Đề thi thử Ngữ văn 12 (Lần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Yên Dũng số 3
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử Ngữ văn 12 (Lần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Yên Dũng số 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_thu_ngu_van_12_lan_2_nam_hoc_2024_2025_truong_thpt_ye.docx
Nội dung tài liệu: Đề thi thử Ngữ văn 12 (Lần 2) - Năm học 2024-2025 - Trường THPT Yên Dũng số 3
- SỞ GD&ĐT BẮC GIANG ĐỀ THI THỬ LẦN 2 TRƯỜNG THPT YÊN DŨNG SỐ 3 Năm học: 2024-2025 (Đề gồm: 02 trang) Môn: NGỮ VĂN 12 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) Họ và tên học sinh: .. , Số báo danh: I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn trích: (1) Toàn cầu hoá đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, giúp các dân tộc, quốc gia xích lại gần nhau để hợp tác, trao đổi, giao lưu, học hỏi, cùng nhau phát triển. (2) Tuy nhiên, phát triển trong bối cảnh quốc tế mới với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, văn hoá dân tộc cũng chịu những tác động trái chiều, rõ nhất là mặt trái của quá trình toàn cầu hoá, kinh tế thị trường và sự lấn át của các phương tiện truyền thông mới, Internet, mạng xã hội. Biên cương văn hoá tư tưởng của quốc gia cũng chịu nhiều thách thức trước sự xâm lấn của các nền tảng xuyên biên giới. (3) Từ thực tiễn cho thấy trong quá trình toàn cầu hóa, nhất là với lĩnh vực văn hóa, nếu không có bộ lọc đủ mạnh, thiếu bản lĩnh và tính sáng tạo sẽ nguy cơ dẫn tới tiếp thu một cách thụ động, vội vã, ồ ạt. Từ đó rất dễ dẫn đến tình trạng nguồn lực, sức mạnh nội sinh trong nước bị những yếu tố ngoại sinh lấn át, chi phối; từ đó làm triệt tiêu tính đa dạng văn hoá dân tộc, tự đánh mất bản sắc, cội rễ và truyền thống văn hóa của dân tộc mình. Không thể phủ nhận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là bước phát triển nhảy vọt của văn minh nhân loại, mở ra những không gian mới, mang lại những loại hình dịch vụ, giải trí tiện lợi cho con người, hướng tới sự phát triển toàn diện. (4) Tuy nhiên, mặt trái của những sản phẩm công nghệ đã và đang chi phối không nhỏ đến nhận thức, hành động của con người cũng như sự vận động, phát triển của nền văn hoá. Đã có những thanh, thiếu niên ban đầu tò mò, thích khám phá công nghệ để rồi dần dần bị lệ thuộc, nghiện Internet và mải mê trong thế giới ảo, làm mất đi những mối quan hệ, giao tiếp đời thường, tính đoàn kết, chia sẻ mờ dần, nhiều người rơi vào trạng thái cô đơn, trầm cảm, chối bỏ những giao tiếp trực tiếp của cuộc sống hiện thực. Không ít thanh, thiếu niên bị các đối tượng xấu dụ dỗ, sa vào tệ nạn xã hội, dẫn đến những hành vi ứng xử lệch lạc, để lại những hậu quả tai hại cho bản thân, gia đình và xã hội. (5) Cần nhận thức rằng việc tiếp thu văn hoá thế giới phải có sự chọn lọc trên cơ sở các giá trị truyền thống, bản lĩnh văn hóa dân tộc. Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc. Công tác quảng bá, lan toả hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế cần được đẩy mạnh. (Nguyễn Huy Phòng, Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, dẫn theo nhandan.vn, 25-07-2023) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Nêu tác động của quá trình toàn cầu hóa đối với văn hóa dân tộc được thể hiện trong đoạn (2). Câu 2. Chỉ ra hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn trích. Câu 3. Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu văn sau: Phải tạo sức đề kháng văn hoá với những bộ lọc, vách ngăn cần thiết để đẩy lùi và chống lại sự xâm lấn của những trào lưu phản văn hoá, các luồng tư tưởng có nội dung xấu độc. Câu 4. Nhận xét về mục đích của người viết khi chỉ ra sự chi phối của mặt trái của những sản phẩm công nghệ đến con người và văn hóa ở đoạn (4). Câu 5. Trình bày quan điểm của anh/chị về ý kiến của người viết: Cần nhận thức rằng việc tiếp thu văn hoá thế giới phải có sự chọn lọc trên cơ sở các giá trị truyền thống, bản lĩnh văn hóa dân tộc. (Trình bày 5-7 dòng).
- II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc – hiểu, hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kì hội nhập quốc tế ngày nay. Câu 2 (4,0 điểm) Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau: Đoạn thơ thứ nhất: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người. Nắng mưa là bệnh của giời, Tương tư(1) là bệnh của tôi yêu nàng. (Trích Tương tư (2), Nguyễn Bính, in trong Nguyễn Bính, Thâm Tâm, NXB Văn nghệ Thành phố HCM, 1996, tr. 20) Đoạn thơ thứ hai: Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng(3) Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương. (Trích Tiếng hát con tàu(4), Chế Lan Viên, in trong Ánh sáng và phù sa, NXB Văn học, Hà Nội, 1960, tr.31) Chú thích: (1) Tương tư: Nỗi nhớ mong của trai gái khi yêu nhau; có khi được dùng để diễn tả nỗi nhớ đơn phương. (2) Nguyễn Bính (1918-1966) là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1941), được coi là Thi sĩ của đồng quê. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng, mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bính đã đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha. Bài thơ Tương tư được rút trong tập Lỡ bước sang ngang (1940), rất tiêu biểu cho phong cách thơ chân quê của Nguyễn Bính. (3) Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng được hiểu theo nhiều cách. Theo nhiều tài liệu: Cánh kiến còn được gọi là An Tức Hương được điều chế từ nhựa cây bồ đề do con bọ cánh kiến tiết ra dịch thể quánh sệt theo các tuyến bao quanh khắp mình có màu vàng lấm tấm như điểm hoa, người ta gọi đó là “cánh kiến hoa vàng”, cánh kiến có mùi thơm giống như mật ong rừng. Từ những kiến thức khoa học đó, các nhà phê bình văn học đã phát triển ý thơ thành: Đó là tình yêu thơm như cánh kiến, rực rỡ như hoa vàng hay tình yêu khăng khít bền chặt như cánh kiến và thơ mộng như hoa vàng hoặc là tình yêu đã trải qua tháng năm thử thách để đạt đến độ chín cần thiết (Theo sách Tìm hiểu tác giả - tác phẩm, NXB Giáo dục năm 2007). (4) Chế Lan Viên (1920-1989) là một nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Thơ Chế Lan Viên giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo. Bài thơ Tiếng hát con tàu in trong tập Ánh sáng và phù sa (1960), được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế- chính trị, xã hội: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc vào những năm 1958-1960. Hết .. (Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.)

