tràn đầy niềm vui, không nỗi sợ, nhưng lại thường xuyên tránh né các biện pháp hiệu quả nhất (như dậy sớm, chấp nhận rủi ro, lập mục tiêu, đọc sách ), những điều chắc chắn sẽ đưa ta đến lý tưởng của mình. Chẳng có gì miễn phí. Chẳng có buổi tiệc nào thực sự là buổi chiêu đãi. Điều tốt đẹp trong đời luôn đòi hỏi hy sinh và tận hiến. Mỗi chúng ta, để đạt tới một con người duy nhất và vượt trội trong nghề nghiệp, đều phải trả giá. Càng trả giá nhiều, càng nhận nhiều. Mong muốn một cuộc đời tốt đẹp, ở nhà cũng như ở công sở, mà không phải làm việc và giữ kỷ luật trong những việc quan trọng cần làm, thì chẳng khác nào mong muốn có một khu vườn đẹp mà chẳng phải gieo trồng gì cả. Hoặc giống như ước mơ có được thân hình người mẫu mà không chịu từ bỏ những thỏi chocolate hàng ngày. Hoặc giống như cầu xin được thành công trong công việc bằng cách uống một viên thuốc thần kỳ. Tại sao không tận tâm và cống hiến? ( Trích điều 81, Tận tâm, Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma, NXB Trẻ, tr 179 ) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. Câu 2. Trong văn bản, tác giả đã nêu những mong muốn, ước mơ nào của chúng ta ?
  17. Câu 3. Vì sao tác giả lại cho rằng “ Mong muốn một cuộc đời tốt đẹp , ở nhà cũng như ở công sở , mà không phải làm việc và giữ kỉ luật trong những việc quan trọng cần làm, thì chẳng khác nào mong muốn có một khu vườn đẹp mà chẳng phải gieo trồng gì cả.” Câu 4. Anh/ chị tâm đắc với bài học nào được rút ra từ văn bản ? Vì sao ? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết đoạn nghị luận ( khoảng 150 chữ ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải có tính kỉ luật trong công việc và cuộc sống . Câu 2. (5,0 điểm) Hồn Trương Ba: Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn... Xác hàng thịt: Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn! Hồn Trương Ba: (bịt tai lại) Ta không muốn nghe mày nữa! Xác hàng thịt: (lắc đầu) Ông cứ việc bịt tai lại! Chẳng có cách nào chối bỏ tôi được đâu! Mà đáng lẽ ông phải cảm ơn tôi. Tôi đã cho ông sức mạnh. Ông có nhớ hôm ông tát thằng con ông toé máu mồm máu mũi không? Cơn giận của ông lại có thêm sức mạnh của tôi... Ha ha! Hồn Trương Ba: Ta cần gì đến cái sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo. Xác hàng thịt: Nhưng tôi là cái hoàn cảnh mà ông buộc phải quy phục! Đâu phải lỗi tại tôi... (buồn rầu) Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng chứ! Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn. Nhờ tôi mà ông có thể làm lụng, cuốc xới. Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân... Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi... Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông là hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác... Mỗi bữa tôi đòi ăn tám, chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ! Hồn Trương Ba: Nhưng... Nhưng... Xác hàng thịt: Hãy công bằng hơn, ông Trương Ba ạ! Từ nãy tới giờ chỉ có ông nặng lời với tôi, chứ tôi thì vẫn nhã nhặn với ông đấy chứ. (thì thầm) Tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn... Hồn Trương Ba: Chiều chuộng? Xác hàng thịt: Chứ sao? Tôi thông cảm với những “trò chơi tâm hồn của ông”. Nghĩa là: Những lúc một mình một bóng, ông cứ việc nghĩ rằng ông có một tâm hồn bên trong cao khiết, chẳng qua vì hoàn cảnh, vì để sống mà ông phải nhân nhượng tôi. Làm xong điều xấu gì ông cứ việc đổ tội cho tôi, để ông được thanh thản. Tôi biết: Cần phải để cho tính tự ái của ông được ve vuốt. Tâm hồn là thứ lắm sĩ diện! Hà hà, miễn là... ông vẫn làm đủ mọi việc để thoả mãn những thèm khát của tôi! Hồn Trương Ba: Lí lẽ của anh thật ti tiện! Xác hàng thịt: Ấy đấy, ông bắt đầu gọi tôi là anh rồi đấy! Có phải lí lẽ của tôi đâu, tôi chỉ nhắc lại những điều ông vẫn tự nói với mình và với người khác đấy chứ! Đã bảo chúng ta tuy hai mà một!
  18. Hồn Trương Ba: (như tuyệt vọng) Trời! Xác hàng thịt: (an ủi) Ông đừng nên tự dằn vặt làm gì! Tôi đâu muốn làm khổ ông, bởi tôi cũng rất cần đến ông. Thôi, đừng cãi cọ nhau nữa! Chẳng còn cách nào khác đâu! Phải sống hoà thuận với nhau thôi! Cái hồn vía ương bướng của tôi ơi, hãy về với tôi này! (Hồn Trương Ba bần thần nhập lại vào xác hàng thịt.) (Trích cảnh VII, vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”- Lưu Quang Vũ, SGK Ngữ Văn 12, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2020) Anh/Chị hãy phân tích bi kịch của nhân vật Trương Ba trong đoạn thoại trên. ĐỀ 5 I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: (1) Lòng tự tin thực sự không bắt đầu bởi những gì người khác có thể nhận ra như gia thế, tài năng, dung mạo, bằng cấp, tiền bạc, quần áo, mà nó bắt đầu từ bên trong bạn, từ sự BIẾT MÌNH. Biết mình có nghĩa là biết điều này: Dù bạn là ai thì bạn cũng luôn có sẵn trong mình những giá trị nhất định. (2) Hơn thế nữa, nếu bạn thực sự tự tin, bạn cũng sẽ biết tôn trọng người khác. Bởi nếu bạn đã hiểu được giá trị của bản thân mình, chắc chắn bạn sẽ hiểu được giá trị của mỗi người bạn gặp. Bạn sẽ nhìn thấy sự giống nhau giữa một ca sĩ nổi tiếng và một người quét rác vô danh, giữa một danh nhân xuất khẩu hàng nghìn tấn thuỷ sản đi nước ngoài và một bà cụ bán cá tươi trong chợ. Bạn sẽ trân trọng những người đó như nhau. (3) Bản thân mỗi chúng ta là giá trị có sẵn. Nếu bạn muốn có một cơ sở để xây dựng lòng tự tin thì hãy bắt đầu từ đó. “TỪ CHÍNH BẢN THÂN MÌNH”. (Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, NXB Hội Nhà văn, 2012, tr. 45) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn (2). Câu 2. Theo tác giả, lòng tự tin bắt nguồn từ đâu? Câu 3. Theo anh/chị, “tự biết mình” là biết những gì về bản thân? Câu 4. Anh/chị có đồng tình với ý kiến: “Nếu bạn muốn có một cơ sở để xây dựng lòng tự tin thì hãy bắt đầu từ đó. “TỪ CHÍNH BẢN THÂN MÌNH” không? Vì sao? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày cách rèn luyện bản thân để trở nên tự tin. Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận về thông điệp được tác giả gửi gắm trong đoạn trích sau: Vườn cây rung rinh ánh sáng. Ở một góc nhà đó, hiện lên cảnh tượng cu Tị đang ôm chầm lấy mẹ, chị Lụa cuống quýt vuốt ve con. Bà vợ Trương Ba xuất hiện ở phía trước sân khấu. Vợ Trương Ba: Ông ở đâu? Ông ở đâu? (Giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập chờn xuất hiện).
  19. Trương Ba: Tôi ở đây bà ạ. Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ... Không phải mượn thân xác ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu. (Dưới một gốc cây, hiện lên cu Tị và cái Gái). Cái Gái: (Tay cầm một trái na) Cây na này, ông nội tớ trồng đấy. Quả to mà ngon lắm. Ta ăn chung nhé! (Bẻ quả na đưa cho cu Tị một nửa. Đôi trẻ ăn ngon lành. Cái Gái lấy những hạt na vùi xuống đất). Cu Tị: Cậu làm gì thế? Cái Gái: Cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi... (Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục, tr.153) ----------------Hết-----------------